Bài đăng Tạp chí Luật học số 8/2013

CHÍNH SÁCH,  PHÁP LUẬT MÔI TRƯỜNG BẢO ĐẢM PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG Ở VIỆT NAM TRONG VĂN KIỆN ĐẠI HỘI ĐẢNG XI

                                                                   ThS. Bùi Đức Hiển

                                                          Viện Nhà nước và Pháp luật

1. Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ XI bàn về phát triển bàn vững ở Việt Nam

Tư tưởng về phát triển bền vững đã có từ rất sớm trong lịch sử nhân loại. Mặc dù vậy thuật ngữ “phát triển bền vững” mới chính thức xuất hiện lần đầu tiên vào năm 1980 trong ấn phẩm Chiến lược bảo tồn Thế giới, của Hiệp hội Bảo tồn Thiên nhiên và Tài nguyên Thiên nhiên Quốc tế (IUCN), đó là: “Sự phát triển của nhân loại không thể chỉ chú trọng tới phát triển kinh tế mà còn phải tôn trọng những nhu cầu tất yếu của xã hội và sự tác động đến môi trường sinh thái học”. Năm 1987 trong Báo cáo Brundtland[1] của Ủy ban Môi trường và Phát triển Thế giới (WCED) tiếp tục chỉ rõ: “Phát triển bền vững là sự phát triển có thể đáp ứng được những nhu cầu hiện tại mà không ảnh hưởng, tổn hại đến những khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai…” [2]. Đây là quá trình phải bảo đảm có sự kết hợp chặt chẽ, hợp lý, hài hòa giữa ba mặt của sự phát triển: phát triển kinh tế, phát triển xã hội và bảo vệ môi trường.

 Ở Việt Nam, trước khi tiến hành sự nghiệp đổi mới đất nước năm 1986, quan niệm về bảo vệ môi trường, phát triển bền vững nói chung còn mơ hồ, thậm chí có quan điểm nhìn nhận khí thải, khói thải từ ống khói các nhà máy, xí nghiệp là biểu hiện sinh động cho sự đi lên chủ nghĩa xã hội[3]. Từ khi tiến hành sự nghiệp đổi mới đến nay nhiều nhà máy, xí nghiệp được thành lập với quy mô và số lượng lớn đã góp phần quan trọng vào quá trình phát triển kinh tế, tăng trường GDP của đất nước. Tuy nhiên, do hàng thập kỷ chú trọng phát triển kinh tế theo chiều rộng, phát triển chủ yếu dựa vào khai thác tài nguyên thiên nhiên lại thiếu quy hoạch nên tài nguyên ngày càng cạn kiệt[4], môi trường bị ô nhiễm, suy thoái ở nhiều nơi[5],… ảnh hưởng xấu đến đời sống của con người và sự phát triển lâu bền đất nước. Thực tiễn này cùng với yêu cầu của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế đã đặt ra nhu cầu về phát triển bền vững.

Ở nước ta trước Đại hội XI của Đảng Cộng sản Việt Nam (Đại hội XI), quan điểm về phát triển bền vững cũng đã được nghiên cứu[6] và ghi nhận, cụ thể: Đại hội VII thông qua Chiến lược Phát triển kinh tế – xã hội 1991 – 2000, nhấn mạnh “Tăng trưởng kinh tế phải gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội, phát triển văn hoá, bảo vệ môi trường”. Đại hội VIII nêu bài học “Tăng trưởng kinh tế gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội, giữ gìn và phát huy bản sắc dân tộc, bảo vệ môi trường sinh thái”. Chiến lược Phát triển kinh tế – xã hội 2001 – 2010 thông qua tại Đại hội IX khẳng định “Phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững, tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường”. Đại hội X nêu bài học về phát triển nhanh và bền vững, trong đó ngoài các nội dung phát triển kinh tế, xã hội, môi trường còn bổ sung yêu cầu phát triển toàn diện con người, thực hiện dân chủ và xác định mục tiêu tổng quát của Kế hoạch 5 năm 2006 – 2010 là “Phấn đấu tăng trưởng kinh tế với nhịp độ nhanh, chất lượng cao và bền vững hơn, gắn với phát triển con người”.

 Như vậy quan điểm phát triển nhanh và bền vững đã sớm được Đảng và Nhà nước ta đặt ra với nội dung ngày càng hoàn thiện và đã trở thành một chủ trương nhất quán trong lãnh đạo, xây dựng pháp luật, quản lý, điều hành tiến trình phát triển của đất nước trong những năm qua.[7] Tuy nhiên, có thể thấy trước Đại hội  XI, đa phần các quan điểm của Đảng về phát triển bền vững mới chỉ được ghi nhận chung chung chủ yếu tập trung nhấn mạnh các yếu tố cấu thành của phát triển bền vững mà chưa đưa ra được phương thức, biện pháp để phát triển bền vững đất nước.

Do vậy để tiếp tục thực hiện mục tiêu phát triển bền vững, bên cạnh việc tiếp tục ghi nhận các yếu tố cấu thành phát triển bền vững; đưa nội dung bảo vệ môi trường vào chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển ngành, lĩnh vực, vùng và các chương trình, dự án. Thực hiện nghiêm ngặt lộ trình xử lý các cơ sở gây ô nhiễm môi trường. Khắc phục suy thoái, bảo vệ môi trường và cân bằng sinh thái, nâng cao chất lượng môi trường; xã hội hóa công tác bảo vệ môi trường; hợp tác quốc tế trong bảo vệ môi trường,… các Văn kiện Đại hội XI của Đảng Cộng sản Việt Nam cũng ghi nhận bổ sung nhiều vấn đề mới, như:

Một là, về mặt lý thuyết đã bổ sung thêm cấu thành của phát triển bền vững không chỉ có bền vững về kinh tế, bền vững về xã hội, bền vững về môi trường mà còn cần phải có cả bền vững về văn hóa đồng thời nhấn mạnh việc chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu. Cụ thể: “Tăng trưởng kinh tế phải kết hợp hài hoà với phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, không ngừng nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân…luôn coi trọng bảo vệ và cải thiện môi trường, chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu[8]”.

Hai là, không như các Văn kiện Đại hội trước, Đại hội XI đã xác định rõ trách nhiệm, nghĩa vụ của các chủ thể trong bảo vệ môi trường cũng như cách thức để bảo vệ môi trường: “Bảo vệ môi trường là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, của toàn xã hội và nghĩa vụ của mọi công dân. Kết hợp chặt chẽ giữa kiểm soát, ngăn ngừa, khắc phục ô nhiễm với khôi phục và bảo vệ môi trường sinh thái[9];

Ba là, không chỉ  ghi nhận việc bảo vệ môi trường, Văn kiện Đại hội XI còn nhấn mạnh tới vấn đề phát triển môi trường: “Chú trọng phát triển kinh tế xanh, thân thiện với môi trường. Thực hiện sản xuất và tiêu dùng bền vững; từng bước phát triển năng lượng sạch, sản xuất sạch, tiêu dùng sạch.[10]

Bốn là, khẳng định và đánh giá cao tầm quan trọng của công tác nghiên cứu, dự báo khí tượng thủy văn, đặc biệt là dự báo, ứng phó có hiệu quả với biến đổi khí hậu, nhất là nước biển dâng[11]: Coi trọng nghiên cứu, dự báo và thực hiện các giải pháp ứng phó với quá trình biến đổi khí hậu và thảm họa thiên nhiên. Quản lý, bảo vệ, tái tạo và sử dụng hợp lý, có hiệu quả tài nguyên quốc gia”[12].

Năm là, để hướng tới phát triển bền vững, quản lý nhà nước đóng vai trò quan trọng, tuy nhiên thực tiễn phát triển thiếu bền vững ở nước ta những năm qua, có nguyên nhân từ quản lý nhà nước chưa hiệu quả. Do vậy đổi mới cơ chế quản lý nhà nước về quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường đóng vai trò quan trọng và vấn đề này cũng đã được khẳng định trong Văn kiện Đại hội Đảng XI làm cơ sở cho những đổi mới về pháp luật. Đó là: “Đổi mới cơ chế quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường[13]”.

Sáu là, để thực hiện có hiệu quả hơn nữa công tác xã hội hóa các hoạt động bảo vệ môi trường, Văn kiện Đại hội Đảng XI cũng nhấn mạnh: “phát triển các dịch vụ môi trường, xử lý chất thải[14].

Qua những phân tích trên có thể thấy những điểm mới về quan điểm, đường lối của Đảng đối với phát triển bền vững. Để thực hiện có hiệu quả những đường lối này, cần thể chế hóa trong các quy định pháp luật hiện hành.

2. Pháp luật và thực trạng chính sách, pháp luật môi trường về phát triển bền vững ở Việt Nam

Qua nghiên cứu các văn bản pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật BVMT năm 2005 chúng tôi thấy các văn bản này về cơ bản đã thể chế hoá được một số quan điểm về phát triển bền vững trong Văn kiện Đại hội IX và các Văn kiện trước đó của Đảng:

Thứ nhất, đã thể chế hóa “phát triển bền vững” là một nguyên tắc quan trọng[15] trong Luật Bảo vệ Môi trường[16].

Thứ hai, đã đưa yêu cầu bảo vệ môi trường vào trong toàn bộ quá trình phát triển từ khâu lập chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển thông qua các quy định về lập báo cáo đánh giá môi trường chiến lược (ĐMC)[17]; lập, phê duyệt và thực hiện dự án đầu tư thông qua quy định về lập báo cáo đánh giá tác động môi trường (ĐTM) và cam kết bảo vệ môi trường[18].

Thứ ba, xã hội hóa hoạt động bảo vệ môi trường. LBVMT 2005 đã mở ra khả năng cho các chủ thể thuộc các thành phần kinh tế tham gia vào quá trình ĐTM (Điều 21); khuyến khích và tạo điều kiện cho các tổ chức có năng lực tham gia vào quản lý, xử lý chất thải (Điều 70), vào hoạt động quan trắc môi trường (Điều 95); bảo đảm quyền được biết thông tin về môi trường của mọi tổ chức, cá nhân (Điều 104, Điều 105); đề cao vai trò của các đoàn thể nhân nhân, tổ chức xã hội và mọi người dân trong hoạt động bảo vệ môi trường (Điều 124)…

Thứ tư, Luật đã quy định tương đối cụ thể về trách nhiệm của các cơ quan nhà nước trong bảo vệ môi trường[19].

Thứ năm, khẳng định tính toàn cầu của vấn đề môi trường và bảo vệ môi trường nên hợp tác quốc tế trong bảo vệ môi trường đóng vai trò quan trọng. Vấn đề này đã được thể chế hóa trong Điều 120 Luật Bảo vệ Môi trường năm 2005.

Có thể thấy mặc dù quan điểm về phát triển bền vững đã được tiếp thu ghi nhận trong Luật Bảo vệ Môi trường năm 2005 và các văn bản liên quan, tuy nhiên tổng kết thực tiễn những năm qua cho thấy “kinh tế phát triển chưa bền vững… Môi trường ở nhiều nơi đang bị ô nhiễm nặng; tài nguyên, đất đai chưa được quản lý tốt, khai thác và sử dụng kém hiệu quả…”.[20] Sở dĩ có vấn đề này là do nhiều nguyên nhân trong đó có khung pháp lý về phát triển bền vững nói chung, pháp luật bảo vệ môi trường còn thiếu sót, bất cập:

Một là, mặc dù Luật Bảo vệ môi trường năm 2005 đã coi xã hội hóa hoạt động bảo vệ môi trường là một nguyên tắc của Luật. Tuy nhiên, quá trình cụ thể hóa nguyên tắc này trong pháp luật bảo vệ môi trường còn khái quát, chưa cụ thể, nhất là quy định về xã hội hóa các dịch vụ môi trường và xử lý chất thải dẫn tới thực tiễn sự tham gia của các tổ chức, cá nhân vào thực hiện các dịch vụ này là rất khó khăn.

Hai là, mặc dù đã có những quy định về trách nhiệm của Nhà nước trong bảo vệ môi trường, tuy nhiên Luật Bảo vệ môi trường 2005 chưa quy định rõ ràng trách nhiệm bảo vệ môi trường là của chủ thể nào, nghĩa vụ bảo vệ môi trường là của ai. Điều đó dẫn tới sự chồng chéo, ỷ lại trong quá trình thực hiện pháp luật bảo vệ môi trường trên thực tiễn. Trong khi đó hiện nay, Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 đã xác định: “bảo vệ môi trường là trách nhiệm của Nhà nước và là nghĩa vụ của mọi tổ chức, cá nhân” (khoản 1 Điều 68) thì Dự thảo sửa đổi, bổ sung Luật Bảo vệ Môi trường năm 2005 lại chỉ xác định: “Bảo vệ môi trường là trách nhiệm và nghĩa vụ của mọi tổ chức và cá nhân…”. (khoản 1 Điều 4), không nêu trách nhiệm của Nhà nước. Dự thảo Luật quy định như vậy chưa phù hợp với tinh thần Đại hội XI và Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992.

Ba là, mặc dù có quy định về khuyến khích phát triển năng lượng sạch, năng lượng tái tạo, nhưng có thể khẳng định Luật Bảo vệ Môi trường năm 2005 chưa quan tâm đúng mức đến vấn đề phát triển môi trường, mà cụ thể là phát triển kinh tế xanh là vấn đề đã được nhắc đến trong Văn kiện Đại hội XI,… Đây là một thiếu sót lớn, nhất là trong bối cảnh đất nước ta đang hướng tới mục tiêu phát triển bền vững.

Bốn là, Luật Bảo vệ Môi trường năm 2005 đã có các quy định về dự báo, phòng ngừa, ứng phó, khắc phục và xử lý sự cố môi trường. Tuy nhiên, một vấn đề có tầm quan trọng lâu dài là biến đổi khí hậu thì Luật lại chưa có một quy định nào đề cập tới. Điều này ảnh hưởng đến quá trình thực hiện mục tiêu phát triển bền vững ở nước ta. Do vậy cần nghiên cứu hoàn thiện khung pháp lý về vấn đề này.

Năm là, như đã trình bày ở trên Luật Bảo vệ Môi trường năm 2005 đã có những quy định tương đối cụ thể về trách nhiệm của các cơ quan nhà nước trong bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường, nhưng lại chưa xác định rõ mô hình để quản lý có hiệu quả vấn đề này. Do vậy cần có nghiên cứu để xây dựng mô hình quản lý nhà nước về môi trường có hiệu quả.

Để khắc phục những hạn chế, bất cập nêu trên và thực hiện có hiệu quả chính sách về phát triển bền vững được nêu ra cần phải thể chế hóa các quan điểm mới trong Văn kiện Đại hội Đảng XI vào pháp luật, trong đó có pháp luật về môi trường.

3. Hoàn thiện pháp luật môi trường về phát triển bền vững theo quan điểm Đại hội XI

Thứ nhất, cần có nghiên cứu tổng thể khung chính sách, pháp luật về phát triển bền vững, tiến hành hệ thống hóa các văn bản pháp luật về vấn đề này nhằm xây dựng thống nhất, đồng bộ các quy định trong Luật BVMT với Luật Đa dạng sinh học, Luật Đầu tư, Luật Dầu khí, Luật Bảo vệ và Phát triển rừng, Luật Đất đai… về vấn đề này.

Thứ hai, để thực hiện có hiệu quả quan điểm về phát triển bền vững được ghi nhận trong Văn kiện Đại hội XI, chúng tôi cho rằng cần nghiên cứu bổ sung những vấn đề sau trong pháp luật bảo vệ môi trường:

Một là, cần quy định cụ thể hơn nữa nguyên tắc xã hội hóa hoạt động bảo vệ môi trường trong các chế định của Luật theo hướng tạo điều kiện thuận lợi, bình đẳng giữa các tổ chức, cá nhân tham gia thực hiện phát triển các dịch vụ môi trường, đặc biệt là dịch vụ thu gom xử lý chất thải.

Hai là, về trách nhiệm bảo vệ môi trường. Chúng tôi cho rằng, Dự thảo sửa đổi, bổ sung Luật Bảo vệ Môi trường năm 2005 cần quy định theo hướng xác định rõ trách nhiệm của cơ quan nhà nước trong bảo vệ môi trường như tinh thần của Văn kiện Đại hội XI, Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992. Cụ thể khoản 1 Điều 4 Dự thảo sửa đổi, bổ sung Luật Bảo vệ môi trường nên sửa như sau: “Bảo vệ môi trường là trách nhiệm của Nhà nước và là nghĩa vụ của mọi tổ chức và cá nhân, đảm bảo quyền được sống và quyền yêu cầu được sống trong môi trường trong lành ”.

Bên cạnh đó, cần nghiên cứu đổi mới mô hình quản lý nhà nước về tài nguyên và bảo vệ môi trường theo hướng đề cao trách nhiệm của cơ quan chuyên trách về quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường là Bộ Tài nguyên và Môi trường. Làm rõ trách nhiệm giúp Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường của Bộ Tài nguyên và Môi trường với trách nhiệm tham gia quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường theo phân công, phân cấp của các Bộ, ngành, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, tránh tình trạng bỏ trống hoặc chồng chéo về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn giữa cơ quan này, dẫn tới khi có ô nhiễm môi trường xảy ra thì đùn đẩy trách lẫn nhau.

Ba là, để phát triển bền vững, kinh tế xanh đóng vai trò đặc biệt quan trọng. Bởi nhìn lại thực tiễn một thời gian dài từ khi đổi mới đến nay chúng ta chủ yếu đẩy mạnh phát triển kinh tế theo chiều rộng, phát triển dựa trên nhân công giá rẻ, khai thác tài nguyên để tăng trưởng GDP mà chưa quan tâm đúng mức đến vấn đề môi trường nên hiện nay nước ta đang đối mặt với nhiều thách thức lớn về cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên, ô nhiễm môi trường. Chương trình môi trường Liên Hợp quốc (UNEP) đã đưa ra ý tưởng phát triển “kinh tế xanh” để thực hiện mục tiêu phát triển bền vững: “Đó là nền kinh tế nâng cao đời sống của con người và cải thiện công bằng xã hội, đồng thời giảm đáng kể những rủi ro môi trường và những thiếu hụt sinh thái”. Còn nôm na, kinh tế xanh được phát triển dựa trên các cỗ máy xanh, phát triển kinh tế không những không ảnh hưởng đến môi trường mà còn góp phần phát triển môi trường, nâng cao đời sống người dân, đảm bảo công bằng xã hội,… trong nội hàm phát triển kinh tế xanh cũng đã bao hàm vấn đề phát triển năng lượng mới, năng lượng tái tạo, năng lượng sạch, sản xuất sạch, tiêu dùng sạch,… Phát triển kinh tế xanh cũng đã được nhiều quốc gia trên thế giới ứng dụng như: Brazin, Nhật Bản, Ecuador, Nepal,…và mang lại nhiều lợi ích về kinh tế, xã hội cũng như môi trường bền vững[21]. Ở Việt Nam, Văn kiện Đại hội Đảng XI, cũng đã khẳng định đẩy mạnh phát triển kinh tế theo chiều sâu, “chú trọng phát triển kinh tế xanh, thân thiện với môi trường”[22]. Do vậy chúng tôi cho rằng cần ghi nhận phát triển kinh tế xanh vào Hiến pháp để đảm bảo tính bao quát và tính chiến lược của vấn đề này, đồng thời sự quan tâm của Nhà nước đối với phát triển kinh tế xanh không nên/chỉ dừng lại việc khuyến khích mà Nhà nước cần phải tạo điều kiện để mọi tổ chức, cá nhân được phát triển kinh tế xanh. Cụ thể nên quy định tại khoản 2 Điều 68 như sau: “2… Mọi hoạt động bảo vệ môi trường, phát triển kinh tế xanh của tổ chức, cá nhân được Nhà nước khuyến khích và tạo điều kiện.” Sau đó cần cụ thể hóa vấn đề này trong Luật Bảo vệ Môi trường.

Bốn là, về ứng phó với biến đổi khí hậu đã được khẳng định trong Văn kiện Đại hội XI của Đảng. Do vậy cần thể chế hóa vấn đề này trong các quy định của pháp luật. Hiện nay, vấn đề chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu đã được ghi nhận tại khoản 2 Điều 68 Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 và cũng đã được cụ thể hóa tại Mục 7 Chương II Luật Bảo vệ môi trường năm 2005. Chúng tôi cho rằng chống biến đổi khí hậu là một vấn đề rộng, lớn có tác động và ảnh hưởng lâu dài đến phát triển bền vững của thế giới cũng như Việt Nam. Do vậy về lâu dài cần nghiên cứu ban hành Luật về Chống Biến đổi khí hậu…nhằm tạo cơ sở pháp lý đầy đủ và đồng bộ cho phòng ngừa, ứng phó với biến đổi khí hậu và nước biển dâng.


[1] Hay còn gọi là Báo cáo Our Common Future.

[3] Có nhiều tác phẩm thơ, văn ca ngợi về sự  phát triển của các nhà máy xí nghiệp với các ống khói trọc trời  trong thời kỳ bao cấp là biểu hiện sinh động cho sự phát triển đi lên chủ nghĩa xã hội.

[4] Xem thêm bài: Hiểm họa cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên và ô nhiễm môi sinh của đất nước, của Phạm Phan Long. Nguồn: http://www.vietecology.org/Article.aspx/Article/6.

[6] Xem các nghiên cứu “Tiến tới môi trường bền vững” (1995) của Trung tâm tài nguyên và môi trường, Đại học Tổng hợp Hà Nội; Đề tài “Nghiên cứu xây dựng tiêu chí phát triển bền vững cấp quốc gia ở Việt Nam – giai đoạn I” (2003) do Viện Môi trường và phát triển bền vững, Hội Liên hiệp các Hội Khoa học kỹ thuật Việt Nam; Công trình “Đổi mới chính sách xã hội – Luận cứ và giải giải pháp” (1997) của Phạm Xuân Nam.

[7] Xem thêm: Phát triển nhanh và bền vững là quan điểm xuyên suốt trong chiến lược phát triển KT-XH của đất nước ta, của Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng. Nguồn: http://baodientu.chinhphu.vn/Home/Phat-trien-nhanh-va-ben-vung-la-quan-diem-xuyen-suot-trong-chien-luoc-phat-trien-KTXH-cua-dat-nuoc-ta/20107/33615.vgp.

[8] Xem thêm: Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội năm 2011 – 2020 của Đảng Cộng sản Việt Nam.

[9] Xem thêm: Cương lĩnh xây dựng đất nước thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011).

[10] Xem thêm: Phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội 5 năm 2011 – 2015 và Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội năm 2011 – 2020 của Đảng Cộng sản Việt Nam.

[11] Đây cũng là một trong sáu vấn đề lớn được đưa vào Chương trình nghị sự của Hội nghị Ban chấp hành trung ương lần thứ 7 (TW 7) của Đảng cộng sản Việt Nam.

[12] Xem thêm: Cương lĩnh xây dựng đất nước thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011).

[13] Xem thêm: Cương lĩnh xây dựng đất nước thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) và Phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội 5 năm 2011 – 2015 và Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội năm 2011 – 2020 của Đảng Cộng sản Việt Nam.

[14] Xem thêm: Phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội 5 năm 2011 – 2015 và Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội năm 2011 – 2020 của Đảng Cộng sản Việt Nam.

[15] Xem thêm bài: Nguyên tắc bảo đảm sự phát triển bền vững, của PGS.TS. Phạm Hữu Nghị. Nguồn: Đề tài cấp cơ sở Viện Nhà nước và Pháp luật năm 2008.  

[16] Xem: Điều 4 Luật Bảo vệ Môi trường năm 2005.

[17] Xem: mục 1 Chương III Luật Bảo vệ Môi trường năm 2005.

[18] Xem: tại mục 2, 3 Chương III Luật Bảo vệ Môi trường 2005.

[19] LBVMT 2005 dành chương XIII quy định trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường. Tại chương này đã có các quy định xác định trách nhiệm quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường của Chính phủ, của Bộ Tài nguyên và Môi trường, các Bộ, cơ quan ngang Bộ liên quan, cũng như Ủy ban nhân dân các cấp (Điều 122).

[20] Xem thêm: Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội năm 2011 – 2020 của Đảng Cộng sản Việt Nam.

[21] Xem thêm ấn phẩm: Kinh tế xanh: Có vai trò của Bạn? do Chương trình môi trường Liên Hợp quốc (UNEP) và Bộ Tài nguyên và Môi trường ấn hành. Hà Nội, 2012.

[22] Xem: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb CTQG, HN, 2011, trang 222.

Góp ý sửa đổi Hiến pháp, đăng Tạp chí Nhà nước và Pháp luật tháng 6/2013

MẤY GÓP Ý VỀ QUYỀN ĐƯỢC SỐNG TRONG MÔI TRƯỜNG TRONG LÀNH TRONG DỰ THẢO HIẾN PHÁP NĂM 1992

ThS. Bùi Đức Hiển

Viện Nhà nước và Pháp luật

1. Khái quát về quyền được sống trong môi trường trong lành và sự ghi nhận của Hiến pháp Việt Nam về vấn đề này

Quyền được sống trong môi trường trong lành là những nhu cầu, lợi ích tự nhiên, vốn có và khách quan của con người được sống trong môi trường sạch đẹp, thuần khiết, chất lượng với hệ sinh thái cân bằng, không có ô nhiễm, suy thoái, sự cố môi trường ảnh hưởng đến tài sản, sức khỏe, tính mạng và hoạt động bình thường của con người, được pháp luật quốc gia cũng như pháp luật quốc tế ghi nhận và bảo vệ[1]. Quyền được sống trong môi trường trong lành được đặt ra khi sự đe dọa về quyền được sống cơ bản đã được bảo vệ bởi các thể chế dân chủ pháp quyền[2], nhưng sự tồn tại của con người lại bị đe dọa, hủy hoại do tác động tiêu cực từ môi trường tự nhiên mà nguyên nhân chủ yếu do chính con người gây ra[3]. Sự tác động thái quá của con người vào tự nhiên đã phá vỡ tính thống nhất của môi trường, của hệ sinh thái làm cạn kiệt tài nguyên, suy giảm đa dạng sinh học, ô nhiễm môi trường dẫn đến biến đổi khí hậu, nước biển dâng gây ra những thiệt hại lớn về tính mạng, sức khỏe, tài sản, đời sống của con người cũng như sự phát triển bền vững kinh tế xã hội của các quốc gia. Từ thập niên 60 của thế kỷ XX đến nay, sự trả thù của tự nhiên đối với con người đã hiện hữu, vấn đề đặt ra là phải nhận thức đúng tất yếu này và hành động để bảo vệ môi trường, bảo vệ quyền được sống trong môi trường trong lành. Ở giác độ chính trị, pháp lý quốc tế, trong Tuyên bố của Liên Hợp quốc về môi trường con người năm 1972 tại Stockhom lần đầu tiên đã khẳng định: “Con người có quyền cơ bản được sống trong một môi trường chất lượng, cho phép cuộc sống có phẩm giá và phúc lợi mà con người có trách nhiệm long trọng bảo vệ, cải thiện cho thế hệ hôm nay và mai sau”[4], trong Tuyên bố Rio de Janeiro cũng nhấn mạnh mối quan hệ giữa quyền được sống trong môi trường trong lành và phát triển bền vững: “Con người là trung tâm của các mối quan tâm về sự phát triển lâu dài. Con người có quyền được hưởng một cuộc sống hữu ích, lành mạnh và hài hoà với thiên nhiên”[5].

Nhìn lại lịch sử phát triển của các chế định được ghi nhận trong Hiến pháp từ khi Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời đến nay, có thể thấy các quy định về bảo vệ môi trường ngày càng được khẳng định mạnh mẽ với cách tiếp cận ngày càng mới, thực chất hơn. Hiến pháp 1946, Hiến pháp 1959 chưa có một quy định nào về bảo vệ môi trường thì đến Hiến pháp năm 1980 mặc dù vẫn trong thời kỳ bao cấp, chưa phát triển kinh tế hàng hóa, nhưng Đảng và Nhà nước ta cũng bước đầu đã quan tâm đến vấn đề môi trường và ghi nhận vào Hiến pháp, cụ thể: “Các cơ quan nhà nước, xí nghiệp, hợp tác xã, đơn vị vũ trang nhân dân và công dân đều có nghĩa vụ thực hiện chính sách bảo vệ, cải tạo và tái sinh các nguồn tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ và cải thiện môi trường sống” (Điều 36). Mặc dù vậy, thời kỳ này chúng ta vẫn chưa ban hành một đạo luật chuyên ngành nhằm cụ thể hóa những ghi nhận trong Hiến pháp 1980 về bảo vệ môi trường.

Năm 1986, nước ta tiến hành sự nghiệp đổi mới mở cửa phát triển kinh tế, để tạo hành lang pháp lý cho thay đổi này Hiến pháp năm 1992 đã ra đời. Bên cạnh một loạt các quy định mới để đẩy mạnh hội nhập và phát triển kinh tế, Hiến pháp vẫn tiếp tục ghi nhận cụ thể hơn về sử dụng hợp lý tài nguyên và bảo vệ môi trường: “Cơ quan nhà nước, đơn vị vũ trang, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, mọi cá nhân phải thực hiện các quy định của Nhà nước về sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường. Nghiêm cấm mọi hành động làm suy kiệt tài nguyên và huỷ hoại môi trường (Điều 29) Chính phủ phải có trách nhiệm bảo vệ môi trường (khoản 5 Điều 112)”. Điểm nhấn là các ghi nhận Hiến định này đã được cụ thể hóa trong Luật Bảo vệ môi trường năm 1993, tiếp đó là Luật Bảo vệ môi trường năm 2005. Có thể thấy, Hiến pháp năm 1992 đã khẳng định tầm quan trọng của bảo vệ môi trường sống thông qua việc quy định rõ trách nhiệm của các chủ thể trong sử dụng hợp lý tài nguyên và bảo vệ môi trường. Tuy nhiên, cũng như các Hiến pháp trước đó, Hiến pháp 1992 chưa thể hiện được mục đích đầu tiên và sau cùng của bảo vệ môi trường chính là bảo vệ quyền được sống trong môi trường trong lành. Bên cạnh đó, cách trình bày trong Hiến pháp còn dài dòng, thiếu logic chưa phù hợp với văn phong Hiến pháp đòi hỏi phải ngắn gọn, súc tích, nhưng bao quát; Hơn nữa, về chủ thể phải bảo vệ môi trường, Hiến pháp 1992 liệt kê nhiều chủ thể từ cơ quan nhà nước, đơn vị vũ trang, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội đến mọi cá nhân, song lại không bao quát hết được chủ thể có nghĩa vụ phải bảo vệ môi trường. Ví dụ: tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội,…. Mặt khác, Hiến pháp 1992 nhấn mạnh việc sử dụng hợp lý tài nguyên, bảo vệ môi trường được thực hiện theo các “quy định của nhà nước”. Thuật ngữ này với nội hàm còn những tranh luận, chưa đáp ứng được mục tiêu bảo vệ môi trường đồng thời có thể dễ gây tùy tiện trong xây dựng, áp dụng các quy định pháp luật về bảo vệ môi trường.

Qua trình bày trên, ở mức độ nhất định Hiến pháp 1980, 1992 có ghi nhận vấn đề bảo vệ môi trường. Tuy nhiên, do những điều kiện lịch sử và thực tiễn nên cả bốn bản Hiến pháp 1946, 1959, 1980, 1992 đều chưa đề cập đến quyền được sống trong môi trường trong lành. Để khắc phục bất cập trên tiến tới hiến định hóa quyền được sống trong môi trường trong lành, vấn đề bảo vệ môi trường vì mục tiêu con người đã tiếp tục được khẳng định và phát triển trong các văn kiện Đại hội VIII, IX, X, XI của Đảng, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) và trong Nghị quyết 41/NQ-TW ngày 15/11/2004 của Bộ Chính trị khóa IX về bảo vệ môi trường trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Đây là những cơ sở chính trị quan trọng để Dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992 tạo ra những đột phá mới khi lần đầu tiên ghi nhận quyền được sống trong môi trường trong lành. Việc ghi nhận quyền này trong Hiến pháp có nhiều ý nghĩa to lớn.

Thứ nhất, về nhận thức, việc ghi nhận quyền được sống trong môi trường trong lành trong Hiến pháp, thể hiện tư tưởng xuyên suốt của Đảng và Nhà nước ta coi con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển.

Thứ hai, Việt Nam đã ký và tham gia hai Tuyên bố quốc tế liên quan đến quyền được sống trong môi trường trong lành là: Tuyên bố Stockhom về môi trường con người năm 1972 và Tuyên bố Rio de Janeiro về môi trường và phát triển năm 1992[6]. Do vậy, việc ghi nhận quyền được sống trong môi trường trong lành vào Hiến pháp khẳng định cam kết quốc tế mạnh mẽ của Đảng và Nhà nước ta trong bảo vệ môi trường và bảo đảm thực hiện quyền được sống trong môi trường trong lành.

          Thứ ba, về pháp lý, Hiến pháp với tư cách là một văn bản chính trị, pháp lý cao nhất của một nhà nước, ghi nhận quyền được sống trong môi trường trong lành sẽ bổ sung thêm một cơ chế nữa để bảo vệ quyền được sống trong môi trường trong lành bên cạnh cơ chế pháp lý thông thường. Đồng thời là cơ sở để cụ thể hóa quyền này trong Luật Bảo vệ môi trường cũng như các văn bản pháp luật liên quan góp phần thực thi có hiệu quả quyền này trên thực tiễn.

2. Quyền được sống trong môi trường trong lành trong Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992  

Về cơ bản một bản Hiến pháp thường đề cập đến hai vấn đề lớn, xuyên suốt là nhân quyền (quyền con người, quyền công dân) và phân quyền (tổ chức, phân công, thực hiện quyền lực nhà nước). Về vấn đề nhân quyền, khác với Hiến pháp hiện hành hầu như không có sự tách bạch giữa quyền con người và quyền công dân (quyền con người được thể hiện qua quyền công dân tại Chương V của Hiến pháp), Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 đã có bước tiến vượt bậc qua sự phân định rõ ràng giữa quyền con người và quyền công dân, đồng thời nâng vị trí của quyền con người (trong đó có quyền được sống trong môi trường trong lành) lên tầm cao mới. Điều này thể hiện rõ ở tên của Chương là Quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân và nhóm quyền này được đặt tại Chương II của Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 chỉ sau Chương I về Chế độ chính trị.

Cụ thể về quyền được sống trong môi trường trong lành và vấn đề môi trường, Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 không chỉ khẳng định mọi người có quyền được sống, mà là: “…. được sống trong môi trường trong lành” (Điều 46). Đó là môi trường có chất lượng cho phép/đảm bảo con người sống có phẩm giá và phúc lợi[7]. Trên cơ sở thể chế hóa đường lối của Đảng về phát triển bền vững, Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 ghi nhận: “phát triển kinh tế kết hợp chặt chẽ, hài hòa với phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo vệ môi trường” (Điều 53), đồng thời khẳng định trong bảo vệ môi trường, khoa học công nghệ giữ vai trò then chốt (Điều 67).

Bên cạnh đó, Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 nhấn mạnh: “Bảo vệ môi trường là trách  nhiệm của Nhà nước, xã hội và là nghĩa vụ của mọi tổ chức, cá nhân” (khoản 1, Điều 68) Chúng tôi cho rằng, quy định này của Dự thảo khá logic và hợp lý, bởi Nhà nước là do nhân dân lập ra, Nhà nước thay mặt nhân dân quản lý xã hội, Nhà nước phải có trách nhiệm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân, trong đó có quyền được sống trong môi trường trong lành. Hơn nữa, Nhà nước đã tham gia những cam kết quốc tế về bảo đảm quyền được sống trong môi trường trong lành, do vậy để thực hiện được trách nhiệm này Nhà nước phải long trọng ghi nhận vào Hiến pháp và xây dựng ra các quy định pháp luật, tổ chức bảo đảm thực hiện. Cũng phải lưu ý thêm rằng, khẳng định trách nhiệm của Nhà nước trong bảo vệ môi trường không có nghĩa phủ nhận nghĩa vụ bảo vệ môi trường của các tổ chức, cá nhân, vì môi trường là vấn đề mang tính toàn cầu, toàn xã hội. Khi quyền được sống trong môi trường trong lành bị xâm phạm do chính hành vi của tổ chức, cá nhân, thì Nhà nước phải có trách nhiệm ngăn chặn bằng cách ban hành các quy định buộc các tổ chức, cá nhân phải có nghĩa vụ thực hiện, khi có hành vi vi phạm nghĩa vụ thì Nhà nước sẽ xử lý theo quy định của pháp luật.

          Không phải ghi nhận trách nhiệm chung chung của Nhà nước trong bảo vệ môi trường, Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 xác định rõ: “Nhà nước có chính sách bảo vệ môi trường; quản lý, sử dụng hiệu quả, bền vững các nguồn tài nguyên thiên nhiên; bảo tồn thiên nhiên, đa dạng sinh học; chủ động phòng, chống và giảm nhẹ thiên tai, ứng phó với biến đổi khí hậu.

 Mọi hoạt động bảo vệ môi trường, phát triển sử dụng năng lượng mới, năng lượng tái tạo của tổ chức, cá nhân được Nhà nước khuyến khích.” (khoản 2 Điều 68).

Qua đó có thể thấy Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 đã quy định tương đối thành công về vấn đề môi trường và quyền được sống trong môi trường trong lành. Mặc dù vậy, qua nghiên cứu cụ thể từng quy định của Dự thảo, chúng tôi thấy một số vấn đề cần phải làm sáng tỏ thêm:

Một là, về nhận thức, quyền được sống trong môi trường trong lành được ghi nhận trong Dự thảo sửa đổi Hiến pháp nên hiểu theo nghĩa tự nhiên của nó (tức trong lành về mặt tự nhiên) hay theo nghĩa rộng hơn còn bao hàm cả trong lành về mặt xã hội.

Hai là, tại Điều 46 của Dự thảo sửa đổi Hiến pháp mới nhất đã bỏ quy định tại khoản  2 về nghĩa vụ bảo vệ môi trường của mọi người mà chỉ quy định một khoản duy nhất là: “mọi người có quyền được sống trong môi trường trong lành”. Chúng tôi cho rằng việc bỏ quy định tại khoản 2 Điều 46 của Dự thảo là hợp lý. Bởi: một là, về mặt lý luận khi Nhà nước thừa nhận quyền được sống trong môi trường trong lành của mọi người đồng nghĩa với Nhà nước phải có trách nhiệm bảo vệ quyền đó; hai là, quyền được sống trong môi trường trong lành tại khoản 1 không phải lúc nào cũng đồng nhất với nghĩa vụ bảo vệ môi trường tại khoản 2. Bởi môi trường không trong lành, không chỉ do mọi người vi phạm nghĩa vụ gây ra mà có thể do tự nhiên gây ra. Ví dụ: sự cố hạt nhân ở Fukushima, cháy rừng do nắng nóng ở Indonesia,… không phải do con người gây ra nhưng những sự cố này ảnh hưởng đến quyền được sống trong môi trường trong lành của người dân, Nhà nước vẫn có trách nhiệm phải bảo vệ. Hơn nữa, nghĩa vụ bảo vệ môi trường của mọi người đã được quy định rất rõ tại khoản 1, Điều 68 của Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992, thậm chí về chủ thể có nghĩa vụ bảo vệ môi trường Điều 68 còn xác định rõ ràng hơn khoản 2 Điều 46, đó là mọi tổ chức, cá nhân. Tuy nhiên, Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 mới nhất vẫn chưa thể hiện rõ tránh nhiệm của cơ quan nhà nước có thẩm quyền khi quyền được sống trong môi trường trong lành không được bảo đảm. Chúng tôi cho rằng thừa nhận quyền là rất quan trọng, nhưng quan trọng hơn phải là cơ chế bảo đảm thực hiện quyền và trách nhiệm của các chủ thể khi quyền đó bị xâm phạm.

Ba là, để cụ thể hóa quyền được sống trong môi trường trong lành và nghĩa bảo vệ môi trường tại khoản 1 Điều 46, khoản 1 Điều 68 Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992, Dự thảo số 2 sửa đổi, bổ sung Luật Bảo vệ môi trường 2005 đã ghi nhận: “Bảo vệ môi trường là trách nhiệm và nghĩa vụ của mọi tổ chức và cá nhân, đảm bảo quyền được sống và quyền yêu cầu được sống trong môi trường trong lành ” (khoản 1 Điều 4) là nguyên tắc của Luật. Tuy nhiên, Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 xác định rõ bảo vệ môi trường là trách nhiệm của Nhà nước, xã hội và là nghĩa vụ của mọi tổ chức, cá nhân thì Dự thảo Luật Bảo vệ Môi trường 2005 sửa đổi, bổ sung lại chỉ xác định bảo vệ môi trường là trách nhiệm và nghĩa vụ của mọi tổ chức và cá nhân mà chưa nhấn mạnh đến trách nhiệm của Nhà nước như ghi nhận trong Hiến pháp. Chúng tôi cho rằng quy định như vậy trong Dự thảo Luật là không đúng với tinh thần của Dự thảo sửa đổi Hiến pháp mới và thiếu logic.

Bốn là, tại khoản 2, Điều 68 Dự thảo sửa đổi Hiến pháp mới nhất đã hoàn thiện hơn quy định về chính sách bảo vệ môi trường; quản lý, sử dụng hiệu quả, bền vững các nguồn tài nguyên thiên nhiên; bảo tồn thiên nhiên, đa dạng sinh học; chủ động phòng, chống và giảm nhẹ thiên tai, đặc biệt lần đầu tiên vấn đề rất quan trọng là ứng phó với biến đổi khí hậu đã được đề cập đến trong Hiến pháp[8]. Tuy nhiên, Dự thảo Hiến pháp mới lại bỏ đi quy định tại khoản 3 về trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân khi có hành vi làm ô nhiễm, suy thoái môi trường. Chúng tôi cho rằng cần cân nhắc lại việc bỏ quy định tại khoản 3 này, bởi đây là cơ sở hiến định cao nhất nhấn mạnh hậu quả pháp lý bất lợi đối với tổ chức cá nhân khi vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường, đồng thời là cơ sở để cụ thể hóa các quy định này trong các văn bản Luật cũng như dưới Luật.

Thứ năm, tại khoản 2, Điều 68 Dự thảo sửa đổi Hiến pháp mới nhất cũng khẳng định mọi hoạt động bảo vệ môi trường, phát triển sử dụng năng lượng mới, năng lượng tái tạo của tổ chức, cá nhân được Nhà nước khuyến khích. Chúng tôi cho rằng ở đây có hai vấn đề cần phải làm rõ thêm: một là, Nhà nước chỉ khuyến khích các hoạt động bảo vệ môi trường, phát triển sử dụng năng lượng mới, năng lượng tái tạo ở tầm hiến pháp đã bao quát hết vấn đề bảo vệ và phát triển môi trường chưa; hai là, về cấp độ quan tâm của Nhà nước đối với các hoạt động này mới chỉ dừng lại ở mức khuyến khích đã hợp lý chưa? Đây là những vấn đề chúng tôi cho rằng cần phải làm rõ để có được quy định phù hợp trong Dự thảo sửa đổi Hiến pháp.

Thứ sáu, về nguyên tắc khi ghi nhận các quyền và cơ chế bảo vệ các quyền trong Hiến pháp, trong đó có quyền được sống trong môi trường trong lành sẽ góp phần bảo vệ quyền này có hiệu quả hơn. Bởi bên cạnh cơ chế pháp lý thông thường, các quyền này có thể được bảo vệ thông qua cơ chế bảo vệ Hiến pháp. Tuy nhiên, Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 vẫn chưa xác định rõ khả năng áp dụng trực tiếp của Hiến pháp, còn cơ chế để bảo vệ các quyền (trong đó có quyền được sống trong môi trường trong lành) được ghi nhận trong Hiến pháp thông qua Hội đồng bảo vệ hiến pháp còn khá mờ nhạt. Sự chưa rõ ràng này ảnh hưởng đến khả năng bảo đảm thực hiện có hiệu quả quyền này trên thực tiễn do vậy theo chúng tôi cần phải có nghiên cứu chỉnh sửa vấn đề này cho phù hợp hơn.

3. Một số kiến nghị hoàn thiện các quy định về quyền được sống trong môi trường trong lành trong Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                            

Thứ nhất, về nhận thức cần minh định rõ thế nào là môi trường, môi trường hiểu dưới giác độ rộng hay hẹp,… Nếu chúng ta quan niệm môi trường theo nghĩa rộng thì môi trường không hẳn chỉ là môi trường tự nhiên mà bao hàm cả môi trường xã hội. Bởi bản chất của môi trường là thống nhất, chúng có mối quan hệ mật thiết với nhau, những biến đổi về môi trường có thể dẫn tới biến đổi lớn về xã hội và ngược lại sự phát triển của xã hội cũng tác động rõ rệt đến môi trường tự nhiên. Hiến pháp là đạo luật cơ bản của Nhà nước, có giá trị pháp lý cao nhất trong hệ thống pháp luật. Là một văn kiện chính trị – pháp lý, Hiến pháp thường mang tính cương lĩnh lâu dài. Do vậy, việc ghi nhận các vấn đề trong Hiến pháp cũng phải có tầm nhìn mang tính quy luật. Từ bản chất của vấn đề môi trường và vị trí của Hiến pháp, chúng tôi cho rằng quyền được sống trong môi trường trong lành được ghi nhận trong Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 cần được nhận thức bao hàm cả trong lành về mặt tự nhiên và xã hội.  

Thứ hai, cần quy định rõ trách nhiệm của Nhà nước trong việc bảo đảm quyền được sống trong môi trường trong lành. Chúng tôi cho rằng quy định này trong Hiến pháp là cần thiết bởi trách nhiệm bảo đảm quyền được sống trong môi trường trong lành không phải lúc nào cũng đồng nhất với trách nhiệm bảo vệ môi trường. Hơn nữa, Nhà nước đã thừa nhận quyền được sống trong môi trường trong lành thì Nhà nước phải có trách nhiệm bảo vệ. Bên cạnh đó, quy định này sẽ là cơ sở Hiến định để cụ thể hóa trách nhiệm của Nhà nước, quyền của mọi người liên quan đến quyền được sống trong môi trường trong lành trong Luật Bảo vệ Môi trường. Cụ thể:

Về kỹ thuật lập pháp, theo chúng tôi có hai phương án có thể được xem xét để bổ sung quy định này: một là, nếu theo phương án Điều 46 chỉ quy định duy nhất về quyền được sống trong môi trường trong lành, thì chúng ta có thể quy định một điều ngay tại Chương 1 về trách nhiệm của cơ quan nhà nước trong bảo đảm thực hiện các quyền được ghi nhận trong Hiến pháp (trong đó có quyền được sống trong môi trường trong lành); hai là, nếu không quy định vấn đề này ở Chương 1 thì có thể bổ sung thêm khoản 2, Điều 46 của Dự thảo sửa đổi Hiến pháp mới về  trách nhiệm của cơ quan nhà nước trong bảo đảm quyền được sống trong môi trường trong lành. Cụ thể: “2. Cơ quan quản lý Nhà nước có trách nhiệm bảo đảm quyền được sống trong môi trường trong lành”.

Thứ ba, chúng tôi cho rằng về trách nhiệm bảo vệ môi trường của Nhà nước tại khoản 1 Điều 68 Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992, Dự thảo sửa đổi, bổ sung Luật Bảo vệ Môi trường năm 2005 cần quy định theo hướng xác định rõ trách nhiệm của cơ quan nhà nước trong bảo vệ môi trường như tinh thần của Hiến pháp. Cụ thể khoản 1 Điều 4 Dự thảo sửa đổi, bổ sung Luật Bảo vệ môi trường nên sửa như sau: “Bảo vệ môi trường là trách nhiệm của Nhà nước và là nghĩa vụ của mọi tổ chức và cá nhân, đảm bảo quyền được sống và quyền yêu cầu được sống trong môi trường trong lành ”.

Thứ tư, về khuyến khích các hoạt động bảo vệ môi trường, phát triển sử dụng năng lượng mới, năng lượng tái tạo của tổ chức, cá nhân (khoản 2, Điều 68). Chúng tôi cho rằng đây là quy định quan trọng thể hiện sự quan tâm của Nhà nước đối với việc bảo vệ môi trường và nhu cầu phát triển bền vững đất nước. Tuy nhiên, quy định này lại chưa bao quát và chưa đúng với tầm của vấn đề. Nhìn lại thực tiễn một thời gian dài từ khi đổi mới đến nay chúng ta chủ yếu đẩy mạnh phát triển kinh tế theo chiều rộng, phát triển dựa trên nhân công giá rẻ, khai thác tài nguyên để tăng trưởng GDP mà chưa quan tâm đúng mức đến vấn đề môi trường nên hiện nay nước ta đang đối mặt với nhiều thách thức lớn về cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên, ô nhiễm môi trường. Để hướng tới phát triển bền vững, Chương trình môi trường Liên Hợp quốc (UNEP) đã đưa ra ý tưởng phát triển “kinh tế xanh”. “Đó là nền kinh tế nâng cao đời sống của con người và cải thiện công bằng xã hội, đồng thời giảm đáng kể những rủi ro môi trường và những thiếu hụt sinh thái”. Còn nôm na, kinh tế xanh được phát triển dựa trên các cỗ máy xanh, phát triển kinh tế không những không ảnh hưởng đến môi trường mà còn góp phần phát triển môi trường, nâng cao đời sống người dân, đảm bảo công bằng xã hội,… trong nội hàm phát triển kinh tế xanh cũng đã bao hàm vấn đề phát triển năng lượng mới, năng lượng tái tạo, năng lượng sạch, sản xuất sạch, tiêu dùng sạch,… Phát triển kinh tế xanh cũng đã được nhiều quốc gia trên thế giới ứng dụng như: Brazin, Nhật Bản, Ecuador, Nepal,…và mang lại nhiều lợi ích về kinh tế, xã hội cũng như môi trường bền vững[9]. Ở Việt Nam, Văn kiện Đại hội Đảng XI, cũng đã khẳng định đẩy mạnh phát triển kinh tế theo chiều sâu, “chú trọng phát triển kinh tế xanh, thân thiện với môi trường”[10]. Do vậy chúng tôi cho rằng cần ghi nhận phát triển kinh tế xanh vào Hiến pháp để đảm bảo tính bao quát và tính chiến lược của vấn đề này, đồng thời sự quan tâm của Nhà nước đối với phát triển kinh tế xanh không nên/chỉ dừng lại việc khuyến khích mà Nhà nước cần phải tạo điều kiện để mọi tổ chức, cá nhân được phát triển kinh tế xanh. Cụ thể nên quy định tại khoản 2 Điều 68 như sau: “2. Nhà nước có chính sách bảo vệ môi trường; quản lý, sử dụng hiệu quả, bền vững các nguồn tài nguyên thiên nhiên; bảo tồn thiên nhiên, đa dạng sinh học; chủ động phòng, chống và giảm nhẹ thiên tai, ứng phó với biến đổi khí hậu.

          Mọi hoạt động bảo vệ môi trường, phát triển kinh tế xanh của tổ chức, cá nhân được Nhà nước khuyến khích và tạo điều kiện.”

Thứ năm, để bảo vệ các quyền, trong đó có quyền được sống trong môi trường trong lành trong Hiến pháp có hiệu quả. Bên cạnh cơ chế pháp lý hiện hành, chúng tôi cho rằng cần có quy định rõ ràng để các quyền này có thể được bảo vệ thông qua cơ chế Hiến pháp. Cụ thể Dự thảo sửa đổi Hiến pháp cần quy định rõ một Điều tại Chương 1 là Hiến pháp được áp dụng trực tiếp, đồng thời hoàn thiện các quy định về Hội đồng bảo hiến tại Điều 120 Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992. Theo đó nên xây dựng cơ quan bảo vệ Hiến pháp theo mô hình cơ quan tài phán Hiến pháp, trong đó cần quy định rõ nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan này, không chỉ là kiểm tra tính hợp hiến của các đạo luật, các văn bản dưới luật mà còn được hủy các văn bản trái Hiến pháp, tham gia giải quyết, bảo vệ các quyền được Hiến pháp ghi nhận.


[1] Xem bài: Về quyền được sống trong môi trường trong lành ở Việt Nam hiện nay, Tạp chí Luật học, số 11/2011, tr. 22 –28.

[2] Xem thêm: Lời nói đầu Tuyên bố Hội nghị Liên hợp quốc về môi trường con người, Sách Các Công ước quốc tế về bảo vệ môi trường, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995.

[3] Xem thêm bài: 2010 – năm thiên nhiên trả thù con người? của tác giả Kiệt Linh tổng hợp. Nguồn: http://www.tinmoi.vn/2010-nam-thien-nhien-tra-thu-con-nguoi-01225463.html.

[4] Xem: Tuyên bố của Hội nghị Liên hợp quốc về môi trường con người, Nguyên tắc 1, tr.11, Sách Các Công ước quốc tế về bảo vệ môi trường, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội 1995.

[5] Xem thêm: Nguyên tắc 1, Tuyên bố Rio de Janeiro về môi trường và phát triển, Sách Các Công ước quốc tế về bảo vệ môi trường, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995.

[6] Xem thêm: Giáo trình Luật Môi trường, Trường Đại học Luật Hà Nội, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội 2011, tr 44.

[7] Xem thêm bài: Nhấn mạnh vai trò của Nhà nước Việt Nam cùng cộng đồng quốc tế bảo vệ môi trường, của ThS. Nguyễn Xuân Sinh. Nguồn: http://www.qdnd.vn/qdndsite/vi-vn/61/231530/print/Default.aspx, thứ hai, 04/03/2013, 22:52 (GMT+7)

[8] Đây là những vấn đề quan trọng Dự kiến sẽ được làm rõ trong Hội nghị TW7 của Đảng lần này.

[9] Xem thêm ấn phẩm: Kinh tế xanh: Có vai trò của Bạn? do Chương trình môi trường Liên Hợp quốc (UNEP) và Bộ Tài nguyên và Môi trường ấn hành. Hà Nội, 2012.

[10] Xem: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb CTQG, HN, 2011, trang 222.

Bài đăng Tạp chí Quản lý nhà nước

 VỀ QUYỀN THAM GIA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC CỦA NHÂN DÂN Ở VIỆT NAM

                                                                  Ths. Bùi Đức Hiển

                                                          Viện Nhà nước và Pháp luật

1. Khái quát về quyền tham gia quản lý nhà nước của nhân dân

Theo nghĩa rộng, quản lý nhà nước là hoạt động của Nhà nước trên các lĩnh vực lập pháp, hành pháp và tư pháp nhằm thực hiện chức năng đối nội và đối ngoại của nhà nước[1]. Còn quyền tham gia quản lý nhà nước, hiện nay vẫn còn nhiều cách hiểu, tùy theo cách tiếp cận cũng như mục đích của nhà nghiên cứu. Xuất phát từ hình thức của dân chủ và phân nhóm quyền lực nhà nước, chúng tôi cho rằng: “quyền tham gia quản lý nhà nước của nhân dân là việc nhân dân trực tiếp hoặc thông qua các đại diện (đã được tự do lựa chọn của mình) sử dụng các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp nhằm quản lý mọi lĩnh vực của đời sống xã hội”. Việc thừa nhận quyền tham gia quản lý nhà nước của nhân dân tạo cơ sở chính trị, pháp lý quan trọng để nhân dân có thể trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua các đại diện (được bầu cử tự do) thực hiện quản lý nhà nước; thể hiện tính chính đáng, tính ưu việt Nhà nước của dân, do dân và vì dân; góp phần phát huy sức mạnh, trí tuệ của toàn dân trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế;… Trong xã hội dân chủ, có nhiều cách thức để nhân dân thực hiện quyền tham gia quản lý nhà nước, tùy theo cách phân loại, như theo nhóm quyền lực, theo hình thức dân chủ hoặc theo hình thức liệt kê các quyền này,…

Quyền tham gia quản lý nhà nước của nhân dân là một quyền chính trị mang tính lịch sử sâu sắc, xuất hiện khi xã hội có Nhà nước[2]. Quyền này ra đời xuất phát từ quan niệm về dân chủ (tức là cai trị bởi nhân dân[3]). Dưới góc độ này, quyền tham gia quản lý nhà nước không thể xem xét một cách độc lập, tách rời mà luôn đặt trong mối quan hệ với nhà nước (trong đó nhân dân là người tạo dựng lên quyền lực nhà nước). Nghiên cứu lịch sử nhà nước và pháp luật thế giới có thể thấy, ở kiểu nhà nước chủ nô[4] và kiểu nhà nước phong kiến[5] quyền tham gia quản lý nhà nước của nhân dân đã manh nha hình thành và từng bước phát triển. Tuy nhiên, do bản chất của các kiểu nhà nước chủ nô và phong kiến nên việc tham gia vào quản lý nhà nước của người dân còn rất hạn chế[6]. Cùng với sự phát triển của xã hội loài người qua các kiểu nhà nước quyền này ngày càng được thừa nhận rộng rãi, đặc biệt từ khi các nhà nước dân chủ tư sản hiện đại và nhà nước xã hội chủ nghĩa ra đời.

Có thể thấy cùng với sự phát triển của xã hội loài người qua các kiểu nhà nước vị thế của con người ngày càng được nâng cao từ địa vị nô lệ thấp hèn trong nhà nước chủ nô, thần dân trong nhà nước phong kiến trở thành công dân trong nhà nước tư sản và công dân “thực sự” trong nhà nước xã hội chủ nghĩa. Với sự dịch chuyển về địa vị đó quyền tham gia quản lý nhà nước của nhân dân ngày càng được thừa nhận rộng rãi và thực chất hơn. Về mặt bản chất, nếu quyền tham gia quản lý nhà nước mới chỉ manh nha hình thành trong kiểu nhà nước chủ nô, nhà nước phong kiến thì đến nhà nước dân chủ tư sản hiện đại và đặc biệt là nhà nước xã hội chủ nghĩa, nhân dân đã trở thành chủ thể thực sự là gốc của quyền lực nhà nước. Về mặt hình thức, xu thế phát triển của quyền tham gia quản lý nhà nước của nhân dân thể hiện, ban đầu Nhà nước là chủ thể đóng vai trò chủ đạo trong quản lý nhà nước và xã hội dần dần tiến tới cả nhân dân và nhà nước cùng tham gia quản lý xã hội (nhân dân vừa trực tiếp tham gia quản lý nhà nước, vừa ủy quyền cho nhà nước quản lý những lĩnh vực nhất định của đời sống xã hội).

Dưới góc độ pháp lý quốc tế, quyền tham gia quản lý nhà nước đã được ghi nhận tại Điều 21.1. Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền năm 1948, cụ thể: “Mọi người đều có quyền tham gia vào việc quản lý đất nước mình, trực tiếp hoặc thông qua các đại diện đã được tự do lựa chọn”. Tiếp đó, Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị năm 1966 tại Điều 25 cũng khẳng định: “mọi công dân, không có bất kỳ sự phân biệt nào như đã nêu ở Điều 2 và không có sự hạn chế bất hợp lý nào, đều có quyền và cơ hội để tham gia vào việc điều hành các công việc xã hội một cách trực tiếp hoặc thông qua những đại diện được họ tự lựa chọn”. Từ chỗ là quyền mang tính chính trị, ít có dàn buộc pháp lý với các quốc gia ghi trong Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền. Quyền này đã được cụ thể hóa và mang tính dàn buộc pháp lý hơn trong Công ước quốc tế về quyền dân sự, chính trị năm 1966. Không chỉ là những nguyên tắc được ghi nhận chung chung, Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền và Công ước về quyền dân sự, chính trị còn chỉ ra cách thức để nhân dân có thể thực hiện quyền tham gia quản lý nhà nước, như trực tiếp hoặc thông qua các cơ quan đại diện do nhân dân bầu. Sự thừa nhận, ghi nhận quyền này trong các Công ước quốc tế là cơ sở pháp lý quan trọng để các quốc gia cụ thể hóa quyền này trong Hiến pháp, pháp luật quốc gia mình.

Ở Việt Nam, từ khi Nhà nước Việt Namdân chủ cộng hòa ra đời đến nay. Ngay từ khi soạn thảo Hiến pháp đầu tiên của Nhà nước Việt Namkiểu mới, Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: Nhà nước phải phát huy quyền làm chủ, phát huy tính tích cực và sáng tạo của nhân dân, “làm cho mọi người công dân Việt Nam thực sự tham gia quản lý công việc nhà nước…[7]”. Tiếp đó quyền này tiếp tục được ghi nhận, kế thừa trong các bản Hiến pháp năm 1946[8], Hiến pháp năm 1959, Hiến pháp năm 1980 và Hiến pháp năm 1992, sửa đổi, bổ sung năm 2011 cũng như các Luật và văn bản dưới Luật. Dù ở từng thời kỳ và mức độ ghi nhận có khác nhau[9], nhưng đều cho thấy quyền tham gia quản lý nhà nước là một quyền chính trị, hiến định của công dân, thể hiện quyền làm chủ của nhân dân.

2. Nội dung và thực tiễn thực hiện quyền tham gia quản lý nhà nước ở Việt Nam

          2.1. Pháp luật hiện hành về quyền tham gia quản lý nhà nước của nhân dân

Nội dung quyền tham gia quản lý nhà nước được ghi nhận trong các quy định pháp luật. Nguồn gốc, cơ sở của quyền này đã  được quy định tại Điều 2 Hiến pháp năm 1992 sửa đổi, bổ sung năm 2001: “Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức”. Nhân dân có thể gián tiếp tham gia quản lý nhà nước theo quy định tại Điều 6 Hiến pháp hiện hành, như: “Nhân dân sử dụng quyền lực Nhà nước thông qua Quốc hội và Hội đồng nhân dân là những cơ quan đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân, do nhân dân bầu ra và chịu trách nhiệm trước nhân dân”.  Hoặc nhân dân có thể trực tiếp tham gia vào quản lý nhà nước như quy định tại Điều 53, Hiến pháp này cũng ghi nhận: công dân có quyền tham gia quản lý Nhà nước và xã hội, tham gia thảo luận các vấn đề chung của cả nước và địa phương, kiến nghị với cơ quan Nhà nước, biểu quyết khi Nhà nước tổ chức trưng cầu ý dân”. Để cụ thể hóa quyền hiến định này, Nhà nước ta đã ban hành rất nhiều Luật cũng như văn bản dưới Luật nhằm tạo dựng và hoàn thiện hành lang pháp lý cho việc thực hiện quyền này, có thể liệt kê như: Luật Bầu cử Quốc hội năm 1997 (sửa đổi, bổ sung năm 2002), Luật Bầu cử Hội đồng nhân dân 2003, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật bầu cử Đại biểu Quốc hội và Luật Bầu cử Đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2010, Luật Tổ chức Quốc năm 2002 sửa đổi, bổ sung năm 2007, Luật Tổ chức Chính phủ năm 2002, Luật Cán bộ, công chức năm 2008, Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 2003, Luật Hoạt động Giám sát của Quốc hội năm 2003, Luật Thanh tra 2010, Luật Khiếu nại, tố cáo năm 1998 sửa đổi, bổ sung năm 2004, 2005, Luật Phòng chống tham nhũng năm 2005 sửa đổi, bổ sung năm 2007… và hàng trăm Nghị định cũng như các văn bản dưới luật khác quy định về vấn đề này. Các văn bản pháp luật này đã thể hiện rõ nội dung quyền tham gia quản lý nhà nước của nhân dân, có thể khái quát lại, gồm:

           Một là, nhân dân thông qua đại diện của mình để thực hiện quyền tham gia quản lý nhà nước.

Ở trung ương sau khi bầu xong cơ quan đại diện của mình, nhân dân tiếp tục ủy quyền cho các cơ quan đại diện của mình bầu ra những người có đủ đức, đủ tài, vừa hồng vừa chuyên giữ các chức vụ quan trọng của đất nước để thực hiện quản lý nhà nước, cụ thể: một là, Quốc hội cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nhân dân bầu ra Chủ tịch Quốc hội (một trong các đại biểu ưu tú mà nhân dân đã bầu ra) để điều hành các hoạt động của Quốc hội theo quy định của pháp luật; hai là, bầu ra Chủ tịch nước (người đứng đầu nhà nước về đối mội và đối ngoại, thống lĩnh các lực lượng vũ trang); ba là, bầu ra Thủ tướng người đứng đầu cơ quan hành pháp (Chính phủ), các Phó Thủ tướng giúp việc cho Thủ tướng và các Bộ trưởng là tư lệnh các lĩnh vực để quản lý xã hội; bốn là, bầu ra Chánh án Tòa án nhân dân tối cao (người đứng đầu quyền tư pháp); Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân dân tối cao. Từ đó hình thành lên hệ thống các cơ quan nhà nước ở Trung ương nhằm thay mặt nhân dân thực hiện quyền tham gia quản lý nhà nước.

Ở địa phương, sau khi bầu xong các cơ quan đại diện của mình (Hội đồng nhân dân các cấp tỉnh, huyện, xã). Hội đồng nhân dân thay mặt nhân dân bầu ra các chức vụ quan trọng ở địa phương như Chủ tịch, Phó chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp và một số chức vụ quan trọng khác như người đứng đầu các sở, Phòng ban[10] nhằm đảm bảo thực hiện quản lý nhà nước được có hiệu quả thông suốt từ trên xuống dưới.

Hai là, nhân dân trực tiếp tham gia quản lý nhà nước khi được bầu, bổ nhiệm, thi tuyển vào chức vụ nhất định. Ví dụ: được Quốc hội bầu làm Chủ tịch nước, Thủ tướng Chính phủ, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Bộ trưởng, được bổ nhiệm vào chức thứ thứ trưởng hay công dân trực tiếp tham gia thi tuyển vào các vị trí nhất định của cơ quan nhà nước để tham gia quản lý nhà nước. Ở nước ta theo số liệu thống kê năm 2007 thì tổng số cán bộ, công chức, viên chức trên cả nước là 1.670.000 người, với gần 60% có trình độ đại học, trên địa học, trên 40% có trình độ trung cấp lý luận trở lên[11]. Còn theo thống kê của Vụ Tổ chức – Biên chế, Bộ Nội vụ chỉ tính số biên chế công chức hành chính của cả nước đã khoảng 260 nghìn người[12]. Qua đó có thể thấy số lượng người dân trực tiếp tham gia quản lý nhà nước ở nước ta những năm vừa qua không ngừng tăng về cả số lượng và chất lượng góp phần quan trọng vào tăng cường quyền tham gia quản lý nhà nước của nhân dân.

Ba là, thông qua hoạt động tham gia thảo luận, góp ý, xây dựng Hiến pháp, pháp luật để thực hiện quyền tham gia quản lý nhà nước. Một là, nhân dân có thể gián tiếp thông qua các đại biểu Quốc hội tiến hành hoạt động xây dựng Hiến pháp và các đạo luật về các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội. Hai là, nhân dân có thể trực tiếp tham gia vào thảo luận, xây dựng các dự án Luật, dự án Pháp lệnh. Vấn đề này đã được quy định trong Điều 39 và Điều 40, Luật Ban hành các văn bản quy phạm pháp luật như một công đoạn trong quy trình xây dựng pháp luật. Thực tiễn xây dựng các dự án luật, dự án pháp lệnh, Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho thấy, nhân dân có thể góp ý kiến về dự án luật, dự án pháp lệnh thông qua cơ quan, tổ chức của mình, trực tiếp hoặc gửi thư góp ý tới Văn phòng Quốc hội, các cơ quan, tổ chức soạn thảo dự án hoặc thông qua các phương tiện thông tin đại chúng; Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên, cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân có trách nhiệm tổ chức, tạo điều kiện để công dân thuộc đơn vị mình tham gia góp ý kiến vào dự án luật, dự án pháp lệnh. Mục đích cuối cùng là để xây dựng được văn bản pháp luật tốt nhất, có vòng đời lâu nhất.

Bốn là, tham gia quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước. Hiến pháp và pháp luật ghi nhận nhân dân có thể gián tiếp thực hiện quyết định các vấn đề quan trọng về kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh quốc phòng của thông qua Quốc  hội đại diện cho nhân dân. Mặt khác nhân dân cũng có thể trực tiếp thực hiện quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước về chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội và an ninh quốc phòng, đối ngoại trực tiếp thông qua việc trưng cầu ý dân khi nhà nước tổ chức. Bên cạnh đó nhân dân có thể tham gia thảo luận các vấn đề ở địa phương cũng như trên phạm vi cả nước,…. Ví dụ: góp ý hoàn thiện văn kiện Đại hội Đảng hay nhân dân tham gia bàn công việc liên quan đến thôn, bản, tổ dân phố, xây dựng cầu, đường, bàn bạc các chính sách; …

Năm là, về kiểm tra, giám sát việc thực hiện quyền lực nhà nước. Theo quy định của pháp luật hiện hành nhân dân có thể thông qua Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp thay mặt nhân dân giám sát việc thực hiện quyền lực nhà nước phù hợp với Hiến pháp và pháp luật và nhân dân giám sát quá trình này thông qua việc tiếp xúc cử tri và trả lời câu hỏi của cử tri và từ đó nhân dân xem xét có bầu lại người đó nữa hay không. Bên cạnh đó nhân dân cũng có thể trực tiếp tham gia vào việc này, như giám sát, đánh giá hoạt động của các cơ quan nhà nước, kiến nghị, khiếu nại, tố cáo khi phát hiện cơ quan nhà nước, các chủ thể có thẩm quyền có hành vi vi phạm pháp luật.

2.2. Thực trạng thực hiện quyền tham gia quản lý nhà nước của nhân dân

          Sự tham gia của nhân dân vào quản lý nhà nước những năm vừa qua đã tạo nên nền tảng nhất định về kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng, đối ngoại, ổn định chính trị cho đất nước, bước đầu nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân. Tuy nhiên, hiện nay nếu nhìn vào từng lĩnh vực quản lý nhà nước có thể thấy không chỗ nào không có vấn đề, như:

Về kinh tế, tốc độ tăng trưởng chậm, lạm phát gia tăng, giá cả xăng, dầu, điện cho đến các mặt hàng tiêu dùng thiết yếu đều tăng chóng mặt, sản xuất đình đốn, nhiều doanh nghiệp, tập đoàn lớn phá sản, ví dụ: tập đoàn vinashin…[13], nhập siêu không có xu hướng giảm[14], các dự án đầu tư từ xây dựng cơ bản đến các dự án cụ thể, như các dự án bất động sản đều gặp những vấn đề nan giải[15]…; về giao thông thì hỗn loạn chưa tìm ra hướng giải quyết lâu dài, đặc biệt tại các đô thị lớn, như Hà Nội và Tp. Hồ Chí Minh; về quy hoạch thiếu tầm nhìn, quy hoạch sau mâu thuẫn, chồng chéo với quy hoạch trước, thiếu tính khả thi… Ví dụ theo quy hoạch phát triển giao thông ở Hà Nội thì sẽ có nhiều cây cầu vượt mới chỉ được xây dựng xong vài năm bị dỡ bỏ[16],…; về y tế bên cạnh thiếu cơ sở vật chất phục vụ khám, chữa bệnh thì giá thuốc tăng, chi phí khám chữa, điều trị bệnh tốn kém, thủ tục hành chính nhiêu khê, phiền hà làm cho hành trình khám chữa bệnh của nhân dân gặp nhiều khó khăn; về giáo dục chương trình đào tạo tiểu học đến đại học thậm chí là sau đại học bế tắc, chưa xác định được chiến lược giáo dục rõ ràng…; về văn hóa tồn tại nhiều vấn đề từ bất cập trong quản lý thể thao đến quy trình vinh danh các ca sĩ, nghệ sĩ với các giải thưởng nhà nước, văn hóa đang bị xuống cấp trầm trọng… dẫn tới đời sống của nhân dân thì ngày càng khó khăn, phát triển xã hội thiếu bền vững. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến vấn đề này trong đó có quyền tham gia quản lý nhà nước của nhân dân chưa được bảo đảm. Bên cạnh những tồn tại của quản lý nhà nước về vĩ mô thì quyền tham gia quản lý nhà nước của nhân dân ở góc độ cụ thể việc nhận thức và thực tiễn thực hiện quyền này cũng còn không ít hạn chế:

          Một là, về nhân dân gián tiếp thực hiện quyền tham gia quản lý nhà nước. Vẫn chưa xác định được rõ giới hạn quyền tham gia quản lý nhà nước của các cơ quan đại diện của nhân dân. Do vậy nhân dân ủy quyền nhưng có xu hướng nhân dân không thể kiểm soát được việc thực hiện quyền tham gia quản lý nhà nước của các cơ quan này…;

          Hai là, việc tiếp cận các thông tin về các lĩnh vực quản lý nhà nước vẫn còn nhiều khó khăn… Quyền được tiếp cận thông tin của người dân vẫn chưa được ghi nhận trong Hiến pháp và chưa được cụ thể hóa… ảnh hưởng đến quyền tham gia quản lý nhà nước của nhân dân.

          Ba là, về việc tham gia quản lý nhà nước thông qua thi tuyển vào những vị trí nhất định. Về nguyên tắc tương đối rõ ràng, nhưng thực tiễn cũng còn nhiều vấn đề phải bàn. Ví dụ: tuyển dụng vẫn chưa tuân theo quy luật cung cầu hay người được tuyển xếp công việc không đúng với chuyên môn của họ. Do vậy sẽ làm cho sức cống hiến giảm đi rõ rệt.

Ba là, việc phản biện đương lối, chính sách của Đảng và Nhà nước cũng như tổ chức lấy ý kiến của nhân dân về dự án luật, dự án pháp lệnh vẫn chưa được thực hiện một cách đồng bộ, có hệ thống và còn mang tính hình thức… Ví dụ lấy ý kiến của nhân, nhưng không xem xét, tiếp thu và cũng không có trả lời góp ý nếu không tiếp thu…

          Bốn là, Nhà nước một mặt kêu gọi nhân dân tham gia vào kiểm tra, giám sát việc thực hiện quyền lực nhà nước, như phòng chống tham nhũng, lãng phí,… Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy chưa có cơ chế để bảo vệ những người tham gia vào quá trình này. Do vậy họ thường hay bị trù dập, đe dọa, nếu làm việc trong cơ quan nhà nước thì khó tiến thân…[17]

          Năm là, nhân dân chưa thực hiện được quyền tham gia quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước do thiếu cơ sở pháp lý. Ví dụ: Hiến pháp quy định nhân dân được tham gia biểu quyết khi nhà nước tổ chức trưng cầu dân ý, nhưng lại chưa quy định rõ những trường hợp nào Nhà nước phải tổ chức trưng cầu ý dân và nếu Nhà nước không tổ chức thì người dân cũng không được biểu quyết và thực tiễn Nhà nước cũng chưa từng một lần trưng cầu ý dân.

          Những tồn tại cả về vĩ mô và vi mô đó cho thấy vẫn chưa phát huy được vai trò quan trọng của nhân dân trong tham gia quản lý nhà nước. Sở dĩ còn những tồn tại trên theo chúng tôi là do nhiều nguyên nhân: từ nhận thức của các cấp lãnh đạo và người dân về quyền tham gia quản lý nhà nước còn hạn chế; văn hóa hành chính cũ (quan liêu, mệnh lệnh hành chính còn nặng nề); nhiều quy định pháp luật về quyền tham gia quản lý nhà nước vẫn còn thiếu thống nhất, thiếu đồng bộ, thậm chí có những quy định còn chống chéo lẫn nhau; chưa giới hạn được rõ ràng mức độ ủy quyền tham gia quản lý nhà nước của nhân dân cho các cơ quan đại diện dẫn tới nhân dân khó giám sát được việc thực hiện quyền của các cơ quan này; thực tiễn hoạt động quản lý nhà nước ở nước ta cho thấy tính minh bạch, công khai trong các hoạt động của cơ quan quản lý nhà nước còn chưa cao. Hiện tượng lợi dụng việc bưng bít thông tin để tư lợi vẫn tồn tại, trong khi quyền được tham gia tiếp cận thông tin của nhân dân vẫn chậm, nhiều thông tin quan trọng từ đường lối, chính sách, cho đến các dự án cụ thể nhân dân không tiếp cận được. Một vấn đề nữa là cách thức tổ chức thực hiện quyền tham gia quản lý nhà nước của nhân dân vẫn còn nhiều tồn tại từ các quy định pháp luật đến tổ chức thực hiện…

3. Kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện quyền tham gia quản lý nhà nước ở Việt Nam

          Có thể khẳng định mục đích tham gia quản lý nhà nước của nhân dân là nhằm xây dựng một xã hội dân chủ, bảo đảm quyền con người, thúc đẩy kinh tế, văn hóa, xã hội, giáo dục, y tế,… phát triển nhằm mang lại cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho nhân dân, tất cả do dân, vì dân. Để làm được điều đó chúng ta phải lưu ý những vấn đề sau:

 Thứ nhất, về thuật ngữ quyền tham gia quản lý nhà nước. Hiện nay, đa phần trong các văn kiện pháp lý quốc tế cũng như Hiến pháp và pháp luật nước ta đều sử dụng thuật ngữ “quyền tham gia quản lý nhà nước”. Tuy nhiên, theo chúng tôi trong bối cảnh tiến tới xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay, quyền tham gia quản lý nhà nước của nhân dân ngày càng được thừa nhận rộng rãi và mang tính tất yếu vì nhân dân là gốc của quyền lực. Nên nếu vẫn sử dụng từ “tham gia” vào nhóm thuật ngữ quyền tham gia quản lý, sẽ thể hiện tính bị động của quyền này, chậm/không đáp ứng được xu thế phát triển của đất nước và quyền con người. Do vậy chúng tôi đồng ý với quan điểm của một số nhà khoa học cho  rằng nên bỏ từ “tham gia” thống nhất nhận thức và gọi là Quyền quản lý nhà nước của nhân dân.

Thứ hai, về nhận thức. Đối với cán bộ lãnh đạo và các cơ quản lý nhà nước cần phải nhận thức, thực hiện quyền quản lý nhà nước của nhân dân sẽ góp phần quan trọng xây dựng một nhà nước pháp quyền hoạt động có hiệu lực và hiệu quả. Đồng thời với nhận thức này là quyết tâm chính trị của nhà lãnh đạo từ việc đưa ra đường lối đến quy định pháp luật và việc tổ chức thực thi đều cần có sự tham gia của nhân dân vào quá trình này, phải thực sự lấy dân làm gốc, tất cả vì lợi ích của nhân dân. Bên cạnh đó cần nâng cao khả năng nhận thức cho nhân dân về quyền được tham gia quản lý nhà nước của mình đặc biệt là các quyền cụ thể. Bởi nhân dân sẽ không thể tham gia quản lý nhà nước được nếu họ không biết được quyền của họ là gì.

Thứ ba, về pháp luật. Cần nghiên cứu sửa đổi Hiến pháp quy định rõ nhân dân có thể thực hiện quyền quản lý nhà nước một cách trực tiếp và thông qua các đại diện của mình[18]. Hơn nữa cần cụ thể hóa các quyền quản lý nhà nước của nhân dân trong quá trình xây dựng và hoàn thiện các đạo luật như: Luật Bầu cử Quốc hội, Luật Bầu cử Hội đồng nhân dân, Luật Tổ chức Quốc hội, Chính phủ, Luật Phòng Chống tham nhũng, lãng phí, Luật Trưng cầu ý dân, Luật về Hội, Luật Tiếp cận thông tin… nhằm tạo sự linh hoạt cho nhân dân trong quá trình thực hiện quyền quản lý nhà nước, đặc biệt là quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước.

Tuy nhiên, quyền tham gia quản lý nhà nước của nhân dân cũng cần có những giới hạn nhất định. Dưới góc độ lý luận chúng tôi cho rằng mặc dù nhân dân là chủ thể của quyền lực nhà nước, nhưng quyền tham gia quản lý Nhà nước của nhân dân không phải là quyền vô hạn mà nó bị giới hạn bởi các quy định pháp luật. Pháp luật không chỉ giới hạn quyền lực của Nhà nước mà còn giới hạn quyền quản lý nhà nước của công dân. Không phải có quyền quản lý nhà nước là tự do vô chính phủ mà tất cả các hoạt động này phải được thực hiện theo quy định của pháp luật trên cơ sở đảm bảo quyền con người, lợi ích quốc gia, trật tự an toàn xã hội cũng như quyền và lợi ích hợp pháp của người khác.

Thứ tư, cần đảm bảo các điều kiện cần thiết để nhân dân thực hiện quyền quản lý nhà nước. Đặc biệt là phải đảm bảo sự công khai, minh bạch trong hoạt động quản lý nhà nước ngay từ khi bắt đầu hoạch định đường lối, chính sách, các dự án cho đến các công việc cụ thể trước toàn thể nhân dân. Hơn nữa, cần có những biện pháp cụ thể đảm bảo cho nhân dân có thể tiếp cận với các thông tin được nhanh nhất, dễ dàng, thuận lợi với chi phí rẻ nhất. Từ đó tạo cơ sở để nhân dân tham gia quản lý nhà nước ngày càng hiệu quả.

Thứ năm, cần dân chủ hóa, minh bạch hóa hoạt động xây dựng pháp luật, thu hút nhân dân tham gia sâu rộng vào quá trình soạn thảo các dự án luật, pháp lệnh… để đưa pháp luật đưa cuộc sống vào pháp luật. Việc tổ chức cho người dân tham gia đóng góp ý kiến cần đi vào thực chất, tránh phô trương hình thức theo góc độ tuyên truyền. Cần tạo điều kiện để người dân tự giác, chủ động tham gia đóng góp ý kiến và sau đó cần tiếp thu một cách kỹ lưỡng ý kiến của nhân dân. Cần nhận thức sâu sắc rằng, nhân dân là chủ thể sáng tạo pháp luật. Từ đó tạo ra môi trường thuận lợi để nhân dân thực hiện năng lực chủ thể sáng tạo luật: đóng góp ý kiến không chỉ thông qua các cơ quan, tổ chức đại diện mà tăng cường hình thức trực tiếp tham gia đóng góp ý kiến xây dựng các dự án luật hoặc trực tiếp tham gia vào quá trình soạn thảo luật.

Thứ sáu, nâng cao vai trò của các phương tiện truyền thông trong bảo đảm quyền tham gia quản lý nhà nước của nhân dân. Với ưu thế đặc biệt của mình phương tiện truyền thông đóng vai trò là cầu nối chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước đến với nhân dân và phản ánh tâm tư, nguyện vọng hiệu quả của các đường lối, chính sách, pháp luật của nhân dân trở lại đối với các cơ quan quản lý nhà nước. Phương tiện truyền thông góp phần tuyên truyền cho nhân dân hiểu hơn về quyền tham gia quản lý nhà nước, trong đó có các quyền cụ thể nhất. Đồng thời phương tiện truyền thông với tư cách là quyền lực thứ tư cũng góp phần quan trọng vào phát hiện các sai trái, vi phạm của cơ quan nhà nước trong việc hạn chế quyền tham gia quản lý nhà nước của nhân dân góp phần thực hiện quyền này được hiệu quả hơn.

          Thứ bảy, về cách thức thực hiện quyền tham gia quản lý nhà nước của nhân dân. Cần phải đa dạng hóa các hình thức thực hiện quyền này. Hơn nữa bên cạnh việc giới hạn rõ quyền tham gia quản lý nhà nước của nhân dân thì cũng cần có những chế tài để xử lý các hành vi cản trở việc thực hiện quyền này của nhân dân trong khuôn khổ pháp luật. Bên cạnh đó cần xây dựng những tiêu chí nhất định, như: các vấn đề, lĩnh vực mà nhân dân được tham gia vào quản lý nhà nước; số lượng nhân dân tham gia; hiệu quả của các lĩnh vực quản lý nhà nước và lợi ích của nhân dân… để đánh giá mức độ hiệu quả của việc thực hiện quyền tham gia quản lý nhà nước.

 


[1] Xem 900 thuật ngữ pháp lý ViệtNam, Nhà xuất bản Tp. Hồ Chí Minh năm 1996.

[2] Trước khi có Nhà nước, con người có thể tham gia vào hoạt động quản lý nhất định của bộ tộc, xong dưới góc độ lý thuyết đó không phải là tham gia quản lý nhà nước.

[3] Dân chủ nguyên gốc của từ này bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp là demockratia.

[4] Ví dụ ở Nhà nước Xpac có Hội nghị công dân là cơ quan quyền lực cao nhất bao gồm tất cả những người Xpac từ 30 tuổi tuổi trở lên. Còn ở Nhà nước cộng hòa quý tộc Aten người dân tham gia vào quản lý nhà nước còn rộng hơn, nhà nước này căn cứ vào tài sản để chia dân cư thành 4 đẳng cấp và tùy theo những đẳng cấp này để được bầu vào chức vụ nhất định để tham gia quản lý nhà nước. Đẳng cấp thấp nhất không được bầu vào giữ các chức vụ nhất định tuy nhiên cũng được tham dự Hội nghị công dân (mọi quyền lực tối cao của nhà nước đều tập trung vào Hội nghị công dân). Xem thêm: Giáo trình Lịch sử Nhà nước và Pháp luật thế giới, Nhà xuất bản Đại học quốc gia Hà Nội, tr 52-63).

[5] Thời kỳ này sự tham gia quản lý nhà nước của nhân dân được thể hiện rộng rãi hơn ở chỗ người dân có thể tham gia thi cử, được bổ nhiệm làm quan để trực tiếp quản lý nhà nước. Bên cạnh đó còn nhiều kênh để nhân dân tham gia vào quản lý nhà nước như khi nhà nước cần tham khảo ý kiến của nhân dân về những vấn đề quan trọng của đất nước. Ví dụ Hội nghị Diên Hồng vào thời Trần ở ViệtNam…

[6] Nhà nước chủ nô là công cụ thống trị của giai cấp chủ nô đối với giai cấp nô lệ (nô lệ là công cụ biết nói, là một thứ tài sản không được coi là con người). Còn xã hội phong kiến người dân bị con là thần dân, dưới sự cai trị của thiên tử (vua). Vua thay mặt trời để quản lý, ban phát cho nhân dân… thậm chí thời kỳ này cũng có những quan điểm coi dân làm gốc, như trong Tứ Thư của Mạnh Tử có nói “dân vi quýxã tắc thứ chiquân vi khinh” nghĩa lấy dân làm gốc, được lòng dân là thuận thiên lý ,là đươc tất cả .Ai ngộ chân lỳ này người ấy làm chủ thiên hạ ,vì dân thay trời hành đạo. Tuy nhiên, gốc ở đây không phải là gốc của quyền lực nhà nước như xã hội dân chủ hiện đại mà là gốc để quản lý, theo nghĩa nếu không có dân thì quản lý ai…

[7] Hồ Chí Minh toàn tập 9, tr.590.

[8] Do hoàn cảnh thực tiễn thời đó mà Hiến pháp năm 1946 vẫn chưa được đưa vào ứng dụng thực tiễn.

[9] Hiến pháp 1946 thừa nhận quyền tham gia quản lý nhà nước của nhân dân (Điều thứ 7). Nhân dân nhân dân có quyền phúc quyết về Hiến pháp khi hai phần ba tổng số nghị viên yêu cầu và được trưng cầu những việc quan hệ đến vận mệnh quốc gia khi được hai phần ba tổng số nghị viên đồng ý (Điều thứ 21). Đến Hiến pháp năm 1959 quy định tất cả quyền lực trong nước Việt Nam dân chủ cộng hoà đều thuộc về nhân dân. Nhân dân sử dụng quyền lực của mình thống qua Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp do nhân dân bầu ra và chịu trách nhiệm trước nhân dân. Nhân dân có quyền giám sát hoạt động quản lý nhà nước và có quyền khiếu nại, tố cáo khi có vi phạm pháp luật. Tuy nhiên, Hiến pháp này lại không quy định quyền tham gia quản lý nhà nước trực tiếp của nhân dân. Đến Hiến pháp năm 1980 lại quy định công dân có quyền tham gia quản lý công việc của Nhà nước và của xã hội.

 

[10] Tuy nhiên, những người này sau khi được bầu cần phải có quyết định bổ nhiệm của các người đứng đầu cơ quan hành chính cấp trên trực thuộc (theo nguyên tắc song trùng trực thuộc).

[11] Xem bài: Công đoàn viên chức Việt Nam tích cực tham gia giám sát và phản biện xã hội. Theo TTXVN. Nguồn:http://www.dostquangtri.gov.vn/chuyenmuc/ldld/include/defaultasp?option=2&Menu=241& sub= 344&chitiet=925.

[12]Xem bài: Cuối 2011 sẽ dừng tinh giản biên chế Nhà nước, Nguồn: http://www.baomoi.com/Home  /ThoiSu/vtc.vn/Cuoi-2011-se-dung-tinh-gian-bien-che-Nha-nuoc/7024611.epi.

[13] Xem thêm bài: 48.000 DN phá sản không phải con số ‘bi đát’ của tác giả Phạm Huyền. Nguồn: http://vef.vn/2011-10-12-trang-page, thứ 3, ngày 04 tháng 10 năm 2011 17:10 (GMT+7).

[14] Xem thêm bài: Năm 2011: Nhập siêu dự kiến khoảng 14 – 14,5 tỷ USD. Nguồn: http://vietbao.vn/Kinh-te/Nam-2011-Nhap-sieu-du-kien-khoang-14-14-5-ty-USD/65233578/87/

[15] Xem thêm: Năm 2012, thị trường bất động sản vẫn “tối”, nguồn: http://www.baomoi.com/Nam-2012-thi-truong-bat-dong-san-van-toi/147/7565897.epi.

[16] Xem thêm: Hà Nội sẽ phá 3 cầu vượt nghìn tỷ mới xây?. Nguồn: http://www.vietnamnet.vn/vn/tin-nhanh/27665/ve-viec-pha-3-cau-vuot-moi-xay-o-ha-noi.html[17] Xem thêm bài: Thêm một người chống tham nhũng bị hành hung, của tác giả Nguyễn Duy – Quang Anh. Nguồn: http://dantri.com.vn/c25/s20-487145/them-mot-nguoi-chong-tham-nhung-bi-hanh-hung.htm.

 [18] Hiện nay có quan điểm cho rằng quy định như Hiến pháp hiện hành là có sự không thống nhất. Vì Điều 6 Hiến pháp hiện hành quy định nhân dân thực hiện quyền lực của mình thông qua Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp, nhưng Điều 53 tiếp tục quy định nhân dân có thể trực tiếp thực hiện quyền lực của mình. (Xem thêm Điều 6, Điều 53 Hiến pháp 1992 sửa đổi, bổ sung năm 2001).

Bài đăng Tạp chí Luật học số 11/2011

 VỀ QUYỀN ĐƯỢC SỐNG TRONG MÔI TRƯỜNG TRONG LÀNH Ở

VIỆT NAM HIỆN NAY

                           ThS. Bùi Đức Hiển

                            Viện Nhà nước và Pháp luật

1.     Khái quát chung về quyền được sống trong môi trường trong lành

Chức năng của môi trường tự nhiên trên trái đất là tạo cân bằng sinh thái nhằm duy trì sự sống và hoạt động bình thường của con người cũng như sinh vật. Còn tính hữu ích của chúng thể hiện ở chỗ, môi trường cho ta không khí để thở, đất để xây dựng nhà cửa, trồng cây, chăn nuôi; cung cấp các loại tài nguyên khoáng sản phục vụ cho sản xuất và cuộc sống hiện đại của con người; môi trường cũng là nơi chứa đựng, đồng hoá các chất thải… của con người và sinh vật. Với chức năng và tính hữu ích như vậy, ngay từ ban đầu môi trường tự nhiên là điều kiện và cơ sở bảo đảm sự sinh tồn, phát triển của con người và các sinh vật trên trái đất. Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của xã hội loài người, đặt biệt từ thập kỷ 70 của thế kỷ XX đến nay sự phát triển như vũ bão của công nghiệp dẫn đến nhiều loại tài nguyên thiên nhiên bị khai thác cạn kiệt, nạn ô nhiễm, suy thoái môi trường xảy ra ảnh hưởng tiêu cực đến môi sinh và sự phát triển lâu bền của nhiều quốc gia phát triển cũng như đang phát triển. Do vậy vấn đề sống trong môi trường trong lành đã thực sự được đặt ra cấp bách ở nhiều quốc gia trên thế giới, đặc biệt là Việt Nam khi đang trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Theo nghĩa rộng thì “môi trường là toàn bộ nói chung những điều kiện tự nhiên và xã hội trong đó con người hay một sinh vật tồn tại, trong mối quan hệ với con người hay sinh vật ấy”[1]. Dưới góc độ pháp lý, môi trường tự nhiên được hiểu bao gồm các yếu tố tự nhiên và vật chất nhân tạo bao quanh con người, có ảnh hưởng đến đời sống, sản xuất, sự tồn tại phát triển của con người và sinh vật (khoản 1, Điều 3, Luật Bảo vệ Môi trường năm 2005).

Còn theo chúng tôi, môi trường trong lành là môi trường sạch đẹp, thuần khiết, không có ô nhiễm, suy thoái môi trường, trong môi trường đó con người và sinh vật sống thoải mái, sống khỏe mạnh, sống hữu ích và sống hài hòa với thiên nhiên.

Ngày nay, sống trong môi trường trong lành là một quyền con người quan trọng. Có thể nói, quyền con người chứa đựng các giá trị chung được cả thế giới ghi nhận và bảo vệ, nó là quyền tự nhiên và mang tính lịch sử. Cùng với sự phát triển của xã hội các giá trị của quyền con người ngày càng được mở rộng và bảo vệ, ban đầu quyền con người gồm những quyền cơ bản như quyền được sống, quyền được tự do,… sau đó nhiều quyền quan trọng khác cũng được coi là giá trị chung của nhân loại (quyền con người), trong đó có quyền được sống trong môi trường trong lành. Dưới góc độ ngữ nghĩa, “quyền con người là những nhu cầu, lợi ích tự nhiên, vốn có và khách quan của con người được ghi nhận và bảo vệ trong pháp luật quốc gia và các thỏa thuận pháp lý quốc tế”[2]. Theo Văn phòng Cao ủy Liên Hợp quốc thì “quyền con người là những bảo đảm pháp lý toàn cầu có tác dụng bảo vệ các cá nhân và các nhóm chống lại những hành động hoặc sự bỏ mặc mà làm tổn hại đến nhân phẩm, những sự được phép và tự do cơ bản của con người”[3].

. Từ những dẫn giải trên, chúng tôi cho rằng quyền được sống trong môi trường trong lành là những nhu cầu, lợi ích tự nhiên, vốn có và khách quan của con người được sống trong môi trường sạch đẹp, thuần khiết, chất lượng với hệ sinh thái cân bằng, không có ô nhiễm, suy thoái hay sự cố môi trường ảnh hưởng đến sức khỏe, tính mạng và hoạt động bình thường của con người được pháp luật quốc gia cũng như pháp luật quốc tế ghi nhận và bảo vệ.

Ở bình diện quốc tế, quyền được sống trong môi trường trong lành đã được ghi nhận trong nhiều văn kiện, công ước quốc tế, như: Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền năm 1948, Nghị quyết của Đại hội đồng LHQ năm 1962 về Sự phát triển kinh tế và bảo vệ thiên nhiên, Công ước quốc tế về các quyền chính trị, dân sự; Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, văn hoá và xã hội năm 1966, Tuyên bố Xtốc khôm về môi trường con người năm 1972, Tuyên bố Rio d’Janeiro về môi trường và phát triển (1992), Tuyên bố Johannesburg năm 2002 về phát triển bền vững và Hội nghị về Chống Biến đổi khí hậu (2009) tại Copenhagen… Trong đó Tuyên bố Liên Hợp quốc về môi trường con người năm 1972 lần đầu tiên chỉ rõ: “con người có quyền cơ bản được sống trong một môi trường chất lượng, cho phép cuộc sống có phẩm giá và phúc lợi mà con người có trách nhiệm long trọng bảo vệ, cải thiện cho thế hệ hôm nay và mai sau”[4] Tuyên bố Rio de Janeiro cũng tiếp tục khẳng định: “Con người là trung tâm của các mối quan tâm về sự phát triển lâu dài. Con người có quyền được hưởng một cuộc sống hữu ích, lành mạnh và hài hoà với thiên nhiên”. Qua đó chúng ta thấy sống trong môi trường trong lành được coi là quyền con người chính thức được ghi nhận trong Tuyên bố Xtốckhom về môi trường con người năm 1972 và được củng cố, phát triển trong các văn kiện quốc tế sau này.

Ở nước ta trước khi tiến hành sự nghiệp đổi mới, nền kinh tế còn phát triển chậm tự cung, tự cấp, nhỏ lẻ…[5]. Thậm chí thời kỳ này sự phát thải từ các nhà máy, xí nghiệp còn đi vào tác phẩm văn, thơ, báo chí như một biểu tượng mạnh mẽ cho sự phát triển đi lên chủ nghĩa xã hội của đất nước.

Sau khi tiến hành sự nghiệp đổi mới, mở cửa tháng 12/1986, chúng ta đẩy mạnh phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần (tức là sản xuất nhiều hàng loạt, trước đây mỗi gia đình chỉ nuôi vài con gà, con lợn thì nay mở rộng nuôi đến hàng nghìn, hàng vạn con trong các trang trại, hay trước kia chỉ có nhà máy, xí nghiệp của nhà nước thì nay các nhà máy xí nghiệp thuộc nhiều thành phần kinh tế được thành lập và phát triển). Tuy nhiên, sự phát triển ồ ạt, thiếu quy hoạch đã dẫn tới môi trường nước, đất đai, không khí nhiều khu vực ở nước ta bị ô nhiễm nặng nề. Điều này cũng dễ hiểu bởi việc bảo đảm tăng trưởng liên tục ở mức cao mà không tàn phá môi trường là một bài toán không dễ. Hơn nữa, sức ép phải tăng trưởng có thể buộc chúng ta phải đẩy mạnh việc khai thác tài nguyên thiên nhiên, đồng thời cắt giảm hoặc trì hoãn những khoản đầu tư không thể thiếu cho môi trường[6]. Xu thế này tác động xấu đến quyền được sống trong môi trường trong lành của nhân dân.

Nhận thức được những nguy cơ này, vấn đề bảo vệ môi trường, bảo đảm quyền được sống trong môi trường trong lành đã được Đảng ta khẳng định và đề cập sớm trong Kế hoạch quốc gia về môi trường và phát triển bền vững 1991-2000, Chỉ thị 36 ngày 25/6/1998 của Bộ Chính trị khoá VIII, Nghị quyết số 41 của Bộ Chính trị  khoá IX ngày 15/11/2004, Định hướng chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam (2006), Chiến lược bảo vệ môi trường quốc gia đến 2010 và định hướng đến năm 2020. Gần đây nhất lại tiếp tục được khẳng định trong các văn kiện Đại hội XI của Đảng, như Cương lĩnh phát triển đất nước sửa đổi, bổ sung năm 2011, Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội 2011 – 2020 và Phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội năm 2011 – 2015.

2. Pháp luật Việt Nam về bảo đảm quyền được sống trong môi trường trong lành

Để thể chế hóa đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước về quyền được sống trong môi trường trong lành. Những năm qua, Nhà nước ta đã ban hành một hệ thống các văn bản pháp luật để bảo đảm quyền được sống trong môi trường trong lành, có thể kể ra, như: Hiến pháp 1992 (sửa đổi năm 2001); Luật Bảo vệ Môi trường (BVMT) năm 2005; Luật Đa dạng sinh học năm 2008; Luật Bảo vệ và phát triển rừng 2004; Bộ luật Hình sự (sửa đổi, bổ sung) năm 2009; Luật Khoa học và Công nghệ năm 2000; Luật Thuế tài nguyên 2009; Luật Đất đai (2003); Luật Dầu khí (sửa đổi, bổ sung) năm 2008; Luật Khoáng sản năm 2010; Luật Tài nguyên n­ước 1998; Luật Doanh nghiệp 2005; Luật Thủy sản 2003; Pháp lệnh Bảo vệ và kiểm dịch thực vật 2001; Pháp lệnh An toàn và kiểm soát bức xạ năm 1996; Pháp lệnh Phí và lệ phí 2001; Luật Bảo vệ sức khoẻ nhân dân 1989; Luật Đê điều, Luật Bảo vệ Môi trường năm 1993, Luật Bảo vệ Môi trường năm 2005… Các Luật trên, đặc biệt là pháp luật về bảo vệ môi trường đã góp phần quan trọng vào bảo vệ môi trường tự nhiên nói chung và đảm bảo cho con người được sống trong môi trường trong lành nói riêng.

Luật Bảo vệ Môi trường năm 1993 đã thể chế hóa quyền được sống trong môi trường trong lành ở Lời nói đầu của Luật và các chế định, quy định về phòng ngừa, ngăn chặn ô nhiễm, suy thoái môi trường (Chương II, Chương III; về báo cáo đánh giá tác động môi trường (Chương IV)… của Luật này. Tuy vậy, sau hơn mười năm thực hiện, LBVMT 1993 đã bộc lộ nhiều thiếu sót, bất cập, các quy định còn mang nặng tính chất khung, thiếu cụ thể và chưa rõ ràng nên khó áp dụng trong thực tiễn; chưa đáp ứng được những yêu cầu bảo đảm quyền được sống trong môi trường trong lành trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế. Trong bối cảnh đó, việc sửa đổi cơ bản, toàn diện LBMT 1993 để bảo vệ quyền này là rất cần thiết[7].

          Trong Luật Bảo vệ Môi trường năm 2005, nguyên tắc quyền con người được sống trong môi trường trong lành vẫn tiếp tục được thừa nhận và được mở rộng. Mặc dù chưa được ghi nhận thành một nguyên tắc riêng, song nó được thể hiện qua: nguyên tắc phát triển bền vững, nguyên tắc coi trọng phòng ngừa ô nhiễm, suy thoái môi trường, nguyên tắc sử dụng các công cụ kinh tế trong hoạt động bảo vệ môi trường, nguyên tắc xã hội hóa hoạt động bảo vệ môi trường hay nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền… và được cụ thể hóa vào các quy định của Luật. Có thể nói các nguyên tắc này có mối quan hệ chặt chẽ với nhau là cơ sở của nhau, biểu hiện thông qua nhau, việc thực hiện tốt nguyên tắc này sẽ góp phần vào đảm bảo cho nguyên tắc kia và ngược lại, cụ thể:

– Quyền sống trong môi trường trong lành thể hiện qua nguyên tắc phòng ngừa ô nhiễm, suy thoái môi trường. Nguyên tắc này thể hiện qua quy định về các hành vi bị cấm; về đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường (ĐTM), cam kết bảo vệ môi trường hay các quy định về bảo vệ môi trường theo lĩnh vực sản xuất, kinh doanh,… nhằm phòng ngừa ô nhiễm, suy thoái môi trường Các quy định này của luật góp phần quan trọng vào quá trình bảo vệ môi trường sống trong lành, sạch đẹp.

– Quyền sống trong môi trường trong lành qua nguyên tắc phát triển bền vững. Nội dung nguyên tắc này chỉ rõ phát triển kinh tế phải đi đôi với bảo vệ môi trường. Đưa bảo vệ môi trường vào trong toàn bộ quá trình phát triển kinh tế – xã hội và văn hóa từ khâu lập chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển các cấp đến lập, phê duyệt và thực hiện dự án đầu tư cụ thể… Vừa bảo vệ môi trường theo ngành, vừa bảo vệ theo lĩnh vực, khu vực… góp phần đảm bảo đảm giữ gìn môi trường trong lành không chỉ cho hôm nay mà cho cả các thế hệ mai sau.

–  Quyền sống trong môi trường trong lành qua nguyên tắc xã hội hóa hoạt động bảo vệ môi trường đó là việc huy động sức mạnh của không chỉ Nhà nước mà của toàn dân vào quá trình bảo vệ môi trường. LBVMT 2005 đã mở ra khả năng cho các chủ thể thuộc các thành phần kinh tế tham gia vào quá trình đánh giá tác động môi trường (ĐTM) (Điều 21); khuyến khích và tạo điều kiện cho các tổ chức có năng lực tham gia vào quản lý, xử lý chất thải (Điều 70), vào hoạt động quan trắc môi trường (Điều 95); bảo đảm quyền được biết thông tin về môi trường của mọi tổ chức, cá nhân (Điều 104, Điều 105); đề cao vai trò của các đoàn thể nhân nhân, tổ chức xã hội và mọi người dân trong hoạt động bảo vệ môi trường (Điều 124)… Bên cạnh đó, để bảo vệ môi trường được trong lành Luật cũng quy định rất cụ thể về nguyên tắc người gây ô nhiễm phải bồi thường thiệt hại, khắc phục ô nhiễm, phục hồi môi trường nhằm điều chỉnh những hành vi làm ô nhiễm, suy thoái môi trường.

          Hơn nữa, để bảo vệ được môi trường trong lành có hiệu quả, Luật Bảo vệ Môi trường 2005 rất đề cao trách nhiệm của các cơ quan nhà nước trong quá trình này. Cụ thể, Luật đã quy định rõ hơn trách nhiệm của các cơ quan nhà nước và các chủ thể khác trong hoạt động bảo vệ môi trường. LBVMT 2005 dành Chương XIII quy định về trách nhiệm của Chính phủ, các Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Công nghiệp, Bộ Thủy sản, Bộ Xây dựng, Bộ Giao thông – Vận tải, Bộ Y tế, Bộ Quốc phòng, Bộ Công an và các bộ, cơ quan ngang bộ khác, của ủy ban nhân dân các cấp (Điều 122), Mặt trận Tổ quốc… trong hoạt động bảo vệ môi trường.[8]

Các quy định pháp luật trên đã góp phần phòng ngừa ô nhiễm, suy thoái, bảo vệ môi trường góp phần bảo đảm quyền được sống trong môi trường trong lành của nhân dân. Tuy nhiên, pháp luật và thực tiễn thực hiện bảo đảm quyền được sống trong môi trường trong lành ở nước ta cũng cho thấy Luật vẫn chưa thực hiện được nhiệm vụ bảo vệ quyền được sống trong môi trường trong lành mà mới chỉ ở mức độ ghi nhận và bảo đảm. Có thể dễ dàng nhận thấy qua thực trạng môi trường đất, nước, không khí… ở nước ta vẫn tiếp tục bị xuống cấp nhanh, với mức độ nghiêm trọng đáng báo động. Công tác bảo vệ môi trường đang đứng trước những thách thức gay gắt. Ví dụ: ô nhiễm môi trường ở Thạch Sơn, Lâm Thao, Phú Thọ tác động ảnh hưởng lớn đến sức khỏe con người dẫn tới các bệnh nan y như ung thư (làng ung thư), vô sinh (làng vô sinh), các bệnh về hô hấp, tiêu hóa, não bộ…; vụ VEDAN thải ra sông Thị Vải làm thiệt hại cho sức khỏe và tài sản của nhân dân hàng trăm tỷ đồng, ô nhiễm môi trường ở những khu vực này phải mất nhiều năm mới có thể khắc phục được. Hay ô nhiễm môi trường xảy ra ở nhiều dòng sông lớn, như: sông Tô Lịch, Hà Nội; sông Cầu; sông Đáy; sông Nhuệ; sông Đồng Nai, sông Hậu, sông Vàm Cỏ Đông;…[9] Không chỉ thế môi trường không khí cũng đang bị ô nhiễm nghiêm trọng, đặc biệt ở các đô thị lớn. Ở Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Biên Hòa (Ðồng Nai) nồng độ bụi cao gấp 2 – 2,5 lần tiêu chuẩn cho phép[10]. Điều đó cho thấy quyền được sống trong môi trường trong lành của nhân dân vẫn bị xâm hại ở nhiều nơi, nhiều lúc, có nơi ở mức độ nghiêm trọng tác động tiêu cực đến đời sống của một bộ phận nhân dân và gây tác hại lâu dài đến sự phát triển kinh tế – xã hội của đất nước. Sở dĩ có thực trạng trên là do những nguyên nhân sau:

Một là, chưa có nhận thức đúng đắn về tầm quan trọng của việc bảo vệ môi trường trong lành, vẫn còn quan điểm chỉ chú trọng phát triển kinh tế[11] (GDP), không chú ý đến môi trường. Ở đây có cả nhận thức của lãnh đạo trong các cơ quan nhà nước và ý thức của người dân trong việc giữ gìn, bảo vệ môi trường chưa cao.

Hai là, công tác quản lý Nhà nước về bảo vệ môi trường còn nhiều yếu kém. Thực tế cho thấy các cơ quan này chưa quyết liệt, triệt để trong xử lý các hành vi làm ô nhiễm môi trường ngay từ khi phát hiện có hành vi làm ô nhiễm, mà vụ VEDAN là một ví dụ điển hình gây ra những thiệt hại nghiêm trọng.

Ba là, pháp luật về bảo vệ môi trường, bảo vệ quyền được sống trong môi trường trong lành vẫn còn chưa hoàn thiện và thiếu đồng bộ.

– Quyền được sống trong môi trường trong lành chưa được ghi nhận là một quyền cơ bản trong Hiến pháp cũng như chưa là một nguyên tắc chính thức của Luật Bảo vệ Môi trường hiện hành. Do vậy thiếu cơ sở pháp lý đồng bộ, thống nhất để bảo đảm quyền được sống trong môi trường trong lành của nhân dân.

– Thiếu những cơ sở pháp lý về xác định thiệt hại và trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi làm ô nhiễm môi trường gây ra; về bảo vệ các lưu vực sông bị ô nhiễm, suy thoái…; việc sử dụng các dữ liệu của quan trắc môi trường để xác định thiệt hại do ô nhiễm, suy thoái môi trường vẫn chưa hiệu quả…

– Việc thi hành pháp luật bảo vệ môi trường còn chưa triệt để, thiếu tính răn đe. Ví dụ ngay trong các quy định về xử lý hình sự với hành vi làm ô nhiễm môi trường hầu như chưa được áp dụng giải quyết;

– Vai trò của tòa án (nơi bảo đảm công lý) trong việc bảo đảm quyền con người được sống trong môi trường trong lành vẫn chưa được thể hiện.

– Công tác xã hội hóa hoạt động bảo vệ môi trường vẫn chưa đạt được hiệu quả như mong muốn…

3. Một số kiến nghị nhằm bảo đảm quyền con người được sống trong môi trường trong lành ở nước ta hiện nay

Để khắc phục những tồn tại trên đồng thời tiến tới bảo vệ quyền con người được sống trong môi trường trong lành có hiệu quả thì cần thực hiện những một số giải pháp sau:

Thứ nhất, cần đề cao quyết tâm chính trị của nhà lãnh đạo trong hoạt động bảo vệ quyền được sống trong môi trường trong lành bằng cách nâng cao nhận thức của các nhà lãnh đạo về quyền này. Điều này rất quan trọng bởi nếu không có nhận thức đúng thì không có chính sách đúng, không thể tổ chức thực hiện có hiệu quả các giải pháp đề ra. Hơn nữa chúng ta đã và đang tiến tới xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa thì việc tuân thủ pháp luật của các thành viên trong xã hội là một yêu cầu cấp bách.

Thứ hai, cần ghi nhận quyền được sống trong môi trường trong lành là một quyền cơ bản trong Hiến pháp và là một trong những nguyên tắc chính thức được ghi nhận trong Luật Bảo vệ Môi trường để có cơ sở cụ thể hóa nguyên tắc này trong các quy định của Luật.

Thứ ba, cần nghiên cứu hoàn thiện các quy định về phòng ngừa, ngăn chặn, khắc phục, xử lý ô nhiễm, suy thoái môi trường, như: về đánh giá môi trường chiến lược (ĐMC); tăng cường khâu hậu kiểm đối với đánh giá tác động môi trường (ĐTM); tiêu chuẩn môi trường; bảo vệ môi trường theo ngành, lĩnh vực; bảo tồn đa dạng sinh học; trách nhiệm của các cơ quan có thẩm quyền trong bảo vệ môi trường; xác định thiệt hại do hành vi làm ô nhiễm môi trường…Bên cạnh đó nghiên cứu tổng thể pháp luật về bảo vệ môi trường, tiến hành hệ thống hóa các văn bản pháp luật quy định về vấn đề này nhằm xây dựng các quy định thống nhất, đồng bộ giữa Luật BVMT với các Luật liên quan. Ví dụ: Luật Đa dạng sinh học, Luật Đầu tư, Luật Dầu khí, Luật Bảo vệ và Phát triển rừng, Luật Đất đai… tạo thuận lợi cho quá trình thực thi quyền được sống trong môi trường trong lành.

Thứ tư, cần nghiên cứu quy định và áp dụng trách nhiệm hình sự đối tổ chức gây ô nhiễm môi trường như: phạt tiền, đình chỉ hoạt động hoặc chấm dứt hoàn toàn hoạt động của doanh nghiệp gây ô nhiễm, suy thoái môi trường. Vấn đề này hiện vẫn có tranh luận. Có quan điểm cho rằng, chỉ cần áp dụng trách nhiệm hình sự đối với cá nhân, tức là khi doanh nghiệp nào đó gây ô nhiễm môi trường thì người đứng đầu pháp nhân đó phải chịu trách nhiệm hình sự là đủ. Nhưng thực tế cho thấy việc xả thải các chất gây ô nhiễm ra ngoài môi trường chủ yếu do các hoạt động sản xuất trực tiếp của các nhà máy, xí nghiệp không áp dụng các biện pháp phòng ngừa, công nghệ xử lý chất thải gây ra. Một logic dễ thấy là khi doanh nghiệp làm ô nhiễm môi trường gây ra thiệt hại thì trách nhiệm thuộc về người đứng đầu, nhưng sau khi xử lý trách nhiệm người đứng đầu xong, doanh nghiệp đó vẫn không áp dụng các biện pháp phòng ngừa, không đầu tư máy móc mới, không trang thiết bị xử lý chất thải nếu tiếp tục hoạt động sẽ lại làm ô nhiễm môi trường. Do vậy chúng tôi cho rằng bên cạnh việc áp dụng trách nhiệm dân sự, trách nhiệm hành chính, vẫn cần áp dụng trách nhiệm hình sự đối với những doanh nghiệp, tổ chức này.

Thứ năm, cụ thể hóa hơn nữa nguyên tắc xã hội hóa hoạt động bảo vệ môi trường cũng như nâng cao ý thức của người dân trong bảo vệ môi trường và tạo điều kiện thuận lợi cho mọi cá nhân, tổ chức tham gia hiệu quả vào quá trình này.

Thứ sáu, đẩy mạnh hoạt động có hiệu quả của cơ quan quản lý nhà nước về môi trường. Các cơ quan này phải thường xuyên quan trắc môi trường, đánh giá sự thay đổi của môi trường qua các dữ liệu, qua từng thời kỳ, thanh tra các cơ sở sản xuất có nguy cơ làm ô nhiễm môi trường gây tổn hại cho sức khỏe và tài sản của nhân dân. Khi phát hiện được hành vi vi phạm thì phải nhanh chóng xử lý theo quy định của pháp luật, tránh trường hợp không xử lý để mặc các hành vi làm ô nhiễm môi trường kéo dài…tránh trường hợp như vụ Vedan.

          Thứ bảy, tăng cường vai trò của tòa án như một công cụ đặc biệt quan trọng để nhân dân thực hiện quyền được sống trong môi trường trong lành của mình. Từ khi nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời từ năm 1945 đến nay, hầu như tòa án ở nước ta chưa xét xử một vụ việc nào liên quan đến hành vi làm ô nhiễm trường. Điều đó làm giảm niềm tin của nhân dân vào hệ thống này. Thực tiễn bảo vệ môi trường bằng con đường tòa án ở nhiều quốc gia cho thấy, nếu xét xử các vụ việc này trên cơ sở khách quan, công bằng và tuân thủ pháp chế sẽ góp phần quan trọng bảo vệ được quyền được sống trong môi trường trong lành của nhân dân.

Thứ tám, trong quá trình phát triển cần gắn kết chặt chẽ, hữu cơ giữa các chiến lược, chính sách phát triển kinh tế với chiến lược, chính sách bảo vệ môi trường. Môi trường cần được xem xét một cách tổng thể trong quá trình xây dựng pháp luật cũng như quá trình lập quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội đến xây dựng các dự án đầu tư cụ thể nhằm phòng ngừa ô nhiễm, suy thoái môi trường.


[1] Xem: Từ điển Tiếng Việt, Nxb. Đà Nẵng, 1997, tr. 618.

[2] Xem thêm Giáo trình Lý luận và pháp luật về quyền con người, NXB. Đại học quốc gia Hà Nội 2009, tr 41, 42.

[3] United nations, UNJCHR, Freequently Asked Questions on a Human Rights- based Approach to Development Cooperation,New York anGeneva, 2006, tr.8.

[4] Xem: Tuyên bố của Hội nghị Liên hợp quốc về môi trường con người, Nguyên tắc 1, tr11, Sách Các Công ước quốc tế về bảo vệ môi trường. NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội 1995.

[5] Ví dụ mỗi gia đình chỉ nuôi một, hai con lợn, gà nên môi trường chưa đến mức bị ô nhiễm đến mức có thể ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của con người.

[6] Xem thêm bài: Không còn môi trường trong lành, giàu có là vô nghĩa của TS. Đinh Dũng Sỹ. Nguồn: http://vietbao.vn/Xa-hoi/Khong-con-moi-truong-trong-lanh-giau-co-la-vo-nghia/40201159/124/.

[7] Xem thêm: PGS.TS. Phạm Hữu Nghị, Nguyên tắc phát triển bền vững , Đề tài cấp Viện năm 2008.

[8] Xem thêm: PGS.TS. Phạm Hữu Nghị, Nguyên tắc phát triển bền vững trong Luật Bảo vệ Môi trường, đề tài cấp Viện, Viện Nhà nước và Pháp luật  năm 2008.

[10] Xem bài: Báo động tình trạng ô nhiễm vì bụi http://yeumoitruong.com.

[11]Xem thêm: TS. Nguyễn Sỹ Dũng, bài “Không còn môi trường trong lành, giàu có là vô nghĩa” Thứ ba, 15/5/2007, 08:06 GMT+7.

Bài đăng Tạp chí Nhân quyền

BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG MỤC TIÊU PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG
ĐỨC HIỂN – HỒNG THỦY
Bảo vệ môi trường và quyền con người
Môi trường cho ta không khí để thở, đất để xây dựng nhà cửa, trồng cây, chăn nuôi; cung cấp các loại tài nguyên khoáng sản phục vụ cho sản xuất và cuộc sống hiện đại của con người. Bên cạnh đó môi trường còn là nơi chứa đựng, đồng hoá các chất thải… của con người và sinh vật. Con người sống hòa hợp với tự nhiên có mối quan hệ biện chứng thống nhất và không thể tách rời, con người không thể tồn tại nếu thiếu các điều kiện cần và đủ của giới tự nhiên và ngược lại giới tự nhiên sẽ khó được cải tạo nếu không có con người. Với chức năng và tính hữu ích như vậy, ngay từ ban đầu môi trường tự nhiên là điều kiện và cơ sở bảo đảm sự sinh tồn, phát triển của con người và các sinh vật trên trái đất.
Nhu cầu đòi hỏi ngày càng cao của con người là phải nâng cao chất lượng cuộc sống, bảo đảm quyền được sống trong môi trường trong lành, bảo đảm sức khỏe môi trường. Trong khi đó, những tác động của ô nhiễm môi trường, của biến đổi khí hậu ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của con người đã và đang là vấn đề đặt ra cho các nhà hoạch định và thực thi chính sách của từng quốc gia về quyền con người (QCN) đối với môi trường cũng như trên quy mô toàn cầu. Do vậy, cộng đồng thế giới thừa nhận môi trường chính là vấn đề của QCN, hay nói cách khác, sống trong môi trường trong lành là một quyền cơ bản của con người.
Cùng với quyền được hưởng hòa bình, quyền phát triển, quyền được sống trong môi trường trong lành đã được LHQ nghi nhận từ những năm 70 của thế kỷ XX và được hưởng ứng tại nhiều nước trên thế giới. Tuy nhiên, tình trạng ô nhiễm, suy thoái và khủng hoảng môi trường toàn cầu đang ở mức đáng báo động. Đó là những thay đổi về khí hậu, suy giảm tầng ôzôn, phá rừng, suy giảm đa dạng sinh học, suy giảm và suy thoái nguồn nước, cạn kiệt tài nguyên do khai thác liên tục, a xít hóa, ô nhiễm và sa mạc hóa… Điều đó đã tác động trực tiếp đến đời sống con người về văn hóa, xã hội, kinh tế và chính trị; đồng thời chính các hoạt động của con người cũng làm cho môi trường bị biến đổi nghiêm trọng trên phạm vi toàn cầu và sự biến đổi này lại gây hại đến đời sống kinh tế, sức khỏe, hưởng thụ quyền cơ bản của con người.
Bảo vệ môi trường (BVMT) là một điều kiện quan trọng để được hưởng các QCN và thực hiện QCN là yếu tố cần thiết để BVMT. Tuyên bố của Hội nghị LHQ tại Stockholm, Thụy Điển năm 1972 đã xác định rằng: Sống trong môi trường trong lành là quyền cơ bản của con người và BVMT là đảm bảo QCN, trong đó có trách nhiệm của mỗi người đối với việc bảo vệ và cải thiện môi trường cho các thế hệ hiện tại và trong tương lai. Hội nghị LHQ về Môi trường và phát triển bền vững năm 1992 tại Rio de Janeiro, Brasil cũng tuyên bố rằng con người “có quyền được sống một cuộc sống lành mạnh và sản xuất trong sự hòa hợp với thiên nhiên”.
Ở Việt Nam, một phần do hậu quả chiến tranh do Mỹ tiến hành; sau khi giải phóng đất nước, nền kinh tế bị kiệt quệ, việc phát triển kinh tế được đặt lên ưu tiên hàng đầu, nên việc bảo vệ môi trường đã có lúc bị xem nhẹ, là mục tiêu thứ yếu của các nhà lập pháp cũng như hành pháp. Nhiều địa phương vì áp lực tăng trưởng đã chấp nhận chào mời những dự án gây ô nhiễm rất lớn hoặc tiêu tốn rất nhiều năng lượng như các ngành luyện kim, xi măng, sửa chữa tàu thủy, khai khoáng… nên tình trạng hủy hoại, gây ô nhiễm môi trường đang là vấn đề nhức nhối của xã hội và không dễ để có thể giải quyết trong ngày một, ngày hai. Mới đây, Ngân hàng Thế giới vừa đưa ra những đánh giá về các hoạt động môi trường, theo đó Việt Nam chúng ta chỉ đạt 59 điểm và xếp thứ 85/163 các nước được xếp hạng. Còn theo kết quả nghiên cứu khác được công bố tại Diễn đàn Kinh tế thế giới Davos, Việt Nam nằm trong số 10 quốc gia có chất lượng không khí thấp nhất. Diện tích rừng thì đang ngày một suy giảm nhanh chóng từ 9,5 triệu ha năm 1975 (chiếm 29% diện tích tự nhiên) đến nay chỉ còn 6,5 triệu ha (tương đương 19,7%); đa dạng sinh học đang bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Chất thải từ các khu công nghiệp, từ hoạt động sản xuất chăn nuôi, từ các làng nghề, từ các hoạt động khai thác khoáng sản làm cho sông ngòi bị ô nhiễm nghiêm trọng. Đặc biệt, nước ta đang dần trở thành bãi rác công nghệ của thế giới với các loại rác điện tử chứa nhiều hóa chất độc hại có thể hủy hoại môi trường. Vì vậy, môi trường sống trong lành cho tất cả mọi người đang là một vấn đề cấp thiết, đó là quyền nhưng cũng chính là nghĩa vụ của chính chúng ta.
Bảo vệ môi trường, đảm bảo quyền con người là mục tiêu phát triển bền vững
Đảng và nhà nước ta sớm nhận thức của tầm quan trọng của vấn đề BVMT và phát triển bền vững. Trong những năm qua, Đảng và nhà nước ta đã ban hành nhiều chỉ thị, nghị quyết và không ngừng hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật nhằm kịp thời điều chỉnh các quan hệ xã hội. Đó là “Kế hoạch quốc gia về Môi trường và phát triển bền vững giai đoạn 1991-2000”, đặt tiền đề cho quá trình phát triển bền vững ở Việt Nam. Chỉ thị số 36/CT-TW ngày 25-6-1998 của Bộ Chính trị về tăng cường công tác BVMT trong thời kỳ CNH-HĐH đất nước, trong đó nhấn mạnh: “BVMT là một nội dung cơ bản không thể tách rời trong đường lối, chủ trương và kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội của tất cả các cấp, các ngành, là cơ sở quan trọng đảm bảo phát triển bền vững, thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa”. Văn kiện Đại hội Đảng từ lần thứ IX (2001) và Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội 2001-2010 cũng đã xác định “Phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững, tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội và BVMT. Phát triển kinh tế – xã hội gắn chặt với bảo vệ và cải thiện môi trường, bảo đảm sự hài hòa giữa môi trường nhân tạo với môi trường thiên nhiên, giữ gìn đa dạng sinh học”. Trong Nghị quyết số 41/NQ-TW ngày 15-11-2004, Bộ Chính trị đặc biệt nhấn mạnh quan điểm, mục tiêu và nhiệm vụ bảo vệ môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Đại hội Đảng lần thứ X (2006) đã rút ra 5 bài học kinh nghiệm lớn từ thực tiễn 20 năm Đổi mới, trong đó có “bài học phát triển nhanh và bền vững”.
Cam kết về BVMT và phát triển bền vững trên cấp độ quốc tế, Việt Nam đã phê chuẩn “Công ước khung của LHQ về biến đổi khí hậu” (UNFCC) năm 1994 và phê chuẩn Nghị định Kyoto ngày 17-8-2004. Trên cấp độ quốc gia, Việt Nam đã ban hành luật BVMT năm 1993 (sửa đổi năm 2005) và nhiều quy định pháp lý quan trọng khác về bảo vệ môi trường. Chính phủ tổ chức thực hiện Chiến lược quốc gia về BVMT, đánh dấu một bước đột phá trong công tác quản lý và nhận thức của Chính phủ về vấn đề môi trường. Đặc biệt là Nghị quyết số 24/NQ-TW được Ban Chấp hành Trung ương thông qua tại Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương khóa XI ngày 03-6-2013 về chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường, đòi hỏi pháp luật bảo vệ môi trường phải sớm được cập nhật, sửa đổi, bổ sung.
Mặc dù Việt Nam đã ban hành Luật bảo vệ môi trường năm 1993 và 2005. Nhưng thực sự chưa phát huy được tác dụng như mong muốn. Qua tổng kết 8 năm thi hành Luật Bảo vệ môi trường năm 2005, Chính phủ đánh giá chúng ta đã đạt được những kết quả quan trọng. Tuy nhiên, còn nổi lên một số tồn tại, bất cập như: Một số quy định chưa phù hợp, chưa sát thực tế, thiếu cụ thể dẫn đến chậm đi vào cuộc sống, không theo kịp yêu cầu phát triển của thực tiễn và hội nhập quốc tế; còn những chồng chéo và khoảng trống trong các quy định của pháp luật. Cơ chế, chính sách bảo vệ môi trường chậm đổi mới, chưa đồng bộ với thể chế kinh tế thị trường. Các loại thuế, phí về môi trường chưa phát huy được vai trò công cụ kinh tế điều tiết vĩ mô, hạn chế các hoạt động gây ô nhiễm, suy thoái môi trường, thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội theo hướng tăng trưởng xanh. Chưa tạo ra hành lang pháp lý và môi trường thuận lợi để khuyến khích phát triển ngành công nghiệp, dịch vụ môi trường và sản phẩm thân thiện với môi trường. Quản lý nhà nước về quản lý môi trường chưa phù hợp, giao cho nhiều Bộ, ngành cùng tham gia thực hiện trong khi chưa xác định được nguyên tắc tổ chức bộ máy thống nhất để giải quyết các vấn đề có tính liên vùng, liên ngành. Các quy định của pháp luật mới chỉ chú trọng trách nhiệm từ phía Nhà nước, thiếu cơ chế phù hợp để phát huy hiệu quả sự tham gia của toàn xã hội, từng doanh nghiệp và người dân đối với công tác bảo vệ môi trường. Bộ máy quản lý nhà nước về môi trường chưa tương xứng với chức năng, nhiệm vụ được giao, chưa giải quyết hiệu quả các vấn đề liên ngành, liên vùng, xuyên quốc gia. Đội ngũ cán bộ làm công tác quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường chưa theo kịp được các yêu cầu mới đặt ra, nhất là ở địa phương, cơ sở.
Mọi người có quyền được sống trong môi trường trong lành
BVMT, phát triển bền vững lấy con người làm trung tâm đã trở thành một trong những mục tiêu quan trọng trong định hướng chiến lược phát triển kinh tế xã hội Việt Nam giai đoạn 2011-2020; Hiến pháp 2013 đã quy định: “Mọi người có quyền được sống trong môi trường trong lành và có nghĩa vụ bảo vệ môi trường” (Điều 43). Tại kỳ họp thứ 6 Quốc hội khóa XIII, cùng với việc thông qua Hiến pháp năm 2013 thì Quốc hội cũng cho ý kiến về việc sửa đổi Luật BVMT, chủ trương này nhận được sự tán thành của đa số các đại biểu Quốc hội. Quốc hội giao cho Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) tiếp tục chỉ đạo hoàn chỉnh bản Dự thảo để trình Quốc hội xem xét ban hành.
Mới đây, cho ý kiến về Dự thảo Luật BVMT sửa đổi, tại phiên họp thứ 25 của UBTVQH, các thành viên UBTVQH đánh giá các quy định trong dự thảo luật về cơ bản đảm bảo tính hợp hiến, hợp pháp, tính thống nhất và đồng bộ với hệ thống pháp luật liên quan. Tuy nhiên các thành viên UBTVQH cũng đã thảo luận cho ý kiến về các vấn đề còn có ý kiến khác nhau trong dự án Luật BVMT (sử đổi). Trong đó, nhiều ý kiến yêu cầu chỉnh lý quy định về phạm vi điều chỉnh của luật để phù hợp với Hiến pháp 2013. Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật Phan Trung Lý nhận xét: “Hiến pháp đã bổ sung một quyền rất mới là công dân được sống trong môi trường trong lành, nhưng phần về quyền, trách nhiệm của người dân trong bảo vệ môi trường của Dự thảo luật chưa đáp ứng được yêu cầu”. Nhiều ý kiến trong UBTVQH cho rằng, dự thảo luật này có khá nhiều nội dung không thống nhất, “chồng lấn” sang các lĩnh vực ngân sách, tài chính, cần được rà soát, điều chỉnh.
Vấn đề nhập khẩu phế liệu, nhiều ý kiến cho rằng nước ta đang dần trở thành bãi rác công nghệ của thế giới. “Phế là cái bỏ đi, các nước có trình độ khoa học hơn nước ta mà họ bỏ đi thì mình nhập làm gì. Trong Dự thảo có danh mục nguyên liệu nhiều, rộng, kể cả loại không thể tiêu hủy như sắt, thép, nhựa giấy… Tôi cho rằng điều này cần cân nhắc, nếu không chúng ta thành bãi rác của thế giới.”- Chủ nhiệm Ủy ban Ngân sách của Quốc hội Phùng Quốc Hiển nói.
Trong giữ gìn và BVMT thì tài nguyên rừng giữ một vai trò đặc biệt quan trọng, nhưng chưa được đề cập trong Dự thảo. Góp ý về vấn đề này Ông Ksor Phước – Chủ tịch Hội đồng Dân tộc Quốc hội nhấn mạnh: “Rừng có vai trò rất quan trọng, mặc dù đã có quy định trong Luật Bảo vệ và phát triển rừng, nhưng luật gốc phải có quy định để mang tính chỉ dẫn. Mất rừng sẽ mất nhiều thứ, ảnh hưởng khí hậu, cuộc sống, không gian văn hóa… Quy định bảo vệ môi trường rừng cũng là bảo vệ cho tài nguyên khí, đất và khí hậu”.
Về quy định đánh giá tác động môi trường, nhiều ý kiến đồng tình với việc quy định đánh giá tác động môi trường qua 2 bước. Tuy nhiên, có đại biểu cho cho rằng đánh giá tác động môi trường 2 bước có thể dẫn đến sự phức tạp, thủ tục hành chính rườm rà, tốn kém cho doanh nghiệp và đề nghị chỉ cần đánh giá một bước nhưng đảm bảo hiệu quả. Ngoài ra, những nội dung như quy hoạch BVMT, BVMT biển và hải đảo, trách nhiệm quản lý Nhà nước về BVMT cũng được các đại biểu tập trung góp ý. Theo các đại biểu, quy hoạch môi trường cần xem xét tới các nội dung liên quan của các quy hoạch khác như quy hoạch vùng, quy hoạch xây dựng, quy hoạch đô thị.
Trước đó, tại kỳ họp thứ 6 quốc hội khóa XIII, góp ý với việc xác định phạm vi điều chỉnh của Dự thảo Luật BVMT, đại biểu Trương Văn Vở (Đồng Nai), Đỗ Thị Huyền Tâm (Bắc Ninh) đề nghị ban soạn thảo làm rõ trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước và trách nhiệm của người đứng đầu trong công tác BVMT, vì thực tiễn qua tổng kết thực hiện Luật BVMT 8 năm qua đã chỉ rõ yếu kém là việc phân công nhiệm vụ quản lý nhà nước về BVMT còn phân tán, chồng chéo, chưa hợp lý. Trách nhiệm quản lý nhà nước, bộ, ngành, địa phương chưa phân định rõ, còn xung đột.
Xác định BVMT là trách nhiệm và nghĩa vụ của mọi tổ chức, cá nhân. Đại biểu Đỗ Văn Vẻ (Thái Bình) cho rằng, quy định như vậy còn chung chung; cần bổ sung một điều khoản riêng, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân tham gia giám sát hoạt động BVMT của các tổ chức và doanh nghiệp. Vấn đề ứng phó biến đổi khí hậu cần quy định thành chương, mục riêng trong Dự thảo luật và nêu rõ trách nhiệm của từng cá nhân, đơn vị. Hiện nay vấn đề biến đổi khí hậu là chủ đề nóng tại các diễn đàn trong nước và thế giới, cần phải đưa vào Luật BVMT và tách thành một chương riêng, không nên đưa rải rác trong các chương, điều trong Dự thảo luật, việc này phải được lồng ghép trong các chiến lược phát triển kinh tế – xã hội của từng địa phương.
Về vấn đề ô nhiễm môi trường, đại biểu Dương Hoàng Hương (Phú Thọ) cho rằng: Thực trạng ô nhiễm môi trường ở nước ta đang ở mức báo động, vi phạm pháp luật về BVMT diễn biến phức tạp, gây hậu quả nghiêm trọng. Nguyên nhân của tình trạng này do chế tài xử phạt còn chung chung, mức xử phạt vi phạm hành chính còn thấp, chưa đủ sức răn đe. Do vậy, cần bổ sung chế tài xử phạt vi phạm pháp luật về BVMT cụ thể hơn. Việc bảo vệ các thành phần môi trường cần được quy định rõ và đầy đủ từ các nguồn nước, môi trường đất, môi trường không khí cũng như vấn đề BVMT biển và hải đảo… BVMT trong sinh hoạt ở khu dân cư tập trung, khu đô thị và trong từng hộ gia đình.
Kết luận phần thảo luận Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng chủ trì phiên họp yêu cầu cơ quan trình và cơ quan thẩm tra dự án Luật BVMT (sửa đổi) cần bàn bạc, nghiên cứu thêm; tham khảo thêm ý kiến của Ủy ban Pháp luật để trình lại vào dịp khác nhằm hoàn thiện thêm Dự thảo để trình Quốc hội xem xét ban hành, đảm bảo Hiến pháp năm 2013 được cụ thể hóa và đi vào đời sống xã hội; đảm bảo cho mọi người ở Việt Nam thực sự được sống trong môi trường trong lành.■

Bài đăng Tạp chí nhân quyền tháng 4 năm 2014

BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG MỤC TIÊU PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG

ĐỨC HIỂN – HỒNG THỦY

1. Bảo vệ môi trường và quyền con người

Môi trường cho ta không khí để thở, đất để xây dựng nhà cửa, trồng cây, chăn nuôi; cung cấp các loại tài nguyên khoáng sản phục vụ cho sản xuất và cuộc sống hiện đại của con người. Bên cạnh đó môi trường còn là nơi chứa đựng, đồng hoá các chất thải… của con người và sinh vật. Con người sống hòa hợp với tự nhiên có mối quan hệ biện chứng thống nhất và không thể tách rời, con người không thể tồn tại nếu thiếu các điều kiện cần và đủ của giới tự nhiên và ngược lại giới tự nhiên sẽ khó được cải tạo nếu không có con người. Với chức năng và tính hữu ích như vậy, ngay từ ban đầu môi trường tự nhiên là điều kiện và cơ sở bảo đảm sự sinh tồn, phát triển của con người và các sinh vật trên trái đất.

Nhu cầu đòi hỏi ngày càng cao của con người là phải nâng cao chất lượng cuộc sống, bảo đảm quyền được sống trong môi trường trong lành, bảo đảm sức khỏe môi trường. Trong khi đó, những tác động của ô nhiễm môi trường, của biến đổi khí hậu ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của con người đã và đang là vấn đề đặt ra cho các nhà hoạch định và thực thi chính sách của từng quốc gia về quyền con người (QCN) đối với môi trường cũng như trên quy mô toàn cầu. Do vậy, cộng đồng thế giới thừa nhận môi trường chính là vấn đề của QCN, hay nói cách khác, sống trong môi trường trong lành là một quyền cơ bản của con người.

Cùng với quyền được hưởng hòa bình, quyền phát triển, quyền được sống trong môi trường trong lành đã được LHQ nghi nhận từ những năm 70 của thế kỷ XX và được hưởng ứng tại nhiều nước trên thế giới. Tuy nhiên, tình trạng ô nhiễm, suy thoái và khủng hoảng môi trường toàn cầu đang ở mức đáng báo động. Đó là những thay đổi về khí hậu, suy giảm tầng ôzôn, phá rừng, suy giảm đa dạng sinh học, suy giảm và suy thoái nguồn nước, cạn kiệt tài nguyên do khai thác liên tục, a xít hóa, ô nhiễm và sa mạc hóa… Điều đó đã tác động trực tiếp đến đời sống con người về văn hóa, xã hội, kinh tế và chính trị; đồng thời chính các hoạt động của con người cũng làm cho môi trường bị biến đổi nghiêm trọng trên phạm vi toàn cầu và sự biến đổi này lại gây hại đến đời sống kinh tế, sức khỏe, hưởng thụ quyền cơ bản của con người.

Bảo vệ môi trường (BVMT) là một điều kiện quan trọng để được hưởng các QCN và thực hiện QCN là yếu tố cần thiết để BVMT. Tuyên bố của Hội nghị LHQ tại Stockholm, Thụy Điển năm 1972 đã xác định rằng: Sống trong môi trường trong lành là quyền cơ bản của con người và BVMT là đảm bảo QCN, trong đó có trách nhiệm của mỗi người đối với việc bảo vệ và cải thiện môi trường cho các thế hệ hiện tại và trong tương lai. Hội nghị LHQ về Môi trường và phát triển bền vững năm 1992 tại Rio de Janeiro, Brasil cũng tuyên bố rằng con người “có quyền được sống một cuộc sống lành mạnh và sản xuất trong sự hòa hợp với thiên nhiên”.

Ở Việt Nam, một phần do hậu quả chiến tranh do Mỹ tiến hành; sau khi giải phóng đất nước, nền kinh tế bị kiệt quệ, việc phát triển kinh tế được đặt lên ưu tiên hàng đầu, nên việc bảo vệ môi trường đã có lúc bị xem nhẹ, là mục tiêu thứ yếu của các nhà lập pháp cũng như hành pháp. Nhiều địa phương vì áp lực tăng trưởng đã chấp nhận chào mời những dự án gây ô nhiễm rất lớn hoặc tiêu tốn rất nhiều năng lượng như các ngành luyện kim, xi măng, sửa chữa tàu thủy, khai khoáng… nên tình trạng hủy hoại, gây ô nhiễm môi trường đang là vấn đề nhức nhối của xã hội và không dễ để có thể giải quyết trong ngày một, ngày hai. Mới đây, Ngân hàng Thế giới vừa đưa ra những đánh giá về các hoạt động môi trường, theo đó Việt Nam chúng ta chỉ đạt 59 điểm và xếp thứ 85/163 các nước được xếp hạng. Còn theo kết quả nghiên cứu khác được công bố tại Diễn đàn Kinh tế thế giới Davos, Việt Nam nằm trong số 10 quốc gia có chất lượng không khí thấp nhất. Diện tích rừng thì đang ngày một suy giảm nhanh chóng từ 9,5 triệu ha năm 1975 (chiếm 29% diện tích tự nhiên) đến nay chỉ còn 6,5 triệu ha (tương đương 19,7%); đa dạng sinh học đang bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Chất thải từ các khu công nghiệp, từ hoạt động sản xuất chăn nuôi, từ các làng nghề, từ các hoạt động khai thác khoáng sản làm cho sông ngòi bị ô nhiễm nghiêm trọng. Đặc biệt, nước ta đang dần trở thành bãi rác công nghệ của thế giới với các loại rác điện tử chứa nhiều hóa chất độc hại có thể hủy hoại môi trường. Vì vậy, môi trường sống trong lành cho tất cả mọi người đang là một vấn đề cấp thiết, đó là quyền nhưng cũng chính là nghĩa vụ của chính chúng ta.

2. Bảo vệ môi trường, đảm bảo quyền con người là mục tiêu phát triển bền vững

Đảng và nhà nước ta sớm nhận thức của tầm quan trọng của vấn đề BVMT và phát triển bền vững. Trong những năm qua, Đảng và nhà nước ta đã ban hành nhiều chỉ thị, nghị quyết và không ngừng hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật nhằm kịp thời điều chỉnh các quan hệ xã hội. Đó là “Kế hoạch quốc gia về Môi trường và phát triển bền vững giai đoạn 1991-2000”, đặt tiền đề cho quá trình phát triển bền vững ở Việt Nam. Chỉ thị số 36/CT-TW ngày 25-6-1998 của Bộ Chính trị về tăng cường công tác BVMT trong thời kỳ CNH-HĐH đất nước, trong đó nhấn mạnh: “BVMT là một nội dung cơ bản không thể tách rời trong đường lối, chủ trương và kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội của tất cả các cấp, các ngành, là cơ sở quan trọng đảm bảo phát triển bền vững, thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa”. Văn kiện Đại hội Đảng từ lần thứ IX (2001) và Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội 2001-2010 cũng đã xác định “Phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững, tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội và BVMT. Phát triển kinh tế – xã hội gắn chặt với bảo vệ và cải thiện môi trường, bảo đảm sự hài hòa giữa môi trường nhân tạo với môi trường thiên nhiên, giữ gìn đa dạng sinh học”. Trong Nghị quyết số 41/NQ-TW ngày 15-11-2004, Bộ Chính trị đặc biệt nhấn mạnh quan điểm, mục tiêu và nhiệm vụ bảo vệ môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Đại hội Đảng lần thứ X (2006) đã rút ra 5 bài học kinh nghiệm lớn từ thực tiễn 20 năm Đổi mới, trong đó có “bài học phát triển nhanh và bền vững”.

Cam kết về BVMT và phát triển bền vững trên cấp độ quốc tế, Việt Nam đã phê chuẩn “Công ước khung của LHQ về biến đổi khí hậu” (UNFCC) năm 1994 và phê chuẩn Nghị định Kyoto ngày 17-8-2004. Trên cấp độ quốc gia, Việt Nam đã ban hành luật BVMT năm 1993 (sửa đổi năm 2005) và nhiều quy định pháp lý quan trọng khác về bảo vệ môi trường. Chính phủ tổ chức thực hiện Chiến lược quốc gia về BVMT, đánh dấu một bước đột phá trong công tác quản lý và nhận thức của Chính phủ về vấn đề môi trường. Đặc biệt là Nghị quyết số 24/NQ-TW được Ban Chấp hành Trung ương thông qua tại Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương khóa XI ngày 03-6-2013 về chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường, đòi hỏi pháp luật bảo vệ môi trường phải sớm được cập nhật, sửa đổi, bổ sung.

Mặc dù Việt Nam đã ban hành Luật bảo vệ môi trường năm 1993 và 2005. Nhưng thực sự chưa phát huy được tác dụng như mong muốn. Qua tổng kết 8 năm thi hành Luật Bảo vệ môi trường năm 2005, Chính phủ đánh giá chúng ta đã đạt được những kết quả quan trọng. Tuy nhiên, còn nổi lên một số tồn tại, bất cập như: Một số quy định chưa phù hợp, chưa sát thực tế, thiếu cụ thể dẫn đến chậm đi vào cuộc sống, không theo kịp yêu cầu phát triển của thực tiễn và hội nhập quốc tế; còn những chồng chéo và khoảng trống trong các quy định của pháp luật. Cơ chế, chính sách bảo vệ môi trường chậm đổi mới, chưa đồng bộ với thể chế kinh tế thị trường. Các loại thuế, phí về môi trường chưa phát huy được vai trò công cụ kinh tế điều tiết vĩ mô, hạn chế các hoạt động gây ô nhiễm, suy thoái môi trường, thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội theo hướng tăng trưởng xanh. Chưa tạo ra hành lang pháp lý và môi trường thuận lợi để khuyến khích phát triển ngành công nghiệp, dịch vụ môi trường và sản phẩm thân thiện với môi trường. Quản lý nhà nước về quản lý môi trường chưa phù hợp, giao cho nhiều Bộ, ngành cùng tham gia thực hiện trong khi chưa xác định được nguyên tắc tổ chức bộ máy thống nhất để giải quyết các vấn đề có tính liên vùng, liên ngành.Các quy định của pháp luật mới chỉ chú trọng trách nhiệm từ phía Nhà nước, thiếu cơ chế phù hợp để phát huy hiệu quả sự tham gia của toàn xã hội, từng doanh nghiệp và người dân đối với công tác bảo vệ môi trường. Bộ máy quản lý nhà nước về môi trường chưa tương xứng với chức năng, nhiệm vụ được giao, chưa giải quyết hiệu quả các vấn đề liên ngành, liên vùng, xuyên quốc gia. Đội ngũ cán bộ làm công tác quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường chưa theo kịp được các yêu cầu mới đặt ra, nhất là ở địa phương, cơ sở.

3. Mọi người có quyền được sống trong môi trường trong lành

BVMT, phát triển bền vững lấy con người làm trung tâm đã trở thành một trong những mục tiêu quan trọng trong định hướng chiến lược phát triển kinh tế xã hội Việt Nam giai đoạn 2011-2020; Hiến pháp 2013 đã quy định: “Mọi người có quyền được sống trong môi trường trong lành và có nghĩa vụ bảo vệ môi trường” (Điều 43). Tại kỳ họp thứ 6 Quốc hội khóa XIII, cùng với việc thông qua Hiến pháp năm 2013 thì Quốc hội cũng cho ý kiến về việc sửa đổi Luật BVMT, chủ trương này nhận được sự tán thành của đa số các đại biểu Quốc hội. Quốc hội giao cho Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) tiếp tục chỉ đạo hoàn chỉnh bản Dự thảo để trình Quốc hội xem xét ban hành.

Mới đây, cho ý kiến về Dự thảo Luật BVMT sửa đổi, tại phiên họp thứ 25 của UBTVQH, các thành viên UBTVQH đánh giá các quy định trong dự thảo luật về cơ bản đảm bảo tính hợp hiến, hợp pháp, tính thống nhất và đồng bộ với hệ thống pháp luật liên quan. Tuy nhiên các thành viên UBTVQH cũng đã thảo luận cho ý kiến về các vấn đề còn có ý kiến khác nhau trong dự án Luật BVMT (sử đổi). Trong đó, nhiều ý kiến yêu cầu chỉnh lý quy định về phạm vi điều chỉnh của luật để phù hợp với Hiến pháp 2013. Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật Phan Trung Lý nhận xét: “Hiến pháp đã bổ sung một quyền rất mới là công dân được sống trong môi trường trong lành, nhưng phần về quyền, trách nhiệm của người dân trong bảo vệ môi trường của Dự thảo luật chưa đáp ứng được yêu cầu”. Nhiều ý kiến trong UBTVQH cho rằng, dự thảo luật này có khá nhiều nội dung không thống nhất, “chồng lấn” sang các lĩnh vực ngân sách, tài chính, cần được rà soát, điều chỉnh.

Vấn đề nhập khẩu phế liệu, nhiều ý kiến cho rằng nước ta đang dần trở thành bãi rác công nghệ của thế giới. “Phế là cái bỏ đi, các nước có trình độ khoa học hơn nước ta mà họ bỏ đi thì mình nhập làm gì. Trong Dự thảo có danh mục nguyên liệu nhiều, rộng, kể cả loại không thể tiêu hủy như sắt, thép, nhựa giấy… Tôi cho rằng điều này cần cân nhắc, nếu không chúng ta thành bãi rác của thế giới.”- Chủ nhiệm Ủy ban Ngân sách của Quốc hội Phùng Quốc Hiển nói.

Trong giữ gìn và BVMT thì tài nguyên rừng giữ một vai trò đặc biệt quan trọng, nhưng chưa được đề cập trong Dự thảo. Góp ý về vấn đề này Ông Ksor Phước – Chủ tịch Hội đồng Dân tộc Quốc hội nhấn mạnh: “Rừng có vai trò rất quan trọng, mặc dù đã có quy định trong Luật Bảo vệ và phát triển rừng, nhưng luật gốc phải có quy định để mang tính chỉ dẫn. Mất rừng sẽ mất nhiều thứ, ảnh hưởng khí hậu, cuộc sống, không gian văn hóa… Quy định bảo vệ môi trường rừng cũng là bảo vệ cho tài nguyên khí, đất và khí hậu”.

Về quy định đánh giá tác động môi trường, nhiều ý kiến đồng tình với việc quy định đánh giá tác động môi trường qua 2 bước. Tuy nhiên, có đại biểu cho cho rằng đánh giá tác động môi trường 2 bước có thể dẫn đến sự phức tạp, thủ tục hành chính rườm rà, tốn kém cho doanh nghiệp và đề nghị chỉ cần đánh giá một bước nhưng đảm bảo hiệu quả. Ngoài ra, những nội dung như quy hoạch BVMT, BVMT biển và hải đảo, trách nhiệm quản lý Nhà nước về BVMT cũng được các đại biểu tập trung góp ý. Theo các đại biểu, quy hoạch môi trường cần xem xét tới các nội dung liên quan của các quy hoạch khác như quy hoạch vùng, quy hoạch xây dựng, quy hoạch đô thị.

Trước đó, tại kỳ họp thứ 6 quốc hội khóa XIII, góp ý với việc xác định phạm vi điều chỉnh của Dự thảo Luật BVMT, đại biểu Trương Văn Vở (Đồng Nai), Đỗ Thị Huyền Tâm (Bắc Ninh) đề nghị ban soạn thảo làm rõ trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước và trách nhiệm của người đứng đầu trong công tác BVMT, vì thực tiễn qua tổng kết thực hiện Luật BVMT 8 năm qua đã chỉ rõ yếu kém là việc phân công nhiệm vụ quản lý nhà nước về BVMT còn phân tán, chồng chéo, chưa hợp lý. Trách nhiệm quản lý nhà nước, bộ, ngành, địa phương chưa phân định rõ, còn xung đột.

Xác định BVMT là trách nhiệm và nghĩa vụ của mọi tổ chức, cá nhân. Đại biểu Đỗ Văn Vẻ (Thái Bình) cho rằng, quy định như vậy còn chung chung; cần bổ sung một điều khoản riêng, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân tham gia giám sát hoạt động BVMT của các tổ chức và doanh nghiệp. Vấn đề ứng phó biến đổi khí hậu cần quy định thành chương, mục riêng trong Dự thảo luật và nêu rõ trách nhiệm của từng cá nhân, đơn vị. Hiện nay vấn đề biến đổi khí hậu là chủ đề nóng tại các diễn đàn trong nước và thế giới, cần phải đưa vào Luật BVMT và tách thành một chương riêng, không nên đưa rải rác trong các chương, điều trong Dự thảo luật, việc này phải được lồng ghép trong các chiến lược phát triển kinh tế – xã hội của từng địa phương.

Về vấn đề ô nhiễm môi trường, đại biểu Dương Hoàng Hương (Phú Thọ) cho rằng: Thực trạng ô nhiễm môi trường ở nước ta đang ở mức báo động, vi phạm pháp luật về BVMT diễn biến phức tạp, gây hậu quả nghiêm trọng. Nguyên nhân của tình trạng này do chế tài xử phạt còn chung chung, mức xử phạt vi phạm hành chính còn thấp, chưa đủ sức răn đe. Do vậy, cần bổ sung chế tài xử phạt vi phạm pháp luật về BVMT cụ thể hơn. Việc bảo vệ các thành phần môi trường cần được quy định rõ và đầy đủ từ các nguồn nước, môi trường đất, môi trường không khí cũng như vấn đề BVMT biển và hải đảo… BVMT trong sinh hoạt ở khu dân cư tập trung, khu đô thị và trong từng hộ gia đình.

Kết luận phần thảo luận Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng chủ trì phiên họp yêu cầu cơ quan trình và cơ quan thẩm tra dự án Luật BVMT (sửa đổi) cần bàn bạc, nghiên cứu thêm; tham khảo thêm ý kiến của Ủy ban Pháp luật để trình lại vào dịp khác nhằm hoàn thiện thêm Dự thảo để trình Quốc hội xem xét ban hành, đảm bảo Hiến pháp năm 2013 được cụ thể hóa và đi vào đời sống xã hội; đảm bảo cho mọi người ở Việt Nam thực sự được sống trong môi trường trong lành.■

 

Hội đồng thi đua và Công đoàn Viện Nhà nước và Pháp luật phát động thi đua, khen thưởng năm 2013

Phát động công tác thi đua, khen thưởng năm 2013 và kỷ niệm 82 năm ngày thành lập Đoàn TNCS Hồ Chí Minh

Sáng ngày 26/3/2013, tại Hội trường, Viện Nhà nước và Pháp luật đã tổ chức họp phát động công tác thi đua, khen thưởng năm 2013. Đông đảo cán bộ, viên chức trong Viện đã có mặt tham gia buổi họp.

PGS.TS. Nguyễn Thị Việt Hương – Phó Viện trưởng và ThS. Trương Vĩnh Khang – Chủ tịch Công đoàn chủ trì buổi họp.Mở đầu, PGS.TS. Nguyễn Thị Việt Hương đã phổ biến công văn của Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam về nội dung, mục tiêu và tiêu chí của công tác thi đua, khen thưởng. Một trong những nội dung cơ bản của công tác thi đua là cần đề ra được mục tiêu mang tính đổi mới và đột phá trong công tác nghiên cứu.Hầu hết các ý kiến cho rằng, các đề tài khoa học cấp Bộ cũng như cơ sở cần được thực hiện đúng tiến độ, đúng thời hạn và có chất lượng. Để giải quyết vấn đề này, cần có cơ chế kiểm tra, giám sát chặt chẽ các đồng chí chủ nhiệm cũng như các thành viên trong quá trình thực hiện đề tài.Sau đó, PGS.TS. Nguyễn Như Phát đã trao danh hiệu cho 9 tập thể lao động xuất sắc: Viện Nhà nước và Pháp luật, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, phòng Pháp luật Kinh tế, phòng Nhà nước pháp quyền, Thư viện, phòng Luật so sánh, phòng Pháp luật Môi trường và 8 cá nhân đạt thành tích chiến sĩ thi đua cơ sở: Phạm Thị Hiền, Lê Phương Hoa, Nguyễn Thu Dung, Phạm Hữu Nghị, Lý Thị Nông, Lê Thương Huyền, Phạm Thu Lan, Nguyễn Thị Ngân.Tiếp theo, Chi đoàn Viện Nhà nước và Pháp luật đã tổ chức lễ kỷ niệm 82 năm ngày thành lập Đoàn TNCS Hồ Chí Minh. Sau khỉ ôn lại lịch sử phát triển và những đóng góp của Đoàn trong xây dựng và bảo vệ đất nước, đồng chí Phạm Xô Việt trình bày Chương trình phát triển thanh niên Viện Nhà nước và Pháp luật giai đoạn 2012-2020 do Chi đoàn xây dựng. Các đồng chí nguyên là Bí thư Chi đoàn, PGS.TS. Bùi Nguyên Khánh và TS. Phạm Thị Thúy Nga đã kể lại những kỷ niệm đẹp trong thời gian hoạt động Đoàn.

Một số hình ảnh:


Viện Nhà nước và Pháp luật đạt danh hiệu Tập thể lao động xuất sắc
Phòng Luật so sánh
Phòng Thư viện


Phòng Pháp luật Môi trường

Phòng Pháp luật Kinh tế

Góp ý sửa đổi Hiến pháp

MẤY GÓP Ý VỀ QUYỀN ĐƯỢC SỐNG TRONG MÔI TRƯỜNG TRONG LÀNH TRONG DỰ THẢO HIẾN PHÁP NĂM 1992 SỬA ĐỔI, BỔ SUNG NĂM 2013

ThS. Bùi Đức Hiển

Viện Nhà nước và Pháp luật

1. Khái quát về quyền được sống trong môi trường trong lành

Quyền được sống trong môi trường trong lành là những nhu cầu, lợi ích tự nhiên, vốn có và khách quan của con người được sống trong môi trường sạch đẹp, thuần khiết, chất lượng với hệ sinh thái cân bằng, không có ô nhiễm, suy thoái, sự cố môi trường ảnh hưởng đến tài sản, sức khỏe, tính mạng và hoạt động bình thường của con người, được pháp luật quốc gia cũng như pháp luật quốc tế ghi nhận và bảo vệ[1]. Quyền sống được sống trong môi trường trong lành được đặt ra khi sự đe dọa về quyền được sống cơ bản đã được bảo vệ bởi các thể chế dân chủ pháp quyền[2], nhưng sự tồn tại của con người lại bị đe dọa, hủy hoại do tác động tiêu cực từ môi trường tự nhiên mà nguyên nhân chủ yếu do chính con người gây ra[3]. Sự tác động thái quá của con người vào tự nhiên đã phá vỡ tính thống nhất của môi trường, của hệ sinh thái làm cạn kiệt tài nguyên, ô nhiễm môi trường, suy giảm đa dạng sinh học, gây biến đổi khí hậu, nước biển dâng, làm thiệt hại đến tính mạng, sức khỏe, tài sản, kinh tế – xã hội cũng như đời sống của con người. Từ thập niên 60 của thế kỷ XX đến nay, sự trả thù của tự nhiên đối với con người đã hiện hữu, vấn đề đặt ra là phải nhận thức đúng tính tất yếu của sự trả thù này và bắt tay hành động bảo vệ môi trường, bảo vệ quyền được sống trong môi trường trong lành. Ở giác độ chính trị, pháp lý quốc tế, năm 1972 trong Tuyên bố của Liên Hợp quốc về môi trường con người tại Stockhom lần đầu tiên đã khẳng định: “con người có quyền cơ bản được sống trong một môi trường chất lượng, cho phép cuộc sống có phẩm giá và phúc lợi mà con người có trách nhiệm long trọng bảo vệ, cải thiện cho thế hệ hôm nay và mai sau”[4], trong Tuyên bố Rio de Janeiro cũng nhấn mạnh mối quan hệ giữa quyền được sống trong môi trường trong lành và phát triển bền vững: “Con người là trung tâm của các mối quan tâm về sự phát triển lâu dài. Con người có quyền được hưởng một cuộc sống hữu ích, lành mạnh và hài hoà với thiên nhiên”[5].

Nhìn lại lịch sử phát triển của các chế định được ghi nhận trong Hiến pháp từ khi Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời đến nay, có thể thấy các quy định về bảo vệ môi trường ngày càng được khẳng định mạnh mẽ với cách tiếp cận ngày càng mới, thực chất hơn. Cụ thể trong, Hiến pháp 1946, Hiến pháp 1959 chưa có một quy định nào về bảo vệ môi trường thì đến Hiến pháp năm 1980 mặc dù vẫn trong thời kỳ bao cấp, chưa phát triển kinh tế hàng hóa, nhưng Đảng và Nhà nước ta cũng bước đầu đã quan tâm đến vấn đề môi trường và ghi nhận vào Hiến pháp, cụ thể: “Các cơ quan Nhà nước, xí nghiệp, hợp tác xã, đơn vị vũ trang nhân dân và công dân đều có nghĩa vụ thực hiện chính sách bảo vệ, cải tạo và tái sinh các nguồn tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ và cải thiện môi trường sống” (Điều 36).

Mặc dù vậy, thời kỳ này chúng ta vẫn chưa ban hành một đạo luật chuyên ngành nhằm cụ thể hóa những ghi nhận trong Hiến pháp 1980 về bảo vệ môi trường. Năm 1986, nước ta tiến hành sự nghiệp đổi mới, mở cửa phát triển kinh tế, để tạo hành lang pháp lý cho thay đổi này Hiến pháp năm 1992 đã ra đời, bên cạnh một loạt các quy định mới để đẩy mạnh hội nhập và phát triển kinh tế, Hiến pháp vẫn tiếp tục ghi nhận cụ thể hơn về sử dụng hợp lý tài nguyên và bảo vệ môi trường: “Cơ quan nhà nước, đơn vị vũ trang, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, mọi cá nhân phải thực hiện các quy định của Nhà nước về sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường. Nghiêm cấm mọi hành động làm suy kiệt tài nguyên và huỷ hoại môi trường (Điều 29) Chính phủ phải có trách nhiệm bảo vệ môi trường (khoản 5, Điều 112)”. Vấn đề này cũng đã được cụ thể hóa trong Luật Bảo vệ Môi trường năm 1993 và 2005. Có thể thấy, Hiến pháp năm 1992 đã quy định rõ trách nhiệm của các chủ thể trong sử dụng hợp lý tài nguyên và bảo vệ môi trường, khẳng định tầm quan trọng của bảo vệ môi trường sống. Tuy nhiên, cũng như các Hiến pháp trước đó, Hiến pháp 1992 chưa thể hiện được mục đích đầu tiên và sau cùng của bảo vệ môi trường chính là bảo vệ quyền được sống trong môi trường trong lành; hai là, cách trình bày trong Hiến pháp còn dài dòng, thiếu logic chưa phù hợp với văn phong Hiến pháp đòi hỏi phải ngắn gọn, xúc tích, nhưng bao quát; ba là, về chủ thể phải bảo vệ môi trường, Hiến pháp 1992 liệt kê nhiều chủ thể từ cơ quan nhà nước, đơn vị vũ trang, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội đến mọi cá nhân, xong lại không bao quát hết được chủ thể có nghĩa vụ phải bảo vệ môi trường. Ví dụ: tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội,…. Bốn là, Hiến pháp 1992 nhấn mạnh việc sử dụng hợp lý tài nguyên, bảo vệ môi trường được thực hiện theo các “quy định của nhà nước”. Việc sử dụng thuật ngữ này có thể dễ gây tùy tiện trong xây dựng, áp dụng các quy định pháp luật về bảo vệ môi trường.

Qua trình bày trên, ở mức độ nhất định Hiến pháp 1980, 1992 có ghi nhận vấn đề bảo vệ môi trường. Tuy nhiên, do những điều kiện lịch sử và thực tiễn nên cả bốn bản Hiến pháp 1946, 1959, 1980, 1992 đều chưa đề cập đến quyền được sống trong môi trường trong lành. Để khắc phục bất cập trên và hiến định hóa việc bảo vệ môi trường đã được ghi nhận trong các văn kiện của Đảng tại Đại hội VIII, IX, X, XI, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) và trong Nghị quyết 41/NQ-TW ngày 15 tháng 11 năm 2004 của Bộ Chính trị khóa IX về bảo vệ môi trường trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Dự thảo Hiến pháp 1992 sửa đổi, bổ sung năm 2013 đã tạo ra những đột phá mới khi ghi nhận về quyền được sống trong môi trường trong lành. Việc ghi nhận quyền này trong Hiến pháp có nhiều ý nghĩa to lớn.

Thứ nhất, về nhận thức, việc ghi nhận quyền được sống trong môi trường trong lành trong Hiến pháp, thể hiện quan điểm bảo vệ quyền con người nói chung, quyền được sống trong môi trường trong lành nói riêng là tư tưởng xuyên suốt của Đảng và Nhà nước ta, coi con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển.

Thứ hai, Việt Nam đã ký và tham gia hai Tuyên bố quốc tế liên quan đến quyền được sống trong môi trường trong lành là: Tuyên bố Stockhom về môi trường con người năm 1972 và Tuyên bố Rio de Janeiro về môi trường và phát triển năm 1992[6]. Do vậy việc ghi nhận quyền được sống trong môi trường trong lành vào Hiến pháp khẳng định cam kết quốc tế mạnh mẽ của Đảng và Nhà nước ta đối với bảo vệ môi trường, bảo đảm thực hiện quyền được sống trong môi trường trong lành.

          Thứ ba, về pháp lý với tư cách là đạo luật có giá trị pháp lý cao nhất. Ghi nhận quyền được sống trong môi trường trong lành vào Hiến pháp là cơ sở để cụ thể hóa quyền này trong Luật Bảo vệ môi trường cũng như các văn bản pháp luật liên quan.

Thứ tư, về thực tiễn, khi đã quy định rõ quyền được sống trong môi trường trong lành và cơ chế bảo vệ quyền này trong Hiến pháp và pháp luật sẽ góp phần thực hiện ngày càng có hiệu quả quyền được sống trong môi trường trong lành trên thực tiễn. Bởi khi đã ghi nhận vào Hiến pháp, bên cạnh cơ chế pháp lý thông thường, quyền được sống trong môi trường trong lành có thể được bảo vệ thông qua cơ chế bảo vệ Hiến pháp. Tuy nhiên, để bảo vệ quyền được sống trong môi trương trong lành theo cơ chế này Hiến pháp cần phải có giá trị áp dụng trực tiếp, chứ không phải chờ có Luật cụ thể hóa mới được áp dụng. Hơn nữa, Hiến pháp cũng phải quy định rõ thẩm quyền của Hội đồng bảo hiến trong bảo vệ các quyền được ghi nhận trong Hiến pháp.

2. Nội dung quyền được sống trong môi trường trong lành trong Dự thảo Hiến pháp năm 1992 sửa đổi, bổ sung năm 2013.

          Một bản Hiến pháp thường đề cập đến hai vấn đề lớn, xuyên suốt là phân quyền (tổ chức, thực hiện quyền lực nhà nước) và nhân quyền (quyền con người, quyền công dân). Trong Dự thảo Hiến pháp sửa đổi, bổ sung năm 2013 của nước ta cũng thể hiện khá rõ vấn đề này. Sau Chương 1 về Chế độ chính trị, tại Chương 2 của Dự thảo đã ghi nhận một loạt các quyền con người, trong đó quyền được sống trong môi trường trong lành: “1. Mọi người có quyền được sống trong môi trường trong lành; 2. Mọi người có nghĩa vụ bảo vệ môi trường.”(Điều 46). Tiếp đó Điều 68 Hiến pháp 1992 sửa đổi, bổ sung năm 2013 quy đinh: “1. Bảo vệ môi trường là trách nhiệm của Nhà nước, xã hội và là nghĩa vụ của mọi tổ chức, cá nhân. 

 2. Nhà nước có cơ chế, chính sách bảo vệ môi trường; quản lý, sử dụng hiệu quả các nguồn tài nguyên thiên nhiên; bảo tồn đa dạng sinh học; phòng tránh và giảm nhẹ thiên tai, ứng phó với biến đổi khí hậu.

 Mọi hoạt động bảo vệ môi trường, phát triển năng lượng mới, năng lượng tái tạo, năng lượng sạch, sản xuất sạch và tiêu dùng sạch của tổ chức, cá nhân được Nhà nước khuyến khích.  

 3. Tổ chức, cá nhân gây ô nhiễm môi trường, làm suy kiệt tài nguyên thiên nhiên và suy giảm đa dạng sinh học phải bị xử lý nghiêm và có trách nhiệm khắc phục, bồi thường thiệt hại”. Qua các quy định trên có thể thấy Dự thảo Hiến pháp sửa đổi đã ghi nhận và khẳng định rõ những vấn đề sau:

Một là, không chỉ ghi nhận quyền được sống, Hiến pháp còn khẳng định tất cả mọi người có quyền được sống trong môi trường trong lành. Đó là môi trường có chất lượng cho phép/đảm bảo con người sống có phẩm giá và phúc lợi[7].  

Hai là, ghi nhận sự quan tâm của Đảng và Nhà nước với việc sử dụng tiết kiệm, có hiệu quả các nguồn tài nguyên không thể tái tạo và khuyến khích mọi tổ chức, cá nhân tham gia phát triển các nguồn năng lượng sạch, năng lượng tái tạo,… Trường hợp tổ chức, cá nhân gây ô nhiễm môi trường, làm suy kiệt tài nguyên thiên nhiên và suy giảm đa dạng sinh học phải có trách nhiệm khắc phục và bồi thường thiệt hại.

Ba là, Hiến pháp nhấn mạnh nhu cầu phát triển bền vững, trên cơ sở phát triển kinh tế kết hợp chặt chẽ, hài hòa với phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo vệ môi trường. (Điều 53) đồng thời khẳng định trong bảo vệ môi trường, khoa học công nghệ giữ vai trò then chốt (Điều 67);

Bốn là, để bảo vệ môi trường, bảo đảm thực hiện quyền được sống trong môi trường trong lành, Hiến pháp đã nhấn mạnh trách nhiệm hàng đầu của Nhà nước trong bảo vệ môi trường, bảo đảm thực hiện quyền được sống trong môi trường trong lành. Chúng tôi cho rằng quy định này của Dự thảo khá logic và hợp lý, bởi Nhà nước là do nhân dân lập ra, đóng thuế để thay mặt nhân dân quản lý xã hội, Nhà nước phải có trách nhiệm vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân, trong đó có quyền được sống trong môi trường trong lành. Hơn nữa, Nhà nước đã tham gia những cam kết quốc tế về bảo đảm quyền được sống trong môi trường trong lành, do vậy để thực hiện được trách nhiệm này Nhà nước phải long trọng ghi nhận vào Hiến pháp và xây dựng ra các quy định pháp luật, tổ chức bảo đảm thực hiện. Ở đây cũng phải lưu ý thêm rằng khẳng định trách nhiệm của Nhà nước trong bảo vệ môi trường không có nghĩa phủ nhận nghĩa vụ bảo vệ môi trường của các tổ chức, cá nhân, vì môi trường là vấn đề mang tính toàn cầu, toàn xã hội. Khi quyền được sống trong môi trường trong lành bị xâm phạm do chính hành vi của tổ chức, cá nhân thì Nhà nước phải có trách nhiệm ngăn chặn bằng cách ban hành các quy định buộc các tổ chức, cá nhân phải có nghĩa vụ thực hiện, khi có hành vi vi phạm nghĩa vụ thì Nhà nước sẽ xử lý theo quy định của pháp luật.

Bên cạnh đó, qua nghiên cứu Dự thảo Hiến pháp sửa đổi, bổ sung năm 1992 và Dự thảo Luật Bảo vệ Môi trường liên quan đến quy định về quyền được sống trong môi trường trong lành, chúng tôi thấy một số vấn đề cần phải làm sáng tỏ:

Một là, về nhận thức, quyền được sống trong môi trường trong lành được ghi nhận trong Dự thảo Hiến pháp nên hiểu theo nghĩa tự nhiên của nó (tức trong lành về mặt tự nhiên) hay theo nghĩa rộng hơn còn bao hàm cả trong lành về mặt xã hội.

Hai là, tại Điều 46 của Dự thảo bên cạnh khoản 1 quy định về quyền được sống trong môi trường trong lành, khoản 2 lại quy định mọi người có nghĩa vụ bảo vệ môi trường. Mục đích của nhà lập hiến ở đây có thể hiểu là muốn gắn quyền được sống trong môi trường trong lành với nghĩa vụ bảo vệ môi trường của mọi người, quyền đi liền với nghĩa vụ. Việc quy định nghĩa vụ phải bảo vệ môi trường của mọi người tại khoản 2 Điều 46, trong khi đã được quy định tại khoản 1 Điều 68 của Hiến pháp như vậy đã hợp lý chưa, cũng cần được nghiên cứu làm rõ.

Ba là, về chủ thể phải thực hiện nghĩa vụ bảo vệ môi trường, trong Dự thảo Hiến pháp sửa đổi có quy định không giống nhau. Khoản 2 Điều 46 quy định là “mọi người”…, trong khi đó tại khoản 1 Điều 68 lại sử dụng từ: “mọi tổ chức, cá nhân”… Rõ ràng trong một bản Hiến pháp việc ghi nhận các chủ thể không hoàn toàn trùng khớp nhau trong bảo vệ môi trường là thiếu logic và không phù hợp với văn phong Hiến pháp đòi hỏi khúc triết và khái quát hóa cao. Ở đây chúng tôi cho rằng quy định chủ thể có nghĩa vụ bảo vệ môi trường gồm mọi tổ chức, cá nhân như tại Điều 68 là hợp lý và bao quát.

Bốn là, tại Dự thảo Luật Bảo vệ môi trường 2005 sửa đổi, bổ sung. Một mặt tiếp thu quan điểm ghi nhận cụ thể hóa quyền được sống trong môi trường trong lành: “Mọi người có quyền được sống và quyền yêu cầu được sống trong môi trường trong lành” cũng như cụ thể hơn nghĩa vụ bảo vệ môi trường của mọi người. Tuy nhiên, Dự thảo Hiến pháp chỉ quy định nghĩa vụ phải bảo vệ môi trường của mọi người thì Dự thảo Luật Bảo vệ Môi trường 2005 sửa đổi, bổ sung lại quy định “Bảo vệ môi trường là quyền, trách nhiệm và nghĩa vụ của mọi tổ chức và cá nhân”. Chúng tôi cho rằng quy định như vậy trong Dự thảo Luật là không đúng với tinh thần của Dự thảo Hiến pháp mới và thiếu logic.

Năm là, một thời gian dài từ khi đổi mới đến nay chúng ta chủ yếu đẩy mạnh phát triển kinh tế theo chiều rộng, phát triển dựa trên nhân công giá rẻ, khai thác tài nguyên để tăng trưởng GDP mà chưa quan tâm đúng mức đến vấn đề môi trường nên hiện nay nước ta đang đối mặt với nhiều thách thức lớn về cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên, ô nhiễm môi trường. Do vậy để bảo vệ môi trường, bảo vệ quyền được sống trong môi trường trong lành, kinh tế xanh đóng vai trò đặc biệt quan trọng. Tuy nhiên, trong Dự thảo Hiến pháp sửa đổi không có quy định về vấn đề này.

3. Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về quyền được sống trong môi trường trong lành                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                             

Thứ nhất, về nhận thức cần mình định rõ thế nào là môi trường, môi trường hiểu dưới giác độ rộng hay hẹp,… Nếu chúng ta quan niệm môi trường theo nghĩa rộng thì môi trường không hẳn chỉ là môi trường tự nhiên mà bao hàm môi trường xã hội. Bởi bản chất của môi trường là thống nhất… Chúng có mối quan hệ mật thiết với nhau, những biến đổi về môi trường có thể dẫn tới biến đổi lớn về xã hội và ngược lại sự phát triển của xã hội cũng tác động rõ rệt đến môi trường tự nhiên…. Hiến pháp là đạo luật cơ bản của Nhà nước, có giá trị pháp lý cao nhất trong hệ thống pháp luật. Hiến pháp thường mang tính cưỡng lĩnh lâu dài. Do vậy việc ghi nhận các vấn đề trong Hiến pháp cũng phải có tầm nhìn mang tính quy luật. Từ bản chất của vấn đề môi trường và vị trí của Hiến pháp, chúng tôi cho rằng quyền được sống trong môi trường trong lành được ghi nhận trong Dự thảo Hiến pháp cần được nhận thức bao hàm cả trong lành về mặt tự nhiên và xã hội.

Thứ hai, nên bỏ khoản 2 Điều 46, Dự thảo Hiến pháp sửa đổi vì giữa nội dung quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này là chưa logic. Một là, về mặt lý luận, khi Nhà nước thừa nhận quyền được sống trong môi trường trong lành của mọi người đồng nghĩa với Nhà nước phải có trách nhiệm bảo vệ quyền đó; hai là, quyền được sống trong môi trường trong lành tại khoản 1 không phải lúc nào cũng đồng nhất với nghĩa vụ bảo vệ môi trường tại khoản 2. Bởi môi trường không trong lành, không chỉ do mọi người vi phạm nghĩa vụ gây ra mà có thể do tự nhiên gây ra. Ví dụ: sự cố hạt nhân ở Fukushima, cháy rừng do nắng nóng ở Indonesia,… không phải do con người gây ra nhưng những sự cố này ảnh hưởng đến quyền được sống trong môi trường trong lành của người dân, Nhà nước vẫn có trách nhiệm phải bảo vệ. Hơn nữa, nghĩa vụ bảo vệ môi trường của mọi người đã được quy định rất rõ tại khoản 1, Điều 68 của Dự thảo Hiến pháp, thậm chí về chủ thể có nghĩa vụ bảo vệ môi trường Điều 68 còn xác định rõ ràng hơn khoản 2 Điều 46, đó là mọi tổ chức, cá nhân.

       Thứ ba, thay vì quy định về nghĩa vụ bảo vệ môi trường như tại khoản 2 Điều 46. Theo chúng tôi tại khoản này nên quy định rõ trách nhiệm của Nhà nước trong việc bảo đảm quyền được sống trong môi trường trong lành. Cụ thể: “Cơ quan quản lý Nhà nước phải chịu trách nhiệm bảo đảm quyền được sống trong môi trường trong lành”. Quy định này đảm bảo logic vì Nhà nước đã thừa nhận quyền được sống trong môi trường trong lành thì Nhà nước phải có trách nhiệm bảo vệ. Hơn nữa, quy định này sẽ là cơ sở Hiến định để cụ thể hóa trách nhiệm của Nhà nước, quyền của mọi người liên quan đến quyền được sống trong môi trường trong lành trong Luật Bảo vệ Môi trường. Hiện nay, trong Dự thảo 2 sửa đổi, bổ sung Luật Bảo vệ môi trường 2005 cũng đã cụ thể hóa quy định tại Điều 46 Dự thảo Hiến pháp sửa đổi. Đó là “Mọi người có quyền được sống và quyền yêu cầu được sống trong môi trường trong lành” (khoản 1, Điều 4, Dự thảo Luật Bảo vệ Môi trường 2005 sửa đổi, bổ sung). Rõ ràng Nhà nước phải có trách nhiệm thì mọi người mới có quyền yêu cầu Nhà nước phải bảo đảm thực hiện quyền được sống trong môi trường trong lành.

       Thứ tư, theo chúng tôi cần quy định rõ Hiến pháp được áp dụng trực tiếp và hoàn thiện các quy định về Hội đồng bảo hiến tại Điều 120 Dự thảo Hiến pháp sửa đổi, bổ sung. Theo đó nên xây dựng cơ quan bảo vệ Hiến pháp theo mô hình cơ quan tài phán Hiến pháp, trong đó cần quy định rõ nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan này, không chỉ là kiểm tra tính hợp hiến của các đạo luật, các văn bản dưới luật như quy định tại Điều 120 của Dự thảo mà còn được hủy các văn bản trái Hiến pháp, tham gia giải quyết, bảo vệ các quyền được Hiến pháp ghi nhận. Thực hiện được điều này sẽ tạo ra một cơ chế mới bên cạnh cơ chế pháp luật nói chung để bảo vệ quyền được sống trong môi trường trong lành.

          Thứ năm, chúng tôi đồng ý với quan điểm cho rằng nên ghi nhận vào Hiến pháp vấn đề phát triển kinh tế xanh, đồng thời các hoạt động liên quan đến phát triển năng lượng mới, năng lượng tái tạo, năng lượng sạch, sản xuất sạch và tiêu dùng sạch, Nhà nước không chỉ khuyến khích và còn tạo điều kiện cho các tổ chức, cá nhân thực hiện có hiệu quả. Bởi phát triển kinh tế xanh và tái tạo các nguồn năng lượng mới,… sẽ thúc đẩy phát triển bền vững. Vấn đề này cũng đã được khẳng định trong Văn kiện Đại hội Đảng XI, trong đó đặt ra vấn đề là đẩy mạnh phát triển kinh tế theo chiều sâu, “chú trọng phát triển kinh tế xanh, thân thiện với môi trường”[8]. Do vậy nên bổ sung cụ thể tại Điều 68 như sau:  2. Nhà nước có cơ chế, chính sách bảo vệ môi trường; quản lý, sử dụng hiệu quả các nguồn tài nguyên thiên nhiên; bảo tồn đa dạng sinh học; phòng tránh và giảm nhẹ thiên tai, ứng phó với biến đổi khí hậu.

 Mọi hoạt động bảo vệ môi trường, phát triển kinh tế xanh, phát triển năng lượng mới, năng lượng tái tạo, năng lượng sạch, sản xuất sạch và tiêu dùng sạch của tổ chức, cá nhân được Nhà nước khuyến khích và tạo điều kiện”

         


[1] Xem bài: Về quyền được sống trong môi trường trong lành ở Việt Nam hiện nay/ Bùi Đức Hiển, Tạp chí Luật học. Trường Đại học Luật Hà Nội, Số 11/2011, tr. 22 –28.

[2] Xem thêm: Lời nói đầu của Tuyên bố của Hội nghị Liên hợp quốc về môi trường con người, Sách Các Công ước quốc tế về bảo vệ môi trường. NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội 1995.

[3] Xem thêm bài: 2010 – năm thiên nhiên trả thù con người? của tác giả Kiệt Linh tổng hợp. Nguồn: http://www.tinmoi.vn/2010-nam-thien-nhien-tra-thu-con-nguoi-01225463.html.

[4] Xem: Tuyên bố của Hội nghị Liên hợp quốc về môi trường con người, Nguyên tắc 1, tr11, Sách Các Công ước quốc tế về bảo vệ môi trường. NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội 1995.

[5] Xem thêm: Nguyên tắc 1, Tuyên bố Rio de Janeiro về môi trường và phát triển, Sách Các Công ước quốc tế về bảo vệ môi trường. NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội 1995.

[6] Xem thêm: Giáo trình Luật Môi trường, Trường Đại học Luật Hà Nội, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội 2011, tr 44.

[7] Xem thêm bài: Nhấn mạnh vai trò của Nhà nước Việt Nam cùng cộng đồng quốc tế bảo vệ môi trường, của ThS. Nguyễn Xuân Sinh. Nguồn: http://www.qdnd.vn/qdndsite/vi-vn/61/231530/print/Default.aspx, Thứ Hai, 04/03/2013, 22:52 (GMT+7) [8] Xem: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb CTQG, HN, 2011, trang 222.

NHỮNG SỰ KIỆN MÔI TRƯỜNG ĐÁNG GHI NHỚ GIAI ĐOẠN 1972-2004

NHỮNG SỰ KIỆN MÔI TRƯỜNG ĐÁNG GHI NHỚ CỦA VIỆT NAM
Giai đoạn 1972-2004

1972 –  Ban hành Pháp lệnh Bảo vệ rừng, thành lập lực lượng Kiểm lâm nhân dân
1973 –  Xem xét một số vấn đề liên quan đến môi trường của Đề án Thuỷ điện Hoà Bình
1974 –    Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị 127/CT ngày 24/5/1974 về “Đẩy mạnh công tác điều tra cơ bản về tài nguyên và điều kiện thiên nhiên”
1975 –    Thành lập Vụ điều tra cơ bản thuộc Uỷ ban Khoa học và Kỹ thuật Nhà nước
1976 –   Mở chuyên mục “Bảo vệ môi trường” trên Tạp chí Tin tức Hoạt động Khoa học của Uỷ ban Khoa học và Kỹ thuật Nhà nước
1977 –   Tiến hành các chương trình điều tra tổng hợp tài nguyên và điều kiện thiên nhiên, kinh tế, xã hội và môi trường các vùng đồng bằng sông Cửu Long, Đông Nam Bộ, Tây nguyên, Tây Bắc và vùng biển phía Nam
1978 –    Hội nghị Đánh giá Hoạt động điều tra cơ bản toàn quốc lần thứ nhất
1979 –  Tham gia INFOTERRA- hệ thống đầu mối thông tin môi trường của UNEP (Chương trình Môi trường Liên Hợp Quốc)-   Thực hiện Chương trình Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn do UNICEF tài trợ-    Thành lập Uỷ ban quốc gia điều tra hậu quả chất diệt cỏ và làm trụi lá cây Mỹ dùng trong chiến tranh ở Việt Nam (Uỷ ban 10-80)

–    Vụ Điều tra cơ bản lấy tên giao dịch quốc tế là Vụ Tài nguyên và Môi trường

1981 –    Công bố Hiến pháp 1981, trong đó có Điều 36 thuộc Chương Chế độ kinh tế qui định trách nhiệm bảo vệ môi trường-    Ban hành Luật Bảo vệ Sức khoẻ của nhân dân-    Tiến hành các chương trình nghiên cứu khoa học trọng điểm cấp Nhà nước về Phát triển và Phân bố lực lượng sản xuất, tài nguyên và môi trường, quy hoạch môi trường vùng Đông Nam Bộ, tiếp tục các chương trình điều tra tổng hợp các vùng (giai đoạn 2)
1982 –    Ban hành Quyết định số 71/CT của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng về việc cả nước tổ chức kỷ niệm ngày Môi trường Thế giới hàng năm vào ngày 5/6-    Lần đầu tiên tổ chức kỷ niệm ngày Môi trường Thế giới 5/6 tại Nhà hát lớn- Thành phố Hà Nội-    Tham gia công ước về Bảo vệ Di sản văn hoá và Tự nhiên thế giới (HERITAGE)
1983 –         Thành lập Vườn Quốc gia Cát Bà, khu bảo tồn rừng – biển đầu tiên của Việt Nam-         Tiến hành Hội nghị quốc tế về sử dụng hợp lý Tài nguyên thiên nhiên và Bảo vệ môi trường trong khuôn khổ chương trình Tài nguyên và Môi trường-         Phát hành tài liệu Tổng kết công tác điều tra cơ bản
1984 –         Hoàn thành và xuất bản dự thảo Chiến lược quốc gia về Bảo tồn- những vấn đề tài nguyên và Môi trường (bằng Tiếng Anh)-         Tổ chức nhiều hội thảo tầm cỡ quốc gia về: quản lý môi trường, môi trường và tài nguyên đất, môi trường nước, môi trường không khí, môi trường và dân số – sức khoẻ và nghiên cứu khoa học về môi trường
1985 –         Ban hành nghị quyết số 246/HĐBT ngày 20/9/1985 của Hội đồng Bộ trưởng về “Tăng cường công tác điều tra cơ bản, sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường”-         Tổ chức Hội nghị khoa học về biển với tiêu đề “Hướng ra biển”.-         Tham gia Tổ chức Đăng ký các hoá chất độc hại tiềm tàng (IRPTC)
1986 –         Xuất bản dự thảo Chiến lược quốc gia về bảo tồn (tiếng Việt)-         Tiến hành chương trình về Tài nguyên và Môi trường và các chương trình điều tra tổng hợp (giai đoạn 3)-         Tiến hành đề tài nghiên cứu về dự thảo Luật Bảo vệ Tài nguyên thiên nhiên và Môi trường
1987 –         Ban hành Luật Đất đai-         Tiến hành Hội thảo quốc gia “Bảo vệ môi trường bằng pháp luật”-         Tham gia Công ước IAEA về thông báo sớm sự cố hạt nhân

–         Tham gia Công ước về trợ giúp trong các trường hợp sự cố hạt nhân hoặc cấp cứu về phóng xạ

1988 –         Ban hành Pháp lệnh Bảo vệ và Phát triển Nguồn lợi thuỷ sản-         Thành lập Hội Bảo vệ Thiên nhiên và Môi trường Việt Nam (tên viết tắt tiếng Anh: VACNE)-         Hội thảo đầu tiên về Đánh giá tác động môi trường
1989 –         Ban hành Pháp lệnh về Tài nguyên Khoáng sản-         Uỷ ban Khoa học và Kỹ thuật Nhà nước kiến nghị Chính phủ và Quốc hội thành lập Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường
1990 –         Ban hành Pháp lệnh về Thuế tài nguyên-         Tổ chức thành công Hội nghị quốc tế về Môi trường và Phát triển bền vững tại Cung Đại hội, Hà Nội-         Xây dựng hàng loạt các dự án về bo vệ môi trường
1991 –         Thông qua Luật Bảo vệ và Phát triển rừng-         Thông qua Kế hoạch quốc gia về Môi trường và Phát triển bền vững 1991-2000 (Chỉ thị 187/CT ngày 12/6/1991 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng)-         Tham gia Công ước quốc tế về Ngăn ngừa ô nhiễm do tàu thuyền (MARPOL), Công ước về các vùng đất ngập nước có tầm quan trọng quốc tế, đặc biệt là ni cư trú của loài chim nước (RAMSAR)

–         Tiếp tục triển khai xây dựng dự thảo Luật Bảo vệ môi trường

1992 –         Thành lập Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường-         Đoàn Việt Nam do Phó Thủ tướng Nguyễn Khánh dẫn đầu tham dự Hội nghị của Liên Hợp Quốc về Môi trường và Phát triển (RIO 92), ký các văn kiện và công ước chính đã thông qua tại Hội nghị về môi trường
1993 –         Ngày 27/12/1993, Quốc hội khoá IX thông qua Luật Bảo vệ môi trường (15 ngày sau bắt đầu có hiệu lực)-         Thông qua Luật Dầu khí, Pháp lệnh Thú y, Pháp lệnh Bảo vệ và Kiểm dịch Thực vật-         Thành lập Cục Môi trường, (tên giao dịch quốc tế là National Environment Agency- NEA)

–         Việt Nam trở thành thành viên chính thức của Hiệp hội Bảo tồn thiên nhiên quốc tế (IUCN)

–         Đại hội lần thứ 2 Hội Bảo vệ Thiên nhiên và Môi trường Việt Nam

1994 –         Ban hành Nghị định 175/CP về Hướng dẫn thi hành Luật Bảo vệ môi trường-         Trình Báo cáo Hiện trạng môi trường đầu tiên của Việt Nam cho Quốc Hội-         Các công ước sau đây chính thức có hiệu lực đối với Việt Nam: Công ước về buôn bán quốc tế những loài động thực vật có nguy cơ bị đe doạ (CITES), Nghị định thư Montreal về các chất làm suy gim tầng ôzôn, Công ước Viên về Bo vệ tầng ôzôn, Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển, Công ước khung của Liên Hợp Quốc về Biến đổi khí hậu, Công ước về Đa dạng sinh học

–         Ban hành Chỉ thị 406/CT về cấm sản xuất, vận chuyển, buôn bán và đốt pháo nổ trên phạm vi toàn quốc

–         Đòi tàu Neptun (Singapore) bồi thường 4,2 triệu USD do tràn dầu ở Cát Lái (thành phố Hồ Chí Minh)

–         Ra đời Bản tin Bảo vệ môi trường

Nguồn: http://www.vnppa.org.vn/?m=news&a=page_popupnewsdetail&newsid=1078&lang=vi

 

Bài phỏng vấn của Báo Pháp Luật TP.HCM với PGS-TS Nguyễn Như Phát, Viện trưởng Viện Nhà nước và Pháp luật về sửa đổi Hiến pháp 1992

“Hiến pháp không phải để ban ơn cho nhân dân”

Cần phải nhận thức đúng về Hiến pháp theo nghĩa Hiến pháp không phải là thứ ban ơn của Nhà nước dành cho công dân, không phải Nhà nước cho thế nào được thế nấy.

 Trong quá trình sửa đổi Hiến pháp 1992 (sửa đổi 2001) hiện nay, người ta nhắc rất nhiều đến Hiến pháp 1946 và tư duy xây dựng luật của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Cách thức thiết kế, thể hiện các quyền con người, quyền công dân trong bản Hiến pháp đầu tiên của nước ta đã chứa đựng những tư tưởng tiến bộ mà cho đến nay vẫn còn nguyên giá trị. Pháp Luật TP.HCM đã trao đổi với PGS-TS Nguyễn Như Phát, Viện trưởng Viện Nhà nước và Pháp luật (Viện Khoa học xã hội Việt Nam), xung quanh vấn đề này.

. Phóng viên: Những giá trị tiến bộ của Hiến pháp 1946 về quyền công dân là gì, thưa ông?

+ PGS-TS Nguyễn Như Phát (ảnh): Dưới thời Chủ tịch Hồ Chí Minh, do bối cảnh chính trị xã hội lúc bấy giờ, những người soạn thảo Hiến pháp 1946 là những người có tài, thức thời và không bị chi phối bởi tư tưởng giai cấp hoặc chính trị quá nhiều. Do đó, bản Hiến pháp đầu tiên này có những giá trị rất cấp tiến, tư duy mạch lạc, thể hiện tư tưởng tiến bộ của chủ nghĩa lập hiến hiện đại. Theo đó, Hiến pháp là “văn bản ủy quyền” của nhân dân cho Nhà nước, trao cho Nhà nước hệ thống quyền lực cụ thể của nhân dân, ấn định việc phân công, phối hợp, kiểm soát quyền lực và các nguyên tắc, phương pháp thực thi quyền lực Nhà nước cũng như ghi nhận và xác lập trách nhiệm của Nhà nước trong việc đảm bảo thực thi các quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân.

Tinh thần của Hiến pháp 1946 như vậy nên ngay cả việc sắp xếp các chương thì quyền con người, quyền công dân cũng nằm ở chương hai trong khi trong Hiến pháp hiện hành là chương năm. Sắp tới, bản Hiến pháp sửa đổi chắc sẽ có sự thay đổi và quay về cách sắp xếp của bản Hiến pháp ban đầu.

Mặt khác, Hiến pháp vẫn là văn bản quy phạm pháp luật và phải có giá trị thi hành. Điều đó có nghĩa là quyền của công dân được ghi nhận trong Hiến pháp có giá trị áp dụng trực tiếp, không có nhu cầu cần phải cụ thể hóa. Những quyền của công dân trong Hiến pháp 1946 thể hiện rõ nhất điều đó chứ không kèm thêm câu “theo quy định của pháp luật” như từ Hiến pháp 1980 trở đi.

Trên thực tế thì quyền và nghĩa vụ công dân trong Hiến pháp thường cần đến luật quy định cụ thể. Muốn điều chỉnh những quyền này của công dân thì Nhà nước phải có luật nhưng không phải là cắt xén tinh thần của Hiến pháp. Luật đó chỉ mang tính chất trình tự thủ tục và dĩ nhiên, ở một xã hội văn minh thì quyền đó phải được thực hiện trong một khuôn khổ và trình tự nhất định. Tuy vậy, việc hạn chế quyền của công dân có thể được thể hiện theo quy định của luật (chứ không phải của mọi pháp luật) và phù hợp với Hiến pháp chứ không phải hạn chế vì lợi ích Nhà nước.

Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng, Chủ tịch Ủy ban Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992, phát biểu trong phiên họp lần thứ tư năm 2012. Ảnh: TTXVN

Giữ gìn sự thiêng liêng của Hiến pháp

. Vậy quyền của công dân được ghi nhận trong Hiến pháp 1946 có gì khác so với hiện nay?

+ Trước giờ chúng ta vẫn quen đánh đồng lợi ích công cộng với lợi ích Nhà nước là một nhưng hoàn toàn không phải như thế. Nhà nước chỉ là một chủ thể trong xã hội và có lợi ích riêng của mình còn xã hội có rất nhiều chủ thể có lợi ích riêng. Những quy định hạn chế một phần, hạn chế quyền của công dân để đảm bảo lợi ích công cộng đều phải được cân đong đo đếm để phù hợp với tinh thần của Hiến pháp.

Theo tôi, cần phải nhận thức đúng về Hiến pháp theo nghĩa Hiến pháp không phải là thứ ban ơn của Nhà nước dành cho công dân, không phải Nhà nước cho thế nào được thế nấy. Đây là sự khác biệt rất lớn về tư tưởng lập hiến từ Hiến pháp năm 1980 trở đi so với Hiến pháp 1946.

Từ Hiến pháp 1980, triết lý lập hiến của ta là mọi quyền cơ bản của công dân đều phải được thực hiện trong khuôn khổ của pháp luật nhưng cách ban hành pháp luật của chúng ta lại có vấn đề. Nếu hiểu theo cách đó thì theo Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, những ông nghị làng nghị xóm cũng có thể xóa đi một điều trong Hiến pháp. Đơn giản là do các ông ấy có thể ra nghị quyết (được coi là pháp luật) mà nghị quyết này trên thực tế lại không bị kiểm soát. Hơn nữa, trên thực tế, rất ít thấy việc văn bản pháp luật của cấp dưới bị hủy bỏ bởi cấp trên. Như vậy, sự thiêng liêng của Hiến pháp đã bị ảnh hưởng.

Pháp luật không phải để cai trị

. Từ triết lý lập hiến như vậy, ông có suy nghĩ gì về cơ chế ban hành pháp luật hiện nay?

+ Cách thức, tư duy làm luật cũng không khác gì so với việc ban hành Hiến pháp. Lâu nay người ta vẫn nghĩ pháp luật là của Nhà nước, là công cụ mà Nhà nước dùng để cai trị và quản lý xã hội. Vì thế, hiểu theo nghĩa thô thiển, cơ quan ban hành pháp luật dễ “tự do” ấn định ý chí của mình vào văn bản pháp luật để cho dân thực hiện. Đặc biệt, cách tư duy như vậy sinh ra tư tưởng làm luật ban ơn, Nhà nước ban phát đến đâu, dân hưởng đến đó.

Cạnh đó, mọi người vẫn nghe khẩu hiệu đưa pháp luật vào cuộc sống song chưa ai đặt ra vấn đề đưa cuộc sống vào pháp luật. Nếu không đưa cuộc sống vào pháp luật thì pháp luật đang tồn tại có được coi là pháp luật hay không? Đó là chưa bàn tới câu chuyện nó có khả năng thực thi hay không. Luật không phản ánh nhu cầu thật của xã hội thì làm sao xã hội có thể thực hiện nó, ấn nó vào xã hội làm sao được? Đây là vấn đề về tính chính đáng của pháp luật.

. Ông có thể đưa ra những ví dụ cụ thể?

+ Thí dụ việc giao cho Bộ Công an chủ trì soạn thảo Luật Biểu tình thì đương nhiên Bộ Công an phải nghĩ làm sao cho hoạt động an ninh được đảm bảo. Và người ta sẽ có những quy định về biểu tình để đảm bảo an ninh theo nghĩa của những người làm an ninh chứ chưa chắc đã phải là của nhân dân.

Một thí dụ khác là trong ngành tài chính của ta, từ cơ quan nhỏ đến cơ quan to cứ chăm chăm làm sao thu được nhiều thuế của dân. Nhưng kinh tế học chứng minh đó là tư duy sai lầm, kể cả khi việc đó phục vụ cho mục tiêu làm giàu ngân sách quốc gia. Anh thu nhiều thuế, thu thuế cao thì người ta không đóng và sinh ra đủ kiểu trốn thuế. Không có nhà nước nào khôn hơn dân và không có nhà nước nào mạnh hơn dân cả!

Cân đối lợi ích trong ban hành pháp luật

. Thế tại sao tư duy làm luật này vẫn còn tồn tại, thưa ông?

+ Theo tôi, hệ thống thực thi pháp luật, trình tự thủ tục hành chính, tư tưởng đạo đức của con người trong bộ máy nhà nước đang làm cho vấn đề này càng trầm trọng thêm. Thêm vào đó là vấn đề quan trí. Báo chí cũng đã từng lên án về tệ chạy chức chạy quyền. Có mua ắt có bán. Đây là thị trường béo bở mà nhà đầu tư kém cỏi nhất cũng nghĩ đến chuyện hoàn vốn. Trong đó thời gian hoàn vốn chính là nhiệm kỳ, đó là một trong những vấn đề sinh ra tư duy nhiệm kỳ. Tư duy chính trị, truyền thống lập pháp, thực trạng của hệ thống quản lý trên đều là những yếu tố có thể giải thích nguyên nhân tại sao luật pháp lại hay vơ vào cho Nhà nước như vậy.

Bên cạnh đó, tham nhũng chính sách là thứ vô cùng nguy hiểm. Loại tham nhũng này được dựa trên những cơ sở của pháp luật, xuất phát từ vai trò chủ trì soạn thảo pháp luật. Loại tham nhũng này dựa trên cơ sở hợp pháp nên có hậu quả khôn lường.

Lợi ích và cục bộ ngành cũng là vấn đề làm suy yếu Nhà nước. Các bộ, ngành, các địa phương đều cùng ngồi trong một con thuyền là Nhà nước. Nếu họ không cùng phối hợp nhịp nhàng và trên tinh thần phục vụ nhân dân toàn quốc vì sự phát triển chung và đồng đều của đất nước thì sẽ không là những vector cùng chiều để tạo thành sức mạnh chung cho Chính phủ.

Trên thực tế, có những vấn đề vượt phạm vi của một ngành, một bộ, buộc họ phải ngồi lại cùng nhau để ban hành chính sách hay pháp luật (thí dụ như thông tư liên bộ). Những vấn đề lớn hơn sẽ phải do tập thể Chính phủ bàn bạc và quyết định (dưới dạng nghị định). Những vấn đề quan trọng của đất nước phải do Quốc hội quyết định. Trong quá trình đó, nếu không “cân đối” được lợi ích ngành, địa phương với lợi ích quốc gia thì quản lý đất nước sẽ không minh bạch, không thông suốt và tạo kẽ hở cho tiêu cực trong hệ thống và lãng phí xã hội, tạo cơ chế xin – cho.

Những hiện tượng như các địa phương, các ngành tìm cách để xin cơ chế riêng, thậm chí cả các đoàn đại biểu Quốc hội có thể tạm quên đi lợi ích quốc gia mà phấn đấu cho lợi ích địa phương mình… đều là những biểu hiện của chủ nghĩa cục bộ. Những “phi vụ” đó thành công thì cơ chế và chính sách sẽ được hợp pháp hóa. Nếu không đổi những tư duy này từ gốc thì pháp luật của chúng ta không thể làm bà đỡ cho xã hội phát triển.

. Xin cảm ơn ông.

THANH LƯU thực hiện

 

Một số bình luận

  • VU MINH NUONG (vunuong…@gmail.com)Tất cả những ý kiến và nhận xét này đều đúng và rất chí lí. Nếu Việt Nam mà thực hiện được như vậy thì dân sẽ giàu có, ấm no, nước Việt Nam sẽ hùng cường.
  • HUỲNH THẮNG LỢI (huynhthangloi@…com)Bài viết này rất hay, phản ánh đúng với những suy nghĩ của những người công dân không phải là chính trị gia, cũng không phải “dân luật”. Luật chính xác là phản ánh những hoạt động của xã hội, vậy các hoạt động xã hội sẽ diễn ra trước và luật sẽ cập nhật các khía cạnh này của cuộc sống.
  • THÂN NHẤT (nhatthan…@yahoo.com.vn)Bài viết thật chí lý và sâu sắc. Điều cần bây giờ là những ý kiến như vậy phải được lắng nghe và tiếp thu từ những người có trách nhiệm để bản Hiến pháp mới tới đây và pháp luật nói chung hội tụ được những tiến bộ và tinh hoa nhân loại. Cám ơn tác giả.
  • NGUYỄN HOÀNG HẢI (…hoanghai@yahoo.de)Chúng ta hay nói về xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Nếu xem Hiến pháp các nước tư bản như Đức họ cũng khẳng định nhà nước họ là nhà nước pháp quyền. Nhưng ngoài ra Hiến pháp họ còn khẳng định nhà nước họ là nhà nước xã hội. Trên cơ sở đó, các biện pháp xã hội lo phúc lợi xã hội cho dân đã được bảo đảm về y tế, giáo dục… Theo tôi đó là điều Việt Nam nên tham khảo và phải làm tốt hơn họ thì mới khẳng định được tính ưu việt nhà nước ta so với họ.
  • HONG HA (hongha…@gmail.com)

    Ông Phát nói đúng quá.

    Nguồn: http://phapluattp.vn/20120902111641122p0c1013/hien-phap-khong-phai-de-ban-on-cho-nhan-dan.htm

Bài phỏng vấn của: kienthuc.net.vn với PGS.TS. Nguyễn Như Phát, Viện trưởng Viện Nhà nước và Pháp luật

Trách nhiệm công vụ của ta rất kém!

(Kienthuc.net.vn) – PGS.TS Nguyễn Như Phát nhận định về con số 10.039 văn bản được kiểm tra trong năm 2012 “có dấu hiệu chưa đảm bảo tính hợp pháp”.

Vậy thì kinh khủng quá!

Theo báo cáo tổng kết công tác tư pháp năm 2012 của Bộ Tư pháp thì trong tổng số 564.524 văn bản được kiểm tra đã phát hiện 10.039 văn bản “có dấu hiệu chưa đảm bảo tính hợp pháp”, trong đó có 1.394 văn bản quy phạm pháp luật “có dấu hiệu vi phạm pháp luật về nội dung”. Ông bình luận gì về những con số này?
Gần 1.400 văn bản quy phạm pháp luật “có dấu hiệu vi phạm pháp luật về nội dung” cơ à? Vậy thì kinh khủng quá!
Tại sao ông lại cho là “kinh khủng”?
Bởi có phải cơ quan Nhà nước nào cũng được ban hành văn bản quy phạm pháp luật đâu! Còn trong hơn 10.000 văn bản kia, nếu xét cả văn bản hành chính và văn bản quy phạm pháp luật thì con số đó cũng không đến nỗi nào và hoàn toàn dễ hiểu trong thực trạng pháp luật và thực thi pháp luật kém hiệu quả như ở ta hiện nay.
Còn nói rằng nó “có dấu hiệu vi phạm pháp luật về nội dung”, “có dấu hiệu chưa đảm bảo tính hợp pháp” thì tôi nghi ngờ đấy.
Ông nghi ngờ về điều gì và tại sao?
Tôi nghi ngờ về tiêu chí. Căn cứ nào để nói như thế? Trước đây, viện kiểm sát có chức năng kiểm soát xem văn bản có hợp pháp hay không rồi công bố, kháng nghị. Nhưng sau này, chúng ta bỏ quyền đó ra khỏi viện kiểm sát, chuyển về cho Cục Kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật thuộc Bộ Tư pháp, tức là chuyển quyền này từ cơ quan tư pháp về cơ quan hành pháp. Mà cơ quan hành pháp chỉ có quyền kiểm soát thôi, không có quyền phán xét. Do đó, kết quả này tôi cho là rất nửa vời.
Sao ông lại bảo kết quả này là “nửa vời”?
Người ta thông báo kết quả đó xong rồi thì làm gì? Cục trưởng có dám ra quyết định hủy quyết định của một Chủ tịch UBND tỉnh nào đó vì “có dấu hiệu vi phạm pháp luật” không? Nếu không thì nó là nửa vời chứ còn gì nữa! Lẽ ra phải thiết lập tài phán hành chính và tài phán hiến pháp mạnh, giao tòa án chức năng giải thích pháp luật thì mới hủy được chứ tuyên bố khơi khơi như vậy thì không làm gì được đâu, sẽ lại chỉ để đấy thôi. Cùng lắm thì “đắp chiếu” hay tự thu hồi.
Nhưng dù gì thì việc công bố kết quả kiểm tra như thế cũng có giá trị nhất định chứ?
Thì đương nhiên. Nó sẽ là một tiếng chuông cảnh tỉnh đối với những người ban hành văn bản, để họ làm cho tốt hơn.
PGS.TS Nguyễn Như Phát, Viện trưởng Viện Nhà nước và Pháp luật,
Viện Khoa học Xã hội Việt Nam.

Vết…  trên mặt Nhà nước

Vậy còn về phía người dân, ông có cho rằng với hơn 10.000 văn bản “có dấu hiệu chưa đảm bảo tính hợp pháp” sẽ khiến cho người dân nghi ngờ, giảm niềm tin vào cơ quan công quyền?
Cái đó là không tránh khỏi. Xét về mặt nguyên tắc thì trong hệ thống nhà nước, chỉ cần có một văn bản vi phạm pháp luật, xâm hại quyền lợi hợp pháp và chính đáng của công dân thì đó cũng là một vết không đẹp tô lên mặt Nhà nước rồi.
Nghĩa là, hơn 10.000 văn bản “có dấu hiệu chưa đảm bảo tính hợp pháp” thì sẽ tạo thành “vết” cực lớn?
Suy luận logic là như thế. Nhưng suy cho cùng, lập pháp, hành pháp hay tư pháp đều là do con người thực hiện mà. Đến cái máy tính nhiều khi còn bị virus làm hỏng bộ nhớ đấy thôi. Không có nhà nước nào tránh được hết vết loại này. Vấn đề là làm sao để chúng càng ít càng tốt. Nhưng hơn 10.000 văn bản như thế thì kể cũng lớn đấy!

Người ta còn bận thu hồi vốn

Theo ông thì nguyên nhân của hơn 10.000 văn bản “có vấn đề” là do đâu?
Một trong những nguyên nhân là vì những người ban hành văn bản không chịu khó đọc, không chịu khó học, không chịu nghiên cứu hoặc không thèm nghe ai cả, thích thế nào thì làm thế ấy.
Ông nói thế nào chứ có phải ai cũng có quyền ban hành văn bản đâu? Họ phải là những người có một vị trí, năng lực, trình độ nhất định chứ? 4 “không” như ông nói có mà “chết” à?
Đương nhiên, không phải ai cũng có quyền ban hành văn bản. Và cũng đương nhiên, số 4 “không” đó cũng không phải là nhiều. Nhưng trên thực tế, nhiều khi có những lý do rất khác nhau mà người ta tự nhiên ngồi vào vị trí lãnh đạo nào đó, chẳng hề nắm được lĩnh vực mình phụ trách nhưng vẫn buộc phải đưa ra quyết định quản lý thì sai là dễ hiểu. Đó là chưa kể do “thị trường Lã Bất Vi” mua quan bán chức (mà báo chí vẫn trực tiếp hay gián tiếp nói đến), đang xuất hiện cái gọi là “tư duy nhiệm kỳ”. Trong thời gian ấy, họ còn phải lo thu hồi vốn, làm sao mà có thời gian quan tâm nhiều đến trách nhiệm quản lý, trách nhiệm nghiên cứu để ban hành văn bản có chất lượng được!

Theo ông thì cơ quan quản lý có biết được điều này?
Tôi nghĩ là có đấy. Nhưng bối cảnh khó và ít kiểm soát về kỷ luật và trách nhiệm như hiện nay thì “lối ra” của tình hình là còn khá mờ mịt. Cứ nghiên cứu kỹ Nghị quyết Trung ương 4 và 6 thì chúng ta sẽ thấy mình đang ở đâu.

Minh bạch, minh bạch và minh bạch

Để giảm số văn bản không hiệu lực pháp luật thì cần phải làm gì, thưa ông?
Bắt đầu từ một câu mà người ta nói mãi rồi. Ấy là phải minh bạch. Minh bạch trong việc quy định quyền và nghĩa vụ, trong các quy trình, trong các tiêu chí ban hành văn bản. Khi công khai, minh bạch những cái đó rồi thì mọi người buộc phải theo, mà muốn theo thì phải học, phải đọc. Minh bạch sẽ giúp cho chủ thể có thẩm quyền ban hành văn bản hiểu đường đi của mình.
Theo ông, với hơn 10.000 văn bản “có dấu hiệu không đảm bảo tính hợp pháp” thì có nên hủy không?
Nói là “có dấu hiệu” thì chưa chắc nó đã không hợp pháp. Chúng ta không có một cơ quan danh chính ngôn thuận đủ sức mạnh và trách nhiệm để công bố chính thức văn bản đó có hợp pháp hay không nên cũng không thể hủy được đâu. Lý do là tài phán hiến pháp chưa có mà tài phán hành chính lại đang quá yếu.
Vậy còn với những người, cơ quan ban hành văn bản “có vấn đề” như thế thì cần xử lý thế nào?
Về mặt nguyên tắc thì phải xử lý người ra văn bản sai nhưng áp dụng khó khăn lắm. Vì vấn đề cá thể hóa kỷ luật và trách nhiệm trong công vụ của ta rất kém. Do đó, khi người ta làm sai có sao đâu? Chỉ rút kinh nghiệm chung chung, quy vào “trách nhiệm tập thể” nên chả biết là trách nhiệm của ông nào. Chủ nghĩa tập thể là nơi tốt nhất để ẩn náu trách nhiệm cá nhân.
Xin cảm ơn ông về cuộc trò chuyện thẳng thắn này!
– “Bây giờ, cục – bộ – ngành là căn bệnh chưa được chữa trị dứt điểm trong thực tiễn làm luật cũng như làm Nghị định của chúng ta. Ví dụ, anh làm ở ngành này, được chuẩn bị làm luật thì anh phải viết làm sao để giải quyết được những bức xúc của ngành, tính xem ngành của anh được lợi gì khi ban hành luật đó. Đương nhiên, khi ngành anh được lợi nhiều hơn thì lại khiến cho ngành khác hưởng lợi ít hơn. Tôi đã từng tham gia vào một vài ban soạn thảo làm luật nên cũng biết tí chút”.– “Nhiều khi có những văn bản rất buồn cười. Ví như cấm đám ma công chức không được quá 7 vòng hoa (tôi nghe nói thế). Tôi không hiểu người ta nhận thức thế nào về năng lực và giới hạn của pháp luật mà ban hành quy định đó. Cứ đà này có khi người ta quy định mỗi tuần người chồng được ngủ với vợ mấy lần”.
PGS.TS Nguyễn Như Phát 

Bài tham gia Hội thảo Việc

 

KHÁI NIỆM VIỆC LÀM, VIỆC LÀM BỀN VỮNG VÀ KIẾN NGHỊ ĐỐI VỚI VIỆC

XÂY DỰNG LUẬT VIỆC LÀM

                                                                   Bùi Đức Hiển

                                                                  Viện Nhà nước và Pháp luật

Đặt vấn đề

Khoảng hơn 20 năm trở về trước, có lẽ không một ai trong chúng ta lại nghĩ đến một một ngày nào đó, Nhà nước lại phải ban hành một đạo luật về việc làm. Mặc dù trên thực tế thời kỳ này cũng có những người thất nghiệp và bán thất nghiệp (thiếu việc làm). Điều này cũng dễ hiểu bởi đất nước chúng ta khi đó vẫn là nền kinh tế tập trung, quan liêu, bao cấp, người lao động làm việc trong các doanh nghiệp của Nhà nước chỉ làm theo kế hoạch mà không cần phải quan tâm hay lo lắng hàng hóa có bán được hay không, hàng hóa làm ra bao nhiêu Nhà nước phân phối hết đến đó[1]; hoặc tham gia làm việc tập thể trong các hợp tác xã theo công, điểm, nên không phải lo mất việc làm. Hơn nữa, thời kỳ này mọi người có nhiều vấn đề cần phải quan tâm hơn là vấn đề thất nghiệp như phục vụ chiến đấu bảo vệ tổ quốc, điều kiện sống giữa mọi người đều khó khăn, đói khổ hầu như không khác nhau… Do vậy vấn đề việc làm chưa trở thành vấn đề xã hội “nóng bỏng” trong thời kỳ này.

Đại hội VI của Đảng năm 1986 đã mở đầu cho chiến lược cải cách mở cửa phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta[2]. Kinh tế thị trường bên cạnh những ưu điểm, cũng có những tồn tại nhất định, trong nền kinh tế thị trường vấn đề lợi ích luôn được đặt lên hàng đầu… Do vậy sự cạnh tranh lẫn nhau để tranh giành lợi nhuận, thị trường, lao động… là rất khốc liệt. Điều đó một mặt thúc đẩy các cá nhân, doanh nghiệp tham gia vào hoạt động kinh tế phải cải tiến khoa học, công nghệ, nâng cao năng lực của các tổ chức, cá nhân. Nhưng cũng làm cho nhiều doanh nghiệp bị sức ép quá lớn phải thu hẹp sản xuất, cắt giảm lao động thậm chí là bị phá sản…[3] dẫn tới số người lao động bị mất việc rất lớn, gây ra nhiều vấn đề xã hội. Thậm chí ở nhiều quốc gia, thất nghiệp là nguyên nhân chính dẫn tới khủng hoảng kinh tế, chính trị[4]… Nhận thức được tầm quan trọng của vấn nạn thất nghiệp, Đảng[5] và Nhà nước ta đã ban hành nhiều chính sách, pháp luật để tạo việc làm và bảo đảm việc làm cho người lao động, đặc biệt là sắp thông qua Luật Việc làm đã tạo hành lang pháp lý thuận lợi cho cho người lao động tham gia vào thị trường lao động… Để Luật Việc làm được xây dựng hiệu quả đáp ứng được nhu cầu thực tiễn thì việc hiểu đúng bản chất của việc làm, thực tiễn điều chỉnh và thực hiện pháp luật về việc làm và việc làm bền vững ở Việt Nam; kiến nghị hoàn thiện đóng vai trò quan trọng. Bài viết này sẽ góp phần làm sáng tỏ điều đó.

1. Việc làm bền vững: khái niệm, đặc điểm, vai trò và ý nghĩa

          1.1. Khái niệm, đặc điểm của việc làm

Việc làm là một thuật ngữ thường xuyên được nhắc đến trong nền kinh tế thị trường. Tuy nhiên, hiểu thế nào là việc làm cũng có nhiều quan niệm, tùy theo cách tiếp cận.

Dưới góc độ lý luận, Mác cho rằng:“việc làm là phạm trù để chỉ trạng thái phù hợp giữa sức lao động và những điều kiện cần thiết (vốn, tư liệu sản xuất, công nghệ,…) để sử dụng sức lao động đó”. Trong đó sức lao động do người lao động sở hữu, còn những điều kiện cần thiết như vốn, tư liệu sản xuất, công nghệ,… có thể do người lao động có quyền sở hữu, sử dụng hay quản lý hoặc chủ sử dụng lao động nắm giữ….   

Dưới góc độ kinh tế – xã hội, việc làm là các hoạt động tạo ra, đem lại lợi ích, thu nhập cho NLĐ được xã hội thừa nhận. Mỗi cá nhân có thể tham gia công việc nào đó để được trả công hoặc tham gia vào các hoạt động mang tính chất tự tạo việc làm như dùng các tư liệu sản xuất kinh doanh nhằm thu lợi nhuận hoặc tự làm những công việc cho hộ gia đình mình. Bên cạnh vấn đề cá nhân, việc làm còn là vấn đề của cộng đồng của xã hội. Sở dĩ có sự phát sinh này là do: con người không sống đơn lẻ và hoạt động lao động của mỗi cá nhân cũng không đơn lẻ mà nằm trong tổng thể các hoạt động sản xuất của xã hội. Hơn nữa, việc làm và thu nhập không phải là vấn đề mà lúc nào mỗi cá nhân NLĐ cũng quyết định được. Sự phát triển quá nhanh của dân số, mức độ tập trung tư liệu sản xuất ngày càng cao vào tay một số cá nhân dẫn đến tình trạng xã hội ngày càng có nhiều người không có khả năng tự tạo việc làm. Trong điều kiện đó, mỗi cá nhân phải huy động mọi khả năng của bản thân để tự tìm việc làm cho mình, phải cạnh tranh để tìm việc làm.

Dưới góc độ pháp lý

+ Theo quan niệm quốc tế

 Tổ chức lao động quốc tế ILO (International Labour Organization) đưa ra khái niệm: người có việc làm là những người làm việc gì đó được trả tiền công, lợi nhuận hoặc được thanh toán bằng hiện vật hoặc những người tham gia vào hoạt động mang tính chất tự tạo việc làm vì lợi ích hay vì thu nhập gia đình không được nhận tiền công hoặc hiện vật. Khái niệm này còn được đưa ra tại Hội nghị quốc tế lần thứ 13 của các nhà thống kê lao động ILO.[6]

+ Theo quan niệm của Việt Nam:

Đã được hơn 25 năm kể từ khi đất nước ta chuyển sang nền kinh tế thị trường, theo đó quan niệm về việc làm và vấn đề liên quan như thất nghiệp, chính sách giải quyết việc làm đã có những thay đổi cơ bản. Hiến Pháp năm 1992 quy định: “Lao động là quyền và nghĩa vụ của công dân. Nhà nước và xã hội có kế hoạch tạo ngày càng nhiều việc làm cho NLĐ” (Điều 55). Từ quan niệm nay đã mở ra bước chuyển căn bản trong nhận thức về việc làm. Trên cơ sở này, Bộ luật Lao động Việt Nam đã quy định: “Mọi hoạt động lao động tạo ra nguồn thu nhập không bị pháp luật cấm đều được thừa nhận là việc làm” (Điều 13 Bộ luật Lao động).

          Trong Dự thảo Luật Việc làm “Việc làm” là hoạt động tạo ra nguồn thu nhập, không bị pháp luật cấm”.

          Có thể thấy quan niệm về việc làm trong Bộ luật Lao động hiện hành và Dự thảo Luật Việc làm là như nhau. Tuy vậy, qua nghiên cứu các quan niệm về việc làm, chúng tôi cho rằng cần làm rõ nguồn thu nhập ở đây là như thế nào? Có phải cứ thực hiện công việc nhất định và bắt buộc phải có thu nhập thì mới coi đó là việc làm hay không; nguồn thu nhập có đồng nghĩa với các lợi ích hoặc nhu cầu nào đó mà người lao động đó có được sau khi làm việc hay không?

Do vậy để hạn chế những tồn tại này, chúng tôi cho rằng: việc làm là tất cả những hoạt động, những công việc không bị pháp luật cấm, có tạo ra nguồn thu nhập hoặc các lợi ích hay phục vụ cho nhu cầu hợp pháp nào đó.

Đặc điểm của việc làm

Một là, về chủ thể thường hình thành giữa bên bán sức lao động và bên mua sức lao động. Tuy nhiên, có ngoại lệ là người lao động có thể làm việc cho chính mình. Ví dụ: trồng trọt trên đất của mình hoặc mở cửa hàng dịch vụ tự kinh doanh,…;

Hai là, về đối tượng của việc làm là sức lao động, người đi làm việc phải sử dụng sức lao động để thực hiện một công việc nhất định, còn người sử dụng lao động hay người thuê làm việc phải trả một khoản tiền nhất định.

Ba là, về mục đích của việc làm là được hưởng một khoản thu nhập hoặc các lợi ích, nhu cầu nào đó nhằm thỏa mãn nhu cầu của người lao động cũng như thành viên gia đình họ. Ỏ mức độ lớn hơn mục đích việc làm nhằm ổn định kinh tế, xã hội.

Bốn là, hoạt động này phải hợp pháp: hoạt động làm công việc nhất định nhưng bị pháp luật cấm thì không được coi là việc làm. Ví dụ: buôn bán ma túy,…

Tùy theo điều kiện kinh tế – xã hội, tập quán, quan niệm về đạo đức của từng nước mà pháp luật có sự quy định khác nhau trong việc xác định tính hợp pháp của các hoạt động lao động được coi là việc làm. Đây là dấu hiệu thể hiện đặc trưng tính pháp lí của việc làm.

1.2. Khái niệm, đặc  điểm việc làm bền vững

Khái niệm việc làm bền vững

Những năm vừa qua, chúng ta nói nhiều đến vấn đề phát triển bền vững. Tư tưởng về phát triển bền vững đã có từ lâu trong lịch sử nhân loại, nhưng thuật ngữ phát triển bền vững thì mới chính thức ra đời vào những năm 80 của thế kỷ 20 ban đầu nó được dùng để chỉ sự phát triển hài hòa giữa con người và giới tự nhiên, nhưng ngày nay thuật ngữ này được mở rộng thêm cả về mặt xã hội[7], như: xã hội bền vững, giáo dục bền vững, việc làm bền vững,.... Về thuật ngữ bền vững hiểu nôm na để chỉ sự phát triển lâu dài, ổn định và hiệu quả, không làm mất, làm phai nhạt những giá trị đã có, đang có và sẽ có. Ở Việt Nam, về việc làm bền vững cũng có nhiều cách hiểu khác nhau. Nếu hiểu việc làm bền vững dưới giác độ là một công việc cụ thể thì theo chúng tôi: việc làm bền vững là những công việc, hoạt động được người lao động tự do lựa chọn phù hợp với trình độ, năng lực của mình không bị pháp luật cấm, trong điều kiện bình thường người lao động có thể làm việc hiệu quả, lâu dài và ổn định, có nguồn thu nhập tương xứng với sức lao động họ bỏ ra và được bảo đảm các quyền lợi về an sinh xã hội theo quy định của pháp luật.

Còn dưới giác độ nhà quản lý, việc làm bền vững được nhìn nhận thông qua những chính sách, quản lý nhằm đảm bảo cho một thị trường lao động công bằng, rộng mở cho tất cả mọi người, ai cũng có thể tìm kiếm được việc làm ổn định, phù hợp với khả năng và được hưởng thu nhập, lợi ích xứng đáng với công sức họ bỏ ra cũng như các chế độ an sinh xã hội khác nhằm khai thác, sử dụng hiệu quả sức lao động,…góp phần đẩy mạnh ổn định xã hội và phát triển đất nước. Do vậy hiểu thể nào là việc làm bền vững ở đây cần có sự nhìn nhận đa chiều và tùy theo mục đích của nhà nghiên cứu. Trong bài viết này chúng tôi sẽ nhìn nhận, đánh giá về việc làm bền vững trên cơ sở các tiếp cận trên.

Đặc điểm của việc làm bền vững

Một là, cũng như việc làm, việc làm bền vững là những công việc, những hoạt động không bị pháp luật cấm;

Hai là, công việc đó phải phù hợp với trình độ, năng lực của người lao động;

Ba là, về thời gian, công việc đó được thực hiện thường xuyên, ổn định, trong thời gian dài phù hợp với các quy định của pháp luật lao động;  

Bốn là, về thu nhập, công việc đó tạo ra nguồn thu nhập hoặc các lợi ích khác tương xứng với sức lao động mà họ bỏ ra. Bên cạnh đó người lao động được đảm bảo các chế độ về xã hội khác theo quy định của pháp luật;   

Năm là, thị trường lao động phải ổn định, trong điều kiện bình thường người lao động có nhu cầu tìm việc có thể tìm được công việc phù hợp với khả năng và trình độ của mình;

     1.3. Vai trò và ý nghĩa của việc làm, việc làm bền vững

 Dưới giác độ kinh tế -xã hội:

Về mặt kinh tế, việc làm luôn gắn liền với vấn đề sản xuất. Hiệu quả của việc giải quyết tốt vấn đề việc làm cũng chính là hiệu quả của sản xuất. Kinh tế phát triển sẽ tạo điều kiện để giải quyết tốt vấn đề việc làm và ngược lại, nếu không giải quyết tốt vấn đề việc làm và thất nghiệp thì đó sẽ là những yếu tố kìm hãm sự tăng trưởng của kinh tế.

Về mặt xã hội, bảo đảm việc làm là chính sách xã hội có hiệu quả to lớn trong vấn đề phòng, chống, hạn chế các tiêu cực xã hội, giữ vững được kỉ cương, nề nếp xã hội. Thất việc và việc làm không đầy đủ, thu nhập thấp là tiền đề của sự đói nghèo, thậm chí là điểm xuất phát của tệ nạn xã hội. Các tệ nãn của xã hội như tội phạm, ma túy, mại dâm, có nguyên nhân cốt lõi là việc làm và thất nghiệp.

Dưới giác độ chính trị – pháp lí

Hậu quả của việc thất nghiệp, thiếu việc làm không những ảnh hưởng tới kinh tế- xã hội mà còn đe dọa lớn đối với an ninh vã sự ổn định của mỗi quốc gia.. Chính vì vậy ở bất kì quốc gia nào, việc làm đã, đang và luôn là vấn đề gay cấn nhạy cảm đối với từng cá nhân, từng gian đình đồng thời cũng là vấn đề xã hội lâu dài, vừa cấp bách nếu không được giải quyết tốt có thể trở thành vấn đề chính trị.

Còn trên bình diện pháp lý, việc làm là phạm trù thuộc quyền cơ bản của con người, đóng vai trò là cơ sở hình thành, duy trì và là nội dung của quan hệ lao động. Khi việc làm không còn tồn tại, quan hệ lao động cũng theo đó mà triệt tiêu, không còn nội dung, không còn chủ thể.

Trên bình diện quốc gia – quốc tế

Đối với mỗi quốc gia, chính sách việc làm và giải quyết việc làm là bộ phận có vị trí quan trọng đặc biệt trong hệ thống các chính sách xã hội nói riêng và trong tổng thể chính sách phát triển kinh tế xã hội nói chung. Chính sách xã hội của nhà nước ở hầu hết các quốc gia đều tập trung vào một số các lĩnh vực như thị trường lao động, bảo đảm việc làm, bảo hiểm xã hội… Chính sách việc làm là chính sách cơ bản nhất của quốc gia, góp phần bảo đảm an toàn, ổn định và phát triển xã hội.[8]

Tuy nhiên, trong thời đại ngày nay, vấn đề lao động việc làm không chỉ dừng lại ở phạm vi quốc gia mà nó còn có tính toàn cầu hóa, tính quốc tế sâu sắc. Vấn đề hợp tác, đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài cũng được đặt ra đồng thời với việc chấp nhận lao động ở nước khác đến làm việc tại nước mình. Điều này giúp cân bằng lao động. Lao động từ nước kém phát triển sang làm việc ở nước phát triển, từ nước dư thừa lao động sang nước thiếu lao động. Trong thị trường đó, cạnh tranh không chỉ còn là vấn đề giữa những NLĐ mà còn trở thành vấn đề giữa các quốc gia. Từ đó vấn đề lao động việc làm còn được điều chỉnh hoặc chịu sự ảnh hưởng chi phối của các công ước quốc tế về lao động. Các nước dù muốn hay không cũng phải áp dụng hoặc tiếp cận với những “luật chơi chung” và “sân chơi chung” càng ngày càng khó khăn và quy mô hơn.

2. Thực trạng việc làm và pháp luật về việc làm ở nước ta hiện nay

Có việc làm là nhu cầu tất yếu của mọi người trong nền kinh tế thị trường và việc làm bền vững là mục tiêu hướng tới của mỗi cá nhân, cộng đồng và nhà nước. Trên phạm vi quốc tế, vấn đề việc làm và việc làm bền vững về việc làm bền vững đã được ghi nhận trong nhiều công ước quốc tế như: công ước số 100 về trả công bình đẳng giữa lao động nam và nữ cho một công việc ngang nhau năm 1959, Công ước số 111 về phân biệt đối xử trong việc làm và nghề nghiệp năm 1958) mà nước ta phê chuẩn, gia nhập là các nguồn pháp luật quan trọng cho việc tổ chức thực hiện pháp luật việc làm. Dự kiến cuối năm nay, sẽ trình Chủ tịch nước phê chuẩn việc gia nhập Công ước 122 về chính sách việc làm… Những công ước này đã tạo ra những nguyên tắc, những giá trị phổ quát liên quan đến việc làm trên toàn thế giới. Là cơ sở, là tiền đề để các quốc gia hoàn thiện pháp luật về việc làm.

Ở Việt Nam những năm trở lại đây, Nhà nước ta đã ban hành rất nhiều văn bản pháp luật điều chỉnh quan hệ việc làm, như: Hiến pháp năm 1992; Bộ luật Dân sự, Bộ luật Lao động 1994; Luật Bảo hiểm xã hội năm 2006, Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng năm 2006, Luật Dạy nghề, Luật Doanh nghiệp năm 2005… những quy định này đã góp phần điều chỉnh có hiệu quả quan hệ lao động ở Việt Nam, góp phần tích cực cho công cuộc phát triển đất nước[9]. Tuy nhiên, thực tiễn điều chỉnh và thực hiện pháp luật về việc làm cũng cho thấy còn những tồn tại, hạn chế nhất định: một là, về đào tạo những năm vừa qua chúng ta vướng phải bài toán “thừa thầy thiếu thợ”; đào tạo không phù hợp với yêu cầu của thị trường, thiếu sự kết nối giữa các cơ sở đào tạo với các doanh nghiệp sử dụng lao động. Do vậy nhiều người lao động ra trường không tìm kiếm được việc làm phù hợp với chuyên môn của mình hoặc không tìm được việc làm (thất nghiệp),…; hai là, về thực trạng thông tin thị trường lao động ở nước ta về cơ bản được cải thiện, có nhiều kênh thông tin về giới thiệu việc làm được mở ra, như: trung tâm giới thiệu việc làm, hội trợ việc làm, các trang báo giấy, báo mạng chuyên về tuyển dụng,… tạo điều kiện thuận lợi cho người lao động tiếp cận việc làm. Tuy nhiên, mảng thông tin về thị trường lao động trong nước và nước ngoài ở nước ta vẫn còn ít, thiếu đa dạng các ngành nghề ảnh hưởng đến tiếp cận việc làm của người lao động. Hơn nữa, việc kiểm chứng, quản lý các thông tin này cùng còn nhiều vấn đề phải bàn.…; ba là, tổng việc làm của nền kinh tế tăng nhưng chưa tương xứng với tốc độ tăng trưởng kinh tế. Cụ thể, những năm vừa qua hệ số co giãn việc làm ở nước ta chỉ đạt mức trung bình 0,28% (tức là khi GDP tăng thêm 1% thì việc làm chỉ tăng 0,28%), so với các nước trong khu vực hệ số co giãn việc làm còn thấp. Điều này có nghĩa là tăng trưởng chưa tạo ra nhiều việc làm, đem lại lợi ích cho người lao động[10]; bốn là, về việc làm trong lĩnh vực nông, lâm, ngư nghiệp. Theo thống kê, hiện cả nước vẫn còn trên 50% lao động làm việc trong lĩnh vực nông nghiệp, tình trạng thiếu việc làm ở nông thôn vẫn trầm trọng (chiếm tỷ trọng gần 97% trong tổng số lao động thiếu việc làm chung). Có thể thấy đa phần lao động nước ta làm việc trong lĩnh vực nông nghiệp, đặc thù của lĩnh vực này là làm theo mùa vụ, công việc thiếu ổn định. Do vậy người lao động sau khi xong mùa vụ, họ có thời gian rảnh dỗi rất lớn và thường lên các thành phố lớn để tìm việc gây nên sức ép về dân số, an ninh, trật tự cho các thành phố này… Điều đó cũng cho thấy sức lao động của người dân vẫn chưa được sử dụng hiệu quả cho quá trình phát triển đất nước; năm là, về việc làm trong các doanh nghiệp ở khu vực ngoài nhà nước. Mặc dù, sự chuyển dịch cơ cấu lao động đã có tín hiệu tích cực, nhưng chưa theo kịp tốc độ chuyển dịch cơ cấu kinh tế và việc phân phối, sử dụng lao động trong các khu vực kinh tế mất cân đối. Cụ thể, ở khu vực ngoài nhà nước sử dụng (trên 87%) lao động xã hội, nhưng đại bộ phận làm việc ở hộ cá thể, sản xuất nhỏ phân tán, phi chính thức với trình độ công nghệ, phương thức sản xuất lạc hậu, năng suất lao động thấp. Kết quả điều tra cho thấy tỷ lệ việc làm không bền vững chiếm tỷ lệ 2/3 hoặc 3/4. Tình trạng việc làm khu vực phi chính thức (chiếm tỷ lệ 70% trong tổng số việc làm) nhưng không được hưởng chính sách an sinh xã hội, luôn đối mặt với việc làm bấp bênh, thu nhập thấp, ít được bảo vệ. Đó là cái vòng luẩn quẩn trong bức tranh chung của thị trường lao động Việt Nam: chất lượng lao động thấp dẫn đến lương thấp, năng suất lao động thấp và cuối cùng cản trở tốc độ tăng trưởng kinh tế; sáu là, về việc làm trong các cơ quan của nhà nước. Dưới góc độ pháp lý những lao động này thuộc sự điều chỉnh của pháp luật về cán bộ, công chức và những công việc họ làm là ở các cơ quan công quyền. Đây có thể được đánh giá là khu vực tương đối ổn định, tuy nhiên những năm vừa qua có hiện tượng người lao động chuyển ra bên ngoài rất nhiều, đặc biệt là trong ngành giáo dục ở thành phố Hồ Chí Minh. Điều này một mặt phản ánh tư duy của một bộ phận người dân đã thay đổi, không hẳn cứ nhất thiết phải làm việc trong cơ quan nhà nước mới là ổn định, và nó cũng cho thấy cơ hội lựa chọn việc làm của người lao động ngày càng được mở rộng hơn. Tuy nhiên, nó cũng cho thấy lao động làm việc trong khu vực này không phải không có vấn đề; bảy là, về thực trạng lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài. Những năm vừa qua nước ta đã đưa hàng trăm nghìn lao động đi làm việc ở nước ngoài và số lượng này còn tăng trong các năm tới, nhưng việc đưa người lao động Việt Nam đi làm việc tại nước ngoài hiện nay cũng gặp nhiều vấn đề: một số thị trường truyền thống của lao động Việt Nam bị thu hẹp, một số nước bị khủng hoảng kinh tế cũng siết chặt thị trường lao động. Hơn nữa, nhiều vấn đề nảy sinh từ người đi lao động, doanh nghiệp môi giới cũng như chính doanh nghiệp sử dụng lao động ở nước ngoài[11]; tám là, về thực trạng lao động thất nghiệp. Bên cạnh số lao động bị thiếu việc làm hàng năm lớn, thì nạn thất nghiệp ở nước ta cũng ngày càng gia tăng do nhiều nguyên nhân, trong đó có khủng hoảng kinh tế dẫn tới nhiều doanh nghiệp bị phá sản, người lao động bị mất việc làm[12]. Hơn nữa, việc quản lý lao động thất nghiệp là một vấn đề vô cùng khó khăn, mặc dù chúng ta đã có cơ chế quản lý qua hồ sơ đăng ký thất nghiệp, nhưng cơ quan này không thể kiểm soát, thống kê chính xác số lao động bị mất việc thực sự…; chín là, về pháp luật việc làm ở nước ta, ngày càng được hoàn thiện. Tuy nhiên, các quy định này vẫn còn tản mạn, thiếu thống nhất, đồng bộ và vẫn còn những hạn chế, bất cập cần được nghiên cứu hoàn thiện[13]. Từ những thực tiễn và pháp lý trên cho thấy vấn đề việc làm ở Việt Nam hiện nay là chưa bền vững.

3. Sự thể hiện của vấn đề việc làm bền vững trong Dự thảo Luật Việc làm Việt Nam và kiến nghị hoàn thiện

3.1. Sự thể hiện của vấn đề việc làm bền vững trong Dự thảo Luật Việc làm Việt Nam

Mặc dù nước chưa có một chiến lược tổng thể dài hạn về phát triển việc làm bền vững, nhưng qua nghiên cứu các quy định trong Dự thảo Luật Việc làm có thể thấy quan điểm về việc làm bền vững đã được thể hiện tương đối rõ và bao quát trong nhiều quy định của Dự Luật này, có thể liệt kê như: các nguyên tắc về việc làm (Điều 5); trách nhiệm của nhà nước về việc làm (Điều 6); về phát triển và hỗ trợ việc làm; về thông tin thị trường lao động; quản lý lực lượng lao động; về phát triển kỹ năng nghề; về dịch vụ việc làm; tuyển, đăng ký sử dụng lao động; về bảo hiểm việc làm, trong đó có các chế độ hỗ trợ duy trì việc làm và  chế độ trợ cấp thất nghiệp cho người lao động trong trường hợp họ bị mất việc làm;… Những quy định này đã tạo lên một hệ thống, một chu trình mở nhằm hỗ trợ, tạo việc làm, bảo vệ việc làm cho người lao động nhằm hướng tới phát triển thị trường lao động ổn định, bền vững ở Việt Nam. Tuy nhiên, nghiên cứu Dự thảo Luật này, chúng tôi cũng nhận thấy một số vấn đề sau:         

Thứ nhất, dự thảo luật này chưa có quy định về giải thích thuật ngữ: thị trường lao động, việc làm bền vững, về chỉ tiêu tạo việc làm cho người lao động… Bên cạnh đó dự thảo cũng chưa làm rõ thế nào là “giải quyết và mở rộng việc làm”, bởi vì cho vay để mở rộng kinh doanh, sản xuất cũng là “Giải quyết và mở rộng việc làm”. Đây là các thuật ngữ rất quan trọng nhằm đảm bảo mục đích điều chỉnh của Dự thảo Luật.  

Thứ hai, về phát triển việc làm cho người lao động, Dự thảo luật mới quy định về phát triển kinh tế ngành và kinh tế vùng để tạo việc làm cho người lao động. Tuy nhiên, thực tiễn phát triển kinh tế vùng cho thấy mặc dù có tạo ra nhiều việc làm cho người lao động, nhưng lại có vấn đề là lao động ở nhiều vùng khác di chuyển đến gây ra nhiều vấn đề về kinh tế và xã hội dẫn tới không phát triển bền vững. Hơn nữa, chưa có quy định về phát triển kinh tế tỉnh và liên tỉnh thấp hơn cấp độ vùng. Bởi phát triển kinh tế địa phương góp phần tạo việc làm bền vững cho lao động trên địa bàn đó.

Thứ ba, về thông tin thị trường lao động, Dự thảo Luật chưa quy định rõ thông tin thị trường lao động gồm những thông tin gì, giới hạn của các thông tin này đến đâu? Hơn nữa, tại Điều 18, Dự thảo Luật Việc làm về quy định: hệ thống thông tin thị trường lao động được tổ chức thống nhất và quản lý trên phạm vi cả nước để thu thập, lưu trữ, phân tích, cung cấp thông tin về việc làm, nghề nghiệp, thị trường lao động trong và  ngoài nước. Tuy nhiên, các Điều sau đó chỉ quy định về trách nhiệm thu thập, lưu trữ, phổ biến thông tin thị trường lao động mà không có quy định về thu thập, lưu trữ, phổ biến thông tin về việc làm và nghề nghiệp, trong khi đây là những thông tin rất quan trọng với người lao động.  

Thứ tư, về quản lý lực lượng lao động. Đây là quy định rất cần thiết để có đầy đủ cơ sở dữ liệu cơ bản, chính xác về thực trạng lao động, việc làm, thất nghiệp và biến động qua từng thời kỳ, địa bàn, làm cơ sở hoạch định chính sách việc làm và phát triển nguồn nhân lực phù hợp với yêu cầu của cung, cầu lao động nhằm sử dụng hiệu quả lao động. Việc quản lý về việc đăng ký thông tin lao động ban đầu thuộc về Ủy ban nhân dân cấp xã, phường là hợp lý, tuy nhiên, Dự thảo quy định công dân đủ 15 tuổi phải trực tiếp đăng ký thông tin lao động tại Ủy ban nhân dân xã là chưa hợp lý. Bởi chúng tôi cho rằng Ủy ban nhân dân cấp xã nên quản lý ban đầu đối với tất cả lao động cư trú trên địa bàn như vậy sẽ hợp lý hơn.

Thứ năm, về phát triển kỹ năng nghề, Dự luật chưa quy định cụ thể đối với phát triển kỹ năng nghề cho lao động ở nông thôn, bởi thực tiễn cho thấy đây là lực lượng lao động đông đảo ở nước ta, nhưng đóng góp của lực lượng này vào phát triển kinh tế xã hội còn ít. Chúng tôi cho rằng bên cạnh các cơ chế chính sách về đất đai, tài chính nên đào tạo các kỹ năng nghề gắn với hoạt động nông nghiệp của người dân để có thể kết hợp phát triển đa ngành nghề nhằm giảm tỷ lệ người lao động thiếu việc làm,… Hơn nữa, Dự luật chưa quy định cụ thể về hỗ trợ đào tạo lại kỹ năng nghề cho người lao động bị mất việc làm muốn chuyển sang việc làm mới.

Thứ sáu, về dịch vụ việc làm, mục đích nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho người lao động tiếp cận với việc làm cả trong nước và quốc tế. Tuy nhiên, Dự thảo Luật chưa quy định cụ thể về việc thanh tra, kiểm tra đối với các tổ chức, doanh nghiệp này cũng như trách nhiệm pháp lý mà chúng phải chịu khi vi phạm pháp luật.

Thứ bảy, về tuyển dụng, sử dụng lao động, Dự luật quy định rất cụ thể về thời gian liên quan đến tuyển dụng lao động của doanh nghiệp. Tuy nhiên, Luật lại không quy định cụ thể cơ chế, kiểm tra, giám sát vấn đề này cũng như trách nhiệm của doanh nghiệp khi vi phạm sẽ bị xử lý ra sao do vậy sẽ rất khó khả thi. Đối với việc người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài (Mục 3), hiện tại đang có Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài nên Dự luật quy định khác về vấn đề này (Điều 68) có thể dẫn đến chồng chéo, khó khăn cho quá trình thực hiện trên thực tiễn. Về lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam (Mục 4). Khoản 3 Điều 34 Dự luật quy định “Lao động nước ngoài vào làm việc tại Việt Nam theo quy định tại Điều 69 của Luật này phải có kỹ năng nghề quốc gia theo quy định của Bộ trưởng Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội”. Như vậy có thể hiểu người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam vừa phải có giấy phép lao động vừa phải có chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia. Tuy nhiên, chưa có quy định cụ thể về quy trình, thủ tục, thẩm quyền cấp chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia cho lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam. Nếu không quy định chặt chẽ vấn đề này có thể sẽ dẫn tới trường hợp  người lao động nước ngoài lợi dụng để vào làm việc ở Việt Nam trái phép ảnh hưởng an ninh, trật tự cũng như quyền lợi của người lao động Việt Nam.

Thứ tám, về hỗ trợ việc làm, có thể khẳng định Dự thảo Luật quy định về Quỹ quốc gia về việc làm là cần thiết, tuy nhiên cần được nghiên cứu thêm về nguồn và cách thức hình thành Quỹ này, đặc biệt là nguồn từ ngân sách nhà nước. Hơn nữa về vấn đề hỗ trợ việc làm cho người lao động, Dự thảo Luật cũng quy định trong Quỹ Bảo hiểm việc làm, do vậy liệu có sự trùng lặp, mâu thuẫn nào giữa hai Quỹ này hay không?

Để khắc phục những tồn tại, bất cập trên Nhà nước ta nghiên cứu, xây dựng Luật Việc làm và dự kiến thông qua trong thời gian tới nhằm đáp ứng được thực tiễn phát triển của đất nước ta.

3.2. Kiến nghị đối với việc xây dựng Luật Việc làm ở Việt Nam

Thứ nhất, về mặt chính sách cần phải hướng tới đảm bảo: sẽ có việc làm cho tất cả những người sẵn sàng làm việc và đang kiếm việc làm; việc làm đó càng có năng suất càng tốt; đảm bảo tự do lựa chọn làm việc và cơ may rộng lớn nhất cho mỗi người lao động để đạt được trình độ tay nghề và sử dụng được trình độ tay nghề và năng khiếu của mình trong một công việc thích hợp; đảm bảo không phân biệt chủng tộc, màu da, giới tính, tôn giáo, chính kiến, dòng dõi dân tộc hoặc nguồn gốc xã hội trong quá trình này. Chính sách đó cũng phải chú ý đến các giai đoạn và trình độ phát triển kinh tế, cũng như những mối quan hệ giữa các mục tiêu về việc làm với các mục tiêu kinh tế và xã hội khác, và sẽ được áp dụng bằng các phương pháp phù hợp với điều kiện và tập quán quốc gia.”[14] Tiếp đó những chính sách này cần được cụ thể hóa trong pháp luật về việc làm ở nước ta.

Thứ hai, cần quy định về giải thích thuật ngữ với các khái niệm cơ bản, như: người lao động, việc làm bền vững, thị trường lao động, giải quyết và mở rộng việc làm… Trong đó nên quan niệm người lao động là bao gồm công dân Việt Nam, những người nước ngoài, người không quốc tịch làm việc tại Việt Nam và những đối tượng khác theo quy định của pháp luật,…

Thứ ba, về các quy định về phát triển việc làm cho người lao động, theo chúng tôi Dự thảo luật nên quy định về phát triển kinh tế tỉnh và liên tỉnh thấp hơn cấp độ vùng. Bởi phát triển kinh tế vùng góp phần tạo việc làm bền vững cho lao động tại địa phương.

Thứ tư, về thông tin thị trường lao động, nếu quan niệm thông tin về việc làm và nghề nghiệp nằm trong thông tin về thị trường lao động thì nền bỏ từ “việc làm, nghề nghiệp” quy định tại Điều 18. Còn nếu các thuật ngữ này khác nhau thì cần phải quy định cụ thể trách nhiệm thu thấp, lưu trữ, phổ biến thông tin về việc làm, nghề nghiệp. Đồng thời Dự thảo Luật cũng cần quy định rõ hơn về trách nhiệm phổ biến thông tin đến người lao động của các cơ quan, tổ chức liên quan đến thị trường lao động trong nước và Việt Nam.

Thứ năm, về quản lý lao động trong đó có việc đăng ký thông tin lao động. Để quản lý người lao động có hiệu quả, Dự thảo nên quy định Ủy ban nhân dân cấp xã là cơ quan quản lý ban đầu về thông tin người lao động. Để làm được điều này cần quy định rõ trách nhiệm thu thập thông tin về người lao động thuộc về Ủy ban nhân dân cấp xã. Tuy nhiên, dự thảo cũng quy định khuyến khích người lao động đăng ký trực tiếp hoặc qua trang thông tin điện tử sẽ thuận tiện hơn. Đồng thời có cơ chế khuyến khích người lao động đăng ký, và sẽ được hỗ trợ các thông tin liên quan đến lao động, việc làm, các khóa đào tạo về việc làm,… Còn để quản lý được nên quy định cụ thể cán bộ về thương binh xã hội phối hợp với công an xã về quản lý nhân khẩu để thu thập thông tin là hợp lý và được hưởng chế độ về vấn đề này.

Thứ sáu, về phát triển kỹ năng nghề, Dự luật cần quy định cụ thể phát triển kỹ năng nghề cho lao động ở nông thôn, đặc biệt là kỹ năng sản xuất lớn kết hợp các lĩnh vực sản xuất trong nông nghiệp…nhằm đảm bảo việc làm và thu nhập ổn định cho lao đông nông thôn. Đồng thời quy định cụ thể về việc hỗ trợ đào tạo kỹ năng nghề cho những lao động bị mất việc làm, muôn tìm kiếm một việc làm khác,… Điều này là rất cần thiết.

Thứ bảy, về dịch vụ việc làm, Dự thảo Luật cần quy định cụ thể về trách nhiệm pháp lý đối với tổ chức, doanh nghiệp vi phạm pháp luật lao động (ở đây không chỉ là trách nhiệm hành chính mà cả trách nhiệm dân sự và hình sự cũng phải đặt ra.

Thứ tám, về tuyển dụng, sử dụng lao động. Đối với việc tuyển dụng lao động làm việc trong nước, Dự luật Luật cần quy định cụ thể cơ chế, kiểm tra, giám sát các hoạt động này, cũng như quy định rõ trách nhiệm của doanh nghiệp khi vi phạm sẽ bị xử lý ra sao để việc tuyển dụng, sử dụng lao động có hiệu quả.  Đối với việc tuyển dụng lao động Việt Nam đi làm việc tại nước ngoài nên dẫn chiếu đến Luật Người Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài hiện hành. Còn đối với người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam, Dự luật cần quy định cụ thể về thẩm quyền, trình tự, thủ tục cấp chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia cho các đối tượng này.

Thứ chín, về Quỹ hỗ trợ việc làm và Quỹ bảo hiểm thất nghiệp. Chúng tôi cho rằng Quỹ quốc gia về việc làm tập trung vào sử dụng cho vay với lãi suất ưu đãi đối với Doanh nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh và người lao động để giải quyết và mở rộng việc làm; Người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng. Còn Quỹ bảo hiểm thất nghiệp tập trung vào hỗ trợ duy trì việc làm và các chế độ đối với người thất nghiệp. Về bảo hiểm thất nghiệp chúng tôi đồng ý với quan điểm của Dự thảo coi chế độ bảo hiểm thất nghiệp là một bộ phạn nằm trong bảo hiểm việc làm. Còn đối với Quỹ quốc gia về việc làm cần quy định rõ ngay trong Luật cơ quan nào được quản lý và sử dụng Quỹ này. Nguồn hình thành Quỹ không nên quy định nguồn lấy từ ngân sách là bao nhiêu % như Dự thảo mà nên quy định theo hướng mở, theo đó từ ngân sách là bao nhiêu sẽ do Quốc hội quyết định dựa trên đề xuất của cơ quan quản lý và sử dụng Quỹ cũng như hiệu quả của việc sử dụng Quỹ này trên thực tiễn để quyết định để tránh trường hợp lạm dụng và sử dụng Quỹ không có hiệu quả.

           


[1] Thực tế cho thấy hàng hóa thời kỳ này cực kỳ thiếu thốn, khan hiếm. Đó không phải do sự phát triển nóng của kinh tế, xã hội mà thực chất là nền kinh tế nước ta thời đó quá nghèo nàn, lạc hậu, sản xuất chưa đáp ứng được nhu cầu tối thiểu của nhân dân là hậu quả của mô hình kinh tế quan liêu, bao cấp.

[2] Sự phát triển kinh tế xuyên suốt thế kỷ XX thể hiện sự đấu tranh giữa hai mô hình kinh tế, đó là: mô hình kinh tế chỉ huy quan liêu, bao cấp và mô hình kinh tế thị trường và cuối cùng chúng ta cũng nhận ra mô hình kinh tế thị trường là tối ưu hơn. Sở dĩ vậy bởi mô hình kinh tế này góp phần phát huy được năng lực sản xuất của tất cả các thành phần kinh tế, của mọi cá  nhân…

[3] Điều này chúng ta có thể thấy rõ qua cuộc khủng hoảng kinh tế vừa qua nhiều doanh nghiệp sản xuất ô tô, ngân hàng của Mỹ bị phá sản, hoặc bị thu hẹp sản xuất… Xem thêm bài: Điểm mặt 10 vụ phá sản doanh nghiệp lớn nhất nước Mỹ. http://vietchinabusiness.vn/component/content/article/4576.html .Bài “Phá sản đã diễn ra với các doanh nghiệp dệt may của Phạm Hùng http://vietnamnet.vn/kinhte/2008/11/814313/. Cập nhật lúc 10:54, Thứ Tư, 19/11/2008 (GMT+7).  Theo thông tin Ông Diệp Thành Kiệt, Phó chủ tịch Hiệp hội dệt may Tp. Hồ chí Minh thông tin: Trung Quốc đã thống kê tới 67.000 doanh nghiệp phá sản, tôi đoán, sắp tới Việt Nam sẽ bị tác động, trong đó chắc chắn lĩnh vực dệt may sẽ bị thiệt hại nặng.

[4] Nhiều phân tích gia cho rằng cuộc đảo chính tại Kyrgyzstan vừa qua là do Chính quyền không giải quyết được các vấn đề xã hội như việc làm dẫn tới thất nghiệp tràn nan, đời sống của nhân dân khó khăn. Xem thêm: Tại sao có đảo chính ở Kyrgyzstan? Cập nhật lúc 18:29, Thứ Năm, 08/04/2010 (GMT+7). http://vietnamnet.vn/thegioi/201004/Tai-sao-co-dao-chinh-o-Kyrgyzstan-903237/.

[5] Xem thêm Nghị quyết Nghị quyết Hội nghị lần 3, khóa IX của Ban chấp hành TW Đảng về tiếp tục sắp xếp đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước từ ngày 13 đến ngày 22/8/2001.

[6] ILO còn có nhiều công ước và khuyến nghị liên quan đến vấn đề việc làm, trong đó có 1 số công ước quan trọng như: Công ước số 100 về Trả công bình đẳng  giữa lao động nam và nữ cho một công việc ngang nhau, 1951; Công ước số 111 về Phân biệt đối xử trong việc làm và nghề nghiệp, 1958; Công ước 159 về Tái thích ứng nghề nghiệp và việc làm của người lao động có khuyết tật, 1959; Công ước 122 về Chính sách việc làm, 1964; Công ước 88 về Dịch vụ việc làm, 1948; Công ước 181 về tổ chức việc làm tư nhân, 1997; Công ước 102 về Quy phạm tố thiểu về an sinh xã hội, 1952; Công ước 168 về Xúc tiến việc làm và bảo vệ chống thất nghiệp, 1988.

[7] Thuật ngữ “phát triển bền vững” mới chính thức xuất hiện lần đầu tiên vào năm 1980 trong ấn phẩm Chiến lược bảo tồn Thế giới của Hiệp hội Bảo tồn Thiên nhiên và Tài nguyên Thiên nhiên Quốc tế (IUCN), đó là: “Sự phát triển của nhân loại không thể chỉ chú trọng tới phát triển kinh tế mà còn phải tôn trọng những nhu cầu tất yếu của xã hội và sự tác động đến môi trường sinh thái học”.

[9] Tính đến thời điểm 01/01/2009, số doanh nghiệp ngoài Nhà nước thực tế đang hoạt động là 196.779 doanh nghiệp, chiếm 95,7% tổng số doanh nghiệp, gấp 5,6 lần năm 2000, tốc độ tăng số lượng doanh nghiệp bình quân hàng năm là 24,1%. Khu vực này hiện giải quyết cho 4,72 triệu lao động có việc làm thường xuyên, chiếm 57,1% tổng số việc làm của khu vực doanh nghiệp, bình quân mỗi năm tăng thêm 8,7% lao động. Khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) tuy số lượng doanh nghiệp ít, nhưng phát triển nhanh về quy mô đầu tư và đặc biệt đạt hiệu quả kinh doan cao nhất trong các loại hình doanh nghiệp: Tính đến thời điểm 01/01/2009, số doanh nghiệp FDI thực tế đang hoạt động là 5.625 doanh nghiệp, chỉ chiếm 2,7% tổng số doanh nghiệp, gấp 5,3 lần số doanh nghiệp năm 2000, bình quân mỗi năm tăng 23,5% số doanh nghiệp. Khu vực này tuy số lượng doanh nghiệp ít nhưng cũng đã thu hút tới 1,83 triệu lao động, chiếm 22,2% tổng số lao động toàn doanh nghiệp, gấp 4,5 lần năm 2000, bình quân mối năm thu hút thêm 20,7% lao động. Năm 2008, mặc dù vốn đầu tư chỉ chiếm 16,9%, doanh thu chỉ chiếm 19,5% so với toàn bộ doanh nghiệp, nhưng khu vực FDI lại thể hiện là khu vực đạt hiệu quả kinh doanh cao với lợi nhuận trước thuế chiếm tới 48,1% và đóng góp cho ngân sách Nhà nước chiếm tới 40,4% so với toàn bộ doanh nghiệp. So với năm 2000, lợi nhuận của khu vực này gấp 4,9 lần và đóng góp cho ngân sách Nhà nước gấp 5 lần. Khu vực doanh nghiệp Nhà nước ngày càng được thu hẹp về quy mô theo chủ trương cổ phần hóa và sắp xếp lại của Nhà nước để đảm bảo kinh doanh ngày càng hiệu quả hơn: Tại thời điểm 01/01/2009, số doanh nghiệp Nhà nước thực tế đang hoạt động chỉ còn 3.328 doanh nghiệp, chiếm tỷ trọng thấp nhất trong 3 khu vực doanh nghiệp với 1,6%, bằng 45% số doanh nghiệp năm 2000. Khu vực này hiện thu hút khoảng 1,71 triệu lao động, chiếm 20,7% toàn bộ khu vực doanh nghiệp (trong khi tỷ lệ lao động trong toàn bộ doanh nghiệp năm 2000 là xấp xỉ 60%). Bên cạnh đó lực lượng lao động làm gia làm các ngành nghề nông, lâm, ngư nghiệp cũng ngày càng đi vào ổn định hơn nhờ áp dụng các cải tiến kỹ thuật và công nghệ.

[10] Xem bài: Thị trường lao động ở Việt Nam: Định hướng đúng để phát triển bền vững. Nguồn: http://www.nhansu.com.vn/goc-nhan-su/1638-dinh-huong-thi-truong-viec-lam.html.

 [11] Xem thêm nguồn: Thực trạng người lao động đi làm việc ở nước ngoài trở về. Nguồn: http://www.baotintuc.vn/129N20110317093053643T0/thuc-trang-nguoi-lao-dong-di-lam-viec-o-nuoc-ngoai-tro-ve.htm; bài: Đưa người VN đi làm việc ở nước ngoài còn bất cập, http://www.baomoi.com/Dua-nguoi-VN-di-lam-viec-o-nuoc-ngoai-con-bat-cap/47/4856729.epi; bài: Bất cập bảo hiểm cho lao động Việt Nam ở nước ngoài, nguồn: http://vietbao.vn/Xa-hoi/Bat-cap-bao-hiem-cho-lao-dong-Viet-Nam-o-nuoc-ngoai/10724290/157/.

[12] Xem thêm: ‘Bão’ thất nghiệp đang đe dọa nền kinh tế, của tác giả Văn Khoa, nguồn: http://vnexpress.net/gl/ban-doc-viet/2012/04/bao-that-nghiep-dang-de-doa-nen-kinh-te/. Bsài: Người trẻ thất nghiệp nhiều là thất bại của xã hội, của tác giả MAI LAN, nguồn: http://doanhnhansaigon.vn/online/dien-dan-doanh-nhan/thoi-su/2011/08/1057165/nguoi-tre-that-nghiep-nhieu-la-that-bai-cua-xa-hoi/.

[13] Xem thêm: Báo cáo tổng kết thi hành pháp luật và thực trạng quan hệ xã hội về việc làm, của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội năm 2011.

[14] Xem thêm: Công ước quốc tế số 122 về việc làm của Tổ chức lao động quốc tế ILO.