Trong đề tài cấp Bộ

QUYỀN HƯỞNG AN SINH XÃ HỘI Ở VIỆT NAM

                                  Ths. Bùi Đức Hiển

                              Viện Nhà nước và Pháp luật

  1. 1.     Một số vấn đề chung về quyền hưởng an sinh xã hội 

Con người muốn tồn tại và phát triển trước hết phải ăn, mặc, ở… Để thoả mãn nhu cầu tối thiểu này, họ phải lao động làm ra những sản phẩm thiết yếu phục vụ cuộc sống. Tuy nhiên, trong suốt cuộc đời, không phải khi nào con người cũng có thể lao động tạo ra được thu nhập. Trái lại, có rất nhiều khó khăn, bất hạnh, rủi ro, biến cố xảy ra làm cho con người bị giảm, mất thu nhập hoặc các điều kiện sinh sống khác. Chẳng hạn, bị bất ngờ ốm đau, tai nạn, mất việc làm, mất người nuôi dưỡng, tuổi già, tử vong… Sự trợ giúp của Nhà nước, xã hội với những đối tượng rơi vào hoàn cảnh này người ta gọi đó là bảo đảm an sinh xã hội.

Theo quan điểm của Tổ chức Lao động quốc tế ILO: an sinh xã hội (Social Security) là sự bảo vệ mà xã hội thực hiện đối với các thành viên của mình thông qua một loạt các biện pháp công cộng để chống lại sự cùng quẫn về kinh tế và xã hội dẫn đến sự chấm dứt hay giảm sút đáng kể về thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, mất việc làm, mất sức lao động, tuổi già hoặc cái chết; những dịch vụ về chăm sóc y tế và những quy định về hỗ trợ đối với những gia đình có con nhỏ gặp phải khó khăn trong cuộc sống.

Ở Việt Nam, theo quan niệm truyền thống, an sinh xã hội là sự bảo vệ, trợ giúp của Nhà nước và xã hội đối với những thành viên của mình, trước hết và chủ yếu là những trường hợp bị giảm sút thu nhập đáng kể do gặp phải những rủi ro như ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp, mất sức lao động, già yếu cũng như các trường hợp bị thiên tai, địch họa. Đồng thời xã hội cũng ưu đãi những thành viên của mình đã có những hành động xả thân vì nước, vì dân, có cống hiến đặc biệt cho sự nghiệp cách mạng, xây dựng và bảo vệ tổ quốc”[1].

Cách hiểu khác hiện nay cho rằng, “ASXH là một hệ thống các chính sách và chương trình do Nhà nước, các đối tác xã hội thực hiện nhằm bảo đảm mức tối thiểu về thu nhập, sức khỏe và các phúc lợi xã hội, nâng cao năng lực của cá nhân, hộ gia đình và cộng đồng trong quản lý và kiểm soát các rủi ro do mất việc làm, tuổi già, ốm đau, rủi ro thiên tai, chuyển đổi cơ cấu, khủng hoảng kinh tế, dẫn đến giảm hoặc bị mất thu nhập và giảm khả năng tiếp cận đến các dịch vụ xã hội cơ bản”.[2] Cách hiểu này được xây dựng trên quan điểm hệ thống an sinh xã hội không chỉ là sự trợ giúp các cá nhân, gia đình, cộng đồng giảm thiểu và bù đắp thiệt hại do rủi ro (thông qua nhóm chính sách, pháp luật về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế), hay khắc phục rủi ro (thông qua các chính sách pháp luật về trợ giúp xã hội nhằm hỗ trợ kịp thời cho người dân khắc phục những rủi ro không lường trước hoặc vượt quá khả năng kiểm soát của mình; tăng cường tiếp cận của người dân nông thôn đến hệ thống dịch vụ xã hội cơ bản; thực hiện xóa đói giảm nghèo bền vững; bảo đảm mức sống tối thiểu cho người dân) mà hệ thống này phải hỗ trợ người dân, gia đình và cộng đồng chủ động ngăn ngừa rủi ro (thông qua giải pháp thị trường lao động chủ động, như các chính sách, pháp luật về hỗ trợ về tín dụng, giáo dục, đào tạo, dạy nghề, thông tin thị trường lao đồng…). Trong bài viết này chúng tôi sẽ hiểu an sinh xã hội theo cách hiểu phổ biến hiện nay nhằm đánh giá toàn diện hơn về quyền hưởng an sinh hiện nay ở nước ta.

Với quan niệm về an sinh xã hội như trên, theo chúng tôi: quyền hưởng an sinh xã hội (Social Security Rights), là những nhu cầu, lợi ích tự nhiên, vốn có và khách quan của các cá nhân trong xã hội được nhà nước, xã hội hỗ trợ, bù đắp, đảm bảo thu nhập và đời sống nhằm bảo đảm mức tối thiểu về thu nhập, sức khỏe và các phúc lợi xã hội, nâng cao năng lực của cá nhân, hộ gia đình và cộng đồng trong quản lý và kiểm soát các rủi ro do mất việc làm, tuổi già, ốm đau, rủi ro thiên tai, chuyển đổi cơ cấu, khủng hoảng kinh tế, dẫn đến giảm hoặc bị mất thu nhập và giảm khả năng tiếp cận đến các dịch vụ xã hội cơ bản được pháp luật quốc gi cũng như quốc tế ghi nhận và bảo vệ”.

Quyền được hưởng an sinh xã hội là một trong những quyền con người, nó mang tính lịch sử[3]. Trên thế giới, ban đầu quyền được hưởng an sinh được quan niệm và ghi nhận trong pháp luật tương đối hẹp chủ yếu là quyền hưởng các chế độ bảo hiểm xã hội được ghi nhận trong pháp luật một số nước như Đức, Mỹ…. Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của kinh tế xã hội quyền này ngày càng được mở rộng, được ghi nhận trong Hiến chương Đại Tây Dương năm 1941, Tuyên ngôn nhân quyền do Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua ngày 10/12/1948 và đặc biệt là Công ước số 102 về tiêu chuẩn an sinh xã hội tối thiểu đã tập hợp các chế độ về ASXH đã có trên toàn thế giới thành 9 bộ phận quyền cơ bản, gồm: Quyền được hưởng chăm sóc về y tế; Quyền được hưởng trợ cấp ốm đau; Quyền được hưởng trợ cấp thất nghiệp; Quyền được hưởng trợ cấp tuổi già (hưu trí); Quyền được hưởng trợ cấp trong trường hợp tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp; Quyền được hưởng trợ cấp gia đình (phụ cấp gia đình); Quyền được hưởng trợ cấp thai sản; Quyền được hưởng trợ cấp tàn tật; Quyền được hưởng trợ cấp tiền tuất.

Ở Việt Nam, trước khi nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời năm 1945, thời phong kiến thì quyền được hưởng an sinh xã hội của người dân hầu như rất ít và hạn chế. Đến thời Pháp thuộc, Chính phủ Pháp cũng có quy định một số quyền được hưởng an sinh xã hội, nhưng chủ yếu áp dụng với các công chức làm việc cho Pháp, còn đại đa số người dân là không có cơ hội được hưởng quyền này. Ngay sau khi nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa ra đời, Bác Hồ đã đẩy mạnh các hoạt động bảo đảm an sinh xã hội cho nhân dân, như: phong trào diệt giặc đói, giặc dốt, hũ gạo tiết kiệm… nhằm thực hiện mong muốn của Bác là nhân dân ta ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành… Đó là những cơ sở tư tưởng quan trọng cho việc thực hiện quyền được hưởng an sinh xã hội của người dân. Quyền này đã được phát triển và ghi nhận ngày càng mạnh mẽ trong nhiều văn bản pháp lý, đặc biệt là Hiến pháp năm 1980 như quyền học tập, khám chữa bệnh không mất tiền; ưu đãi với người có công, người già, trẻ em mồ côi không nơi nương tựa…[4] Tuy vậy, hiện thực phát triển kinh tế thời đó không có cơ sở để chúng ta thực hiện được đầy đủ các quyền này của người dân. Có thể nói cho đến trước khi tiến hành sự nghiệp đổi mới năm 1986 việc ghi nhận và thực hiện quyền được hưởng an sinh xã hội ở nước ta vẫn chưa nhiều. Chủ yếu áp dụng với cán bộ, công chức làm việc trong cơ quan nhà nước hưởng các chế độ bảo hiểm xã hội và với những người có công với cách mạng hưởng các chế độ về ưu đãi xã hội.

2. Pháp luật và thực trạng thực hiện quyền hưởng an sinh xã hội ở Việt Nam

    2.1. Thực trạng điều chỉnh pháp luật về quyền hưởng an sinh xã hội ở Việt Nam

            Từ khi khi tiến hành sự nghiệp đổi mới đến nay, Nhà nước ta đã ban hành nhiều chính sách, pháp luật về an sinh xã hội nhằm thực hiện có hiệu quả quyền hưởng an sinh xã hội của người dân.

a. Về quyền hưởng bảo hiểm xã hội.

Theo thống kê sơ bộ của chúng tôi từ năm 1986 đến nay có trên 170 văn bản quy định liên quan đến các chế độ bảo hiểm xã hội (chỉ tính Luật, Nghị định, Thông tư). Trong đó có thể kể ra, như: Luật Bảo hiểm xã hội năm 2006, Luật Bảo hiểm Y tế năm 2008 và nhiều văn bản hướng dẫn… Dưới góc độ pháp lý, có thể chia quyền hưởng bảo hiểm xã hội thành hai loại: quyền tham gia bảo hiểm xã hội và quyền được hưởng các chế độ bảo hiểm xã hội. Pháp luật bảo hiểm hiện hành đã quy định về hai quyền này tương đối cụ thể, từ đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế cho đến các quy định về điều kiện hưởng, các chế độ được hưởng và mức hưởng…

– Đối với quyền tham gia bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật hiện hành thì tùy từng trường hợp, cá nhân có thể có quyền tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc hay bảo hiểm xã hội tự nguyện hoặc tham gia bảo hiểm y tế. Nếu là người lao động đã ký hợp đồng lao động từ đủ 3 tháng trở lên theo quy định tại khoản 1, Điều 2 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2006 thì được tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc còn nếu không thuộc các đối tượng trên thì có thể tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện hoặc tham gia bảo hiểm y tế… Thậm chí nhà nước còn hỗ trợ cho người dân thực hiện quyền được hưởng an sinh xã hội của mình. Ví dụ, nhà nước có chính sách hỗ trợ cho những hộ gia đình nghèo tham gia mua bảo hiểm y tế.

– Đối với quyền được hưởng các chế độ bảo hiểm xã hội, pháp luật cũng quy định tương đối cụ thể các chế độ bảo hiểm xã hội được quyền hưởng, như: các chế độ trợ cấp về ốm đau, tai nạn rủi ro; về trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; về dưỡng sức lao động; về thai sản; về thất nghiệp; về hưu trí; về tử tuất và quyền hưởng các chế độ trợ cấp về y tế… Trong đó quyền hưởng các chế độ về bảo hiểm thất nghiệp mới được quy định trong Luật Bảo hiểm xã hội năm 2006 và có hiệu lực vào ngày 1/1/2009 có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo đảm quyền hưởng an sinh xã hội của người dân. Bởi chế độ bảo hiểm này không chỉ trợ cấp về tài chính cho người lao động bị mất việc mà nó còn hỗ trợ cho người lao động trong việc đào tạo nghề, tìm kiếm việc làm và hưởng các chế độ về bảo hiểm y tế…[5] Bên cạnh đó, Luật Bảo hiểm Y tế năm 2008 cũng quy định mở rộng đối tượng được tham gia, nâng cao mức hưởng bảo hiểm y tế của người dân, cũng như quy định về lộ trình thực hiện bảo hiểm y tế toàn dân… Có thể nói, hệ thống các văn bản pháp luật về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế ở nước ta những năm vừa qua đã góp phần quan trọng nhằm đảm bảo thực hiện quyền được hưởng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế của người lao động cũng như nhân dân.

   b. Về quyền được hưởng các chế độ ưu đãi xã hội. Xuất phát từ hoàn cảnh đất nước ta vừa thời gian dài trải qua chiến tranh, để tri ân những người có công với nước, với dân và nhằm giúp đỡ họ vượt qua khó khăn, Nhà nước và xã hội có trách nhiệm bù đắp, trợ giúp cho những đối tượng này. Do vậy đây là một chế độ mang tính đặc thù của nước ta. Theo thống kê hiện nay có khoảng trên 150 văn bản quy định liên quan đến quyền được hưởng các chế độ ưu đãi xã hội. Có thể kể đến một số văn bản quan trọng như: Pháp lệnh về ưu đãi người có công năm 2005 sửa đổi, bổ sung năm 2007; Pháp lệnh về Danh hiệu vinh sự nhà nước “Bà mẹ Việt Nam anh hùng” năm 1993, Nghị định số 35/2010/NĐ-CP của Chính phủ ngày 6 tháng 4 năm 2010 quy định mức trợ cấp, phụ cấp ưu đãi đối với người có công với cách mạng, và nhiều văn bản hướng dẫn … Các văn bản này đã hiện thực hóa quyền được hưởng các chế độ ưu đãi xã hội của nhân dân thông qua việc quy định cụ thể về đối tượng hưởng, điều kiện hưởng ưu đãi xã hội, các chế độ ưu đãi cụ thể được hưởng cũng như mức độ được hưởng.[6].

            c. Về quyền hưởng các chế độ cứu trợ xã hội (bảo trợ xã hội[7]).

Để hỗ trợ, bù đắp cho những người bị rơi vào hoàn cảnh neo đơn, trẻ mồ côi không nơi nương tựa; những người bị rơi vào hoàn cảnh khó khăn đột xuất do thiên tai, hạn hán, lũ lụt… Nhà nước ta đã ban hành và sửa đổi, bổ sung nhiều văn bản về bảo trợ xã hội, như: Nghị định 67/NĐ-CP về chính sách bảo trợ xã hội; Nghị định số 13/2010/NĐ-CP ngày 27 tháng 02 năm 2010 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 67/NĐ-CP về chính sách trợ giúp các đối tượng xã hội, theo đó, mở rộng thêm các đối tượng bảo trợ xã hội (BTXH ) được hưởng và mức trợ cấp cũng được tăng lên 50% so với quy định tại Nghị định 67/2007/NĐ-CP ngày 13/4/2007 của Chính phủ[8]; Thông tư liên tịch số 24/2010/TTLT-BLĐTBXH-BTC ngày 18/08/2010 do Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội- Bộ Tài chính ban hành hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định số 67 và Nghị định số 13/2010/NĐ-CP; Quyết định số 471/QĐ-TTg về việc trợ cấp khó khăn đối với cán bộ, công chức, viên chức, lực lượng vũ trang, người hưởng lương hưu có mức lương thấp, người hưởng trợ cấp ưu đãi, người có công và hộ nghèo đời sống khó khăn, mức hỗ trợ này được thực hiện làm hai lần trong Quý II năm 2011 hay Nghị quyết số 11/2011/NQ-CP nhằm kìm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội,;…

d. Về thị trường lao động chủ động. Vấn đề này cũng có nhiều chính sách, pháp luật đã được ban hành nhằm tạo nhiều cơ hội lựa chọn nghề nghiệp, việc làm, ổn định cuộc sống cho người dân, như: Quyết định số 67/2005/QĐ-TTg hỗ trợ dạy nghề cho đối tượng là học sinh dân tộc thiểu số và lao động nông thôn, Quyết định số 81/2005/QĐ-TTg về chính sách hỗ trợ đào tạo nghề cho lao động nông thôn, Quyết định số 103/2008/QĐ-TTg ban hành đề án hỗ trợ dạy nghề và tạo việc làm cho thanh niên; Quyết định thành lập ngân hàng chính sách xã hội…

Qua đó cho thấy những chính sách, pháp luật về bảo đảm quyền hưởng an sinh xã hội đã ngày càng hoàn thiện. Điều này thể hiện qua việc Nhà nước ta đã xây dựng được hệ thống chính sách, pháp luật bảo đảm an sinh xã hội nhiều tầng nấc (các lưới an sinh xã hội) nhằm bù đắp, trợ giúp cho người dân. Ví dụ: người dân, người lao động khi ốm đau thì được trợ cấp về ốm đau, tai nạn rủi ro, khi sinh con được trợ cấp về thai sản, khi mất việc được trợ cấp thất nghiệp, khi già được trợ cấp hưu trí, khi chết được trợ cấp về tử tuất; khi bị thiên tai địch họa gây thiệt hại thì được hưởng trợ cấp, những người neo đơn có hoàn cảnh khó khăn kéo dài thì được hưởng trợ cấp thường xuyên; những người có công với đất nước và thân nhân của họ thì được nhà nước và nhân dân trân trọng và dành nhiều ưu đãi… Mặc dù vậy qua nghiên cứu và quá trình thực hiện pháp luật về quyền được hưởng an sinh xã hội cũng cho thấy pháp luật hiện hành còn những tồn tại nhất định ảnh hưởng đến việc thực hiện quyền này. Cụ thể:

Một là, các văn bản về bảo đảm an sinh xã hội ở nước ta được ban hành nhiều, nhưng tản mạn, thiếu thống nhất, không đồng bộ, thậm chí còn mâu thuẫn nhau, thiếu sự liên kết giữa các chính sách, pháp luật.

Hai là, những nỗ lực xây dựng pháp luật ASXH đã tạo nên một hệ thống văn bản pháp luật dày đặc, với nhiều loại văn bản có giá trị pháp lý khác nhau, từ luật, pháp lệnh đến thông tư… dẫn tới việc áp dụng, tuyền truyền, phổ biến chính sách, pháp luật cũng như người dân nắm bắt, thực hiện được quyền lợi của mình gặp nhiều khó khăn;

Ba là, nhiều quy định pháp luật còn bất cập và không phù hợp với thực tiễn… Ví dụ: Luật Bảo hiểm thất nghiệp quy định căn cứ để đóng bảo hiểm xã hội là tiền lương tiền công ghi trên hợp đồng lao động. Tuy nhiên, thực tiễn người sử dụng lao động có thể dễ dàng thỏa hiệp để trả người lao động mức tiền lương cao hơn số tiền lương ghi trong hợp đồng;…;

Bốn là, tính dự liệu và tính khả thi của một số quy định pháp luật còn thấp, dẫn đến tình trạng dễ bị lạc hậu hoặc phải sửa đổi, bổ sung nhanh chóng;

Năm là, quy định pháp luật về mức hưởng các chế độ cứu trợ xã hội về cơ bản còn thấp so với thực tế phát triển xã hội;

2.2. Thực trạng thực hiện quyền hưởng an sinh xã hội ở Việt Nam

          Theo Báo cáo Chính trị tại Đại hội lần thứ XI của Đảng năm 2011 về thành tựu bảo đảm thực hiện quyền được hưởng an sinh xã hội 5 năm (2006 – 2010) cho thấy giải quyết việc làm, xóa đói, giảm nghèo, thực hiện chính sách với người và gia đình có công, chính sách an sinh xã hội đạt kết quả tích cực. Trong 5 năm, đã giải quyết được việc làm cho trên 8 triệu lao động, tỉ lệ thất nghiệp ở thành thị giảm còn dưới 4,5%, tỉ lệ hộ nghèo giảm còn 9,5%. Công tác dân số, kế hoạch hoá gia đình, chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân, bình đẳng giới và tiến bộ của phụ nữ đạt được một số kết quả quan trọng; mức hưởng thụ các dịch vụ y tế của nhân dân tăng lên, đặc biệt với trẻ em, người nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số. Chỉ số phát triển con người không ngừng tăng lên; Việt Nam đã hoàn thành phần lớn các Mục tiêu Thiên niên kỷ.[9] Tuy nhiên, việc thực thi các quyền hưởng an sinh xã hội của người dân trong những năm vừa qua ở nước ta vẫn còn nhiều vấn đề cần đặt ra.

– Về quyền hưởng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế. Theo số liệu thống kê của Bộ Lao động – thương binh và Xã hội cho thấy số người tham gia bảo hiểm xã hội tăng mạnh, năm 2001 là 4,8 triệu người đã tăng lên 9,4 triệu người năm 2009[10]. Về bảo hiểm xã hội tự nguyện sau một năm triển khai số người tham gia đã đạt gần 50.000 người; cả nước có 9% dân số từ 50 tuổi trở lên sống bằng lương hưu[11]. Về bảo hiểm y tế, đối tượng tham gia cả bắt buộc và tự nguyện đều tăng nhanh, đến năm 2009 cả nước có 53,3 triệu người tham gia bảo hiểm y tế, chiếm 60% dân số cả nước… Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy vẫn còn những tồn tại nhất định, như: một là, vẫn còn nhiều người ở khu vực ngoài nhà nước chưa được tham gia bảo hiểm xã hội; hai là, thực tế cho thấy người lao động đã tham gia đóng bảo hiểm xã hội, nhưng người sử dụng lao động không đóng hoặc nợ đọng tiền BHXH hay thủ tục hành chính phiền hà… ảnh hưởng đến quyền hưởng các chế độ bảo hiểm xã hội của người lao động…; ba là, việc triển khai thực hiện bảo hiểm y tế toàn dân đã được thực hiện, tuy nhiên quá trình này vẫn còn diễn ra chậm ảnh hưởng đến quyền lợi của người dân, đặc biệt là những người nghèo dù được nhà nước hỗ trợ một phần kinh phí để mua bảo hiểm y tế, nhưng có nhiều gia đình vẫn chưa tiếp cận được ảnh hưởng đến quyền lợi của họ trong khám, chữa bệnh…[12]

Về thực hiện quyền hưởng các chế độ ưu đãi xã hội. Những năm qua, Nhà nước ta ngày càng quan tâm, chăm lo đến người có công với đất nước và gia đình họ[13]. Tuy nhiên, nhiều quy định về ưu đãi ngoài trợ cấp, như: bảo hiểm y tế, giáo dục đào tạo, ưu đãi nhà, đất do chưa được hướng dẫn thực hiện cụ thể dẫn tới khó khăn cho quá trình thực hiện… Mặt khác, về mức hưởng các chế độ ưu đãi chưa phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế xã hội… dẫn tới ý nghĩa, hiệu quả của ưu đãi xã hội bị giảm;

Hơn nữa, thực tiễn cho thấy trong quá trình xây dựng và bảo vệ tổ quốc để phát huy được sức mạnh toàn dân, có nhiều quan điểm cho rằng Nhà nước nên tri ân những người lính Việt Nam cộng hòa đã ngã xuống để bảo vệ Hoàng Sa năm 1974 công nhận họ là liệt sĩ. Bởi mặc dù thuộc chế độ nhà nước khác, nhưng không thể phủ nhận họ là người Việt Nam, chiến đấu chống lại giặc ngoại xâm và đã hy sinh bảo vệ chủ quyền lãnh thổ Việt Nam; việc ghi nhận này cũng góp phần quan trọng vào quá trình hòa giải dân tộc. Do vậy cần có những nghiên cứu để đưa ra những kiến giải về vấn đề này cho phù hợp với tiến trình phát triển và bảo vệ tổ quốc.

Về các quyền hưởng các chế độ bảo trợ xã hội. Có thể khẳng định như một quy luật tất yếu của lịch sử, chiến tranh càng lùi xa thì các đối tượng hưởng chế độ ưu đãi xã hội sẽ ngày càng giảm đi, tuy nhiên đối tượng của bảo trợ xã hội thì không hẳn vậy. Ở nước ta, thiên tai (bão lụt, hạn hán…) thường xuyên xảy ra gây thiệt hại không nhỏ về người và tài sản, ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống nhân dân và điều kiện phát triển kinh tế – văn hoá – xã hội. Bên cạnh đó, mặt trái của kinh tế thị trường như phân hoá giàu nghèo, thực dụng, suy giảm đạo đức, lối sống, thất nghiệp… đang là những nguyên nhân làm tăng đối tượng bảo trợ xã hội: người già cô đơn, người lang thang, người tàn tật, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, tệ nạn xã hội… Đây là nhóm đối tượng cần có sự hỗ trợ về vật chất và tinh thần của Nhà nước và xã hội[14]. Tuy nhiên, thực tiễn thực hiện quyền này vẫn còn nhiều vấn đề như: điều kiện xác định đối tượng được hưởng chế độ cứu trợ đột xuất vẫn chưa rõ ràng nên thực tế người cần được cứu trợ lại không được trong khi những người chưa đến mức được cứu trợ thì lại được hưởng; địa chỉ đóng góp, thu chi các khoản tiền, hàng cứu trợ chưa thống nhất giữa TW và địa phương dẫn tới hiện tượng người dân không biết nên gửi cho cơ quan nào; một số địa phương sử dụng tiền, hàng cứu trợ chưa đúng đối tượng, đúng địa bàn. Có những đối tượng cùng một hoàn cảnh nhưng lại được nhận hỗ trợ người thì quá nhiều, người thì quá ít dẫn tới không công bằng thậm chí có những đối tượng đúng ra được hưởng thì lại bị bỏ sót, lãng quên không nhận được tiền, hàng cứu trợ…

Về thị trường lao động chủ động. Về vấn đề này Nhà nước ta đã ban hành nhiều chính, sách, pháp luật để tạo điều kiện cho người dân được học tập, tìm kiếm việc làm. Ví dụ trong giai đoạn 2004-2008, thông qua Ngân hàng chính sách Xã hội, Nhà nước đã cấp bù lãi suất cho vay tín dụng ưu đãi gần 3.900 tỷ đồng cho phát triển kinh doanh, tạo việc làm, cải thiện đời sống góp phần thực hiện xóa đói, giảm nghèo, nâng cao trình độ[15]. Tuy nhiên, quá trình thực hiện quyền này vẫn còn những hạn chế nhất định, như: việc dạy nghề chưa gắn với nhu cầu của sản xuất; người lao động nông thôn chuyển đến các khu công nghiệp, khu đô thị còn khó tiếp cận những hoạt động hỗ trợ dạy nghề, phát triển sản xuất, thông tin thị trường lao động…

Những bất cập, tồn tại trên cho thấy hệ thống ASXH Việt Nam chưa phát triển đồng bộ và tương xứng với thành tựu phát triển kinh tế. Đó cũng là minh chứng cho thấy quyền được hưởng an sinh xã hội của người dân vẫn chưa được đảm bảo và cần sớm nghiên cứu hoàn thiện.

  1. 2.     Một số quan điểm, kiến nghị nhằm thực hiện có hiệu quả quyền được hưởng an sinh xã hội ở Việt Nam  

Thứ nhất, cần phát triển hệ thống ASXH dựa trên quyền được hưởng an sinh của người dân và phù hợp với kinh tế và xã hội Việt Nam thời kỳ 2011-2020, nhằm mục tiêu phát triển bền vững, thực hiện công bằng xã hội và vì con người.

Thứ hai, thực hiện quyền hưởng an sinh xã hội cần đảm bảo các nguyên tắc sau: Một là, nguyên tắc quyền: Nguyên tắc này yêu cầu mọi người dân có quyền an sinh và tiếp cận hệ thống ASXH. Đây là yêu cầu cơ bản hướng đến tiến bộ xã hội và công bằng trong phân phối và hưởng thụ các thành quả phát triển kinh tế và phúc lợi xã hội theo hướng phân bổ ngày càng bình đẳng hơn, ít sự loại trừ. Hai là, nguyên tắc chia sẻ. Nguyên tắc này yêu cầu sự gắn bó, đoàn kết, liên kết, tương trợ, bù đắp giữa các cá nhân, các nhóm trong xã hội và nhà nước. Nó nhấn mạnh vai trò của sự tương trợ trong nội bộ và giữa các nhóm xã hội. Theo đó, hệ thống ASXH hướng đến đảm bảo nhu cầu tối thiểu thông qua việc tổng hợp và tái phân phối nguồn lực. Ba là, nguyên tắc công bằng và bền vững. Nguyên tắc này yêu cầu về lâu dài, phải gắn trách nhiệm và quyền lợi, giữa đóng góp với hưởng lợi, khuyến khích mọi người dân tham gia hệ thống, bảo đảm tính thoả đáng, thích đáng trong từng chính sách và chương trình. Bốn là, nguyên tắc tăng cường trách nhiệm các chủ thể. Nguyên tắc này yêu cầu việc khuyến khích các thành phần trong xã hội tham gia xây dựng và thực hiện chính sách ASXH; thúc đẩy các nỗ lực của bản thân người dân, gia đình, cộng đồng trong việc bảo đảm ASXH; giảm thiểu sự lệ thuộc vào nhà nước theo hướng nhà nước chỉ cung cấp những hỗ trợ bổ sung và không thay thế nỗ lực của cá nhân.

      Thứ ba, từng bước xây dựng và thực hiện hệ thống chính sách ASXH mang tính toàn dân, mở rộng khả năng tiếp cận và diện bao phủ, đảm bảo người dân có mức sống tối thiểu, có khả năng liên kết, chống đỡ thành công trước rủi ro. Nhằm đảm bảo cho mọi người dân có thể thực hiện được quyền tối thiểu của mình về an sinh xã hội.

Thứ tư, cần tuyên truyên, nâng cao nhận thức của nhân dân về quyền được hưởng an sinh xã hội. Đây là biện pháp quan trọng nhằm đảm bảo quyền hưởng an sinh xã hội đi vào thực tiễn. Bởi thực tế cho thấy nhiều người dân chưa biết được đây là quyền của mình do vậy ảnh hưởng đến việc thực hiện của họ trên thực tiễn.

Thứ năm, về pháp lý cần hoàn thiện những vấn đề sau: một là, cần củng cố ghi nhận quyền được hưởng an sinh xã hội là quyền hiến định. Đồng thời cần coi quyền được hưởng an sinh xã hội là một trong những nguyên tắc trong quá trình xây dựng và hoàn thiện pháp luật về an sinh xã hội; hai là, trước mắt, cần nghiên cứu xây dựng Luật Việc làm, Luật về lương tối thiểu; nghiên cứu sửa đổi, bổ sung Luật Bảo hiểm Xã hội năm 2006 và các Luật liên quan nhằm hoàn thiện cơ sở pháp lý về an sinh xã hội. Về lâu dài, cần nghiên cứu xây dựng Bộ luật An sinh xã hội trong đó pháp điển hóa toàn diện các nguyên tắc, chế độ ASXH phù hợp với cấu trúc an sinh xã hội ở nước ta (cấu trúc này gồm 3 trụ cột chính là thị trường lao động chủ động, bảo hiểm xã hội, và trợ giúp xã hội, cần có cân nhắc về việc có nên đưa chế độ ưu đãi xã hội vào Luật này bởi trong cấu trúc trên cũng bao gồm các đối tượng được hưởng ưu đãi xã hội, hơn nữa đây là chế độ đặc thù ở nước ta và theo thời gian chiến tranh càng lùi xa thì các đối tượng hưởng chế độ này ngày càng giảm); ba là, cần nghiên cứu hoàn thiện về mặt nội dung các quy định pháp luật về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, ưu đãi người có công và các chế độ về bảo trợ xã hội… trên cơ sở kế thừa và phát triển chính sách BHXH hiện hành, xem xét điều kiện kinh tế – xã hội và tham khảo kinh nghiệm của các nước phát triển trên thế giới. Cần đảm bảo tính đồng bộ giữa các chế độ ASXH, tránh chồng chéo, mâu thuẫn, đảm bảo mọi người dân đều có quyền được hưởng ASXH; tạo cơ chế đảm bảo thực thi nghiêm chỉnh và có hiệu quả trên thực tế.

Thứ sáu, nâng cao trách nhiệm và sự phối hợp của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền từ trung ương đến địa phương cũng như kêu gọi sự tham gia của xã hội vào quá trình thực hiện an sinh xã hội, nhằm đảm bảo thực hiện có hiệu quả quyền được hưởng an sinh xã hội của nhân dân.

 


[1] Xem thêm: Giáo trình Luật An sinh Xã hội, Trường Đại học Luật Hà Nội, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội – 2007.

[2] Xem thêm: Khái niệm về an sinh xã hội trong Dự thảo Chiến lược anh sinh xã hội 2011-2020. Nguồn: http://www.ilssa.org.vn/NewsDetail.asp?NewsId=141&CatId=33.

[3] Trong Tuyên ngôn nhân quyền do Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua ngày 10/12/1948 viết: “Tất cả mọi người với tư cách là thành viên của xã hội có quyền hưởng ASXH. Quyền đó đặt cơ sở trên sự thoả mãn các quyền về kinh tế, xã hội và văn hoá cần cho nhân cách và sự tự do phát triển con người…”. Bài Khái luận chung về an sinh xã hội của TS. Mạc Tiến Anh đăng trên Tạp chí Bảo hiểm xã hội các số 1/2005, 2/2005 và số 4/2005

[4] Xem thêm: Giáo trình Luật An sinh Xã hội, Trường Đại học Luật Hà Nội, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội – 2007, tr 49-55.

[5] Xem thêm Điều 83, 84, 85 Luật Bảo hiểm Xã hội năm 2006.

[6] Những năm qua, việc thực hiện chế độ trợ cấp ưu đãi người có công đã đạt được kết quả tích cực. Đã chi trả chế độ trợ cấp một lần cho khoảng 3 triệu người hoạt động kháng chiến được Nhà nước khen tặng Huân, Huy chương tổng kết thành tích kháng chiến. Hoàn thành trả trợ cấp ưu đãi một lần cho khoảng 4 triệu người và khoảng 1,5 triệu thương binh, thân nhân liệt sỹ, lão thành cách mạng, Bà mẹ Việt Nam anh hùng… tiếp tục hưởng trợ cấp ưu đãi hàng tháng.3 Theo số liệu thống kê từ Bộ Lao động Thương binh – Xã hội, từ năm 1996 – 2002 ngân sách Nhà nước đã chi trả trợ cấp một lần và hàng tháng cho những người có công với cách mạng, chi cho công tác qui tập mộ liệt sỹ, tu bổ nghĩa trang, nuôi dưỡng thương bệnh binh, trợ cấp cho cán bộ đi các chiến trường B,C,K với tổng số tiền lên tới: 14.361 tỷ đồng.

[7] Tên gọi này bắt đầu xuất hiện trong Nghị định số 67/2007/NĐ-CP của Chính phủ về Chính sách trợ giúp các đối tượng về bảo trợ xã hội, ngày 13/4/2004.

[8] Mức chuẩn để xác định mức trợ cấp xã hội (TCXH) hàng tháng cũng được tăng thêm 50%, từ 120.000 đồng lên 180.000 đồng/tháng (hệ số 1).

[9] Xem thêm Báo cáo Chính trị, Đại hội Đảng khóa XI.

[10] Bộ Lao đông – Thương binh – Xã hội, báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ năm 2009, phương hướng thực hiện nhiệm vụ năm 2010.

[11] Bộ Lao đông – Thương binh – Xã hội, báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ năm 2009, phương hướng thực hiện nhiệm vụ năm 2010 (Bao gồm người mới tham gia và người từ BHXH nông dân Nghệ An chuyển sang).

[13] Theo thống kê tổng kết cuộc cách mạng của Bộ chính trị – Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam có: “1,1 triệu người chiến đấu hy sinh, 600.000 thương binh, 300.000 người mất tích trong chiến đấu; 2 triệu người dân bị giết hại; 2 triệu người bị tàn tật; 2 triệu người bị nhiễm chất độc hoá học; 500.000 trẻ em bị dị dạng”.

[14] Theo số liệu của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội, số tiền ngân sách chi ra cho những hoạt động này (chỉ tính riêng năm 2000) là 648,8 tỷ đồng và những năm sau đó vẫn tiếp tục tăng. Riêng hai năm 2000 – 2001 đã đào tạo và đào tạo lại tay nghề cho gần 800 nghìn người lao động, khoảng 16% số người mắc phải tệ nạn xã hội được tập trung cải tạo và dạy nghề giúp họ trở lại con đường làm ăn lương thiện.

[15] Xem bài: Hệ thống chính sách an sinh xã hội ở Việt Nam: Thực trạng và giải pháp của Đặng Kim Chung, Kỷ yếu Hội thảo Chính sách, pháp luật về an sinh xã hội ở Việt Nam hiện nay, Hà Nội, ngày 19, 20 tháng 4 năm 2010.

Post a comment or leave a trackback: Trackback URL.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: