Bài đã đăng Tạp chí Tòa án nhân dân

VỀ TỘI VI PHẠM CÁC QUY ĐỊNH VỀ ĐIỀU KHIỂN PHƯƠNG TIỆN GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ: PHI TỘI PHẠM HÓA HAY CHỈ KHỞI TỐ KHI CÓ YÊU CẦU CỦA NGƯỜI BỊ HẠI

Bùi Đức Hiển

Viện Nhà nước và Pháp luật 

          Pháp luật nói chung và hình sự nói riêng, phải có tính ổn định tương đối. Tuy nhiên, để có hiệu lực và hiệu quả, nội dung của pháp luật nói chung cũng như pháp luật hình sự nói riêng luôn phải phản ánh và phù hợp với thực tiễn cuộc sống. Trong khi đó, thực tiễn lại luôn biến đổi không ngừng làm nảy sinh những yếu tố làm giảm tính nguy hiểm cho xã hội của những hành vi khác. Do vậy vấn đề phi tội phạm hóa luôn luôn được đặt ra. Điều đó có nghĩa là pháp luật luôn phải được hoàn thiện. Nước ta đang trong tiến trình cải cách tư pháp, đáp ứng yêu cầu của quá trình hội nhập, việc hoàn thiện các quy định pháp luật hình sự và tố tụng hình sự đóng vai trò quan trọng. Bài viết này bàn về vấn đề có nên phi tội phạm hóa đối với Tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ hay không bởi trong thực tiễn áp dụng pháp luật vẫn còn có nhiều quan điểm tranh luận khác nhau xung quanh loại tội phạm này. Vậy thực chất của vấn đề là ở đâu,  ở việc phi tội phạm hóa hay không hay ở chỗ khác (?)

2. Phi tội phạm hóa Tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ

       Theo Từ điển Bách khoa toàn thư­ Việt Namthì  “phi tội phạm hoá” là việc bãi bỏ trách nhiệm hình sự đối với những hành vi này hay hành vi khác nguy hiểm cho xã hội trư­ớc đây bị coi là tội phạm[1]. Từ điển giải thích thuật ngữ luật học cũng có cách giải thích t­ương tự, theo đó: “phi tội phạm hoá” là việc xoá bỏ tội phạm nhất định đã đ­ược quy định trong luật. Phi tội phạm hoá thuộc thẩm quyền của cơ quan lập pháp, quá trình này bao gồm: 1) Xoá bỏ loại hành vi cụ thể đã đ­ược quy định là tội phạm do không còn xảy ra hoặc do thực tiễn không còn đòi hỏi cần phải xử lý hành vi này bằng biện pháp TNHS; 2) Thu hẹp phạm vi xử lý bằng biện pháp TNHS của một loại hành vi hoặc nhóm hành vi qua việc thêm dấu hiệu của cấu thành tội phạm (CTTP) hoặc thu hẹp phạm vi chủ thể của tội phạm[2].

Trong quá trình tiến tới xây dựng Nhà nước pháp quyền việc hoàn thiện hệ thống pháp luật nói chung, pháp luật hình sự nói riêng đóng vai trò quan trọng. Vấn đề này đã được khẳng định trong Nghị quyết 48 của Bộ Chính trị Trung ương Đảng khóa IX về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020. Trong quá trình tiến hành sửa đổi, bổ sung Bộ luật Hình sự 1999 có nhiều vấn đề liên quan đến hình sự hóa, phi hình sự hóa hay rộng hơn là tội phạm hóa, phi tội phạm hóa được bàn đến, như: việc bãi bỏ hình phạt tử  hình đối với một số tội về tham ô, nhân hối lộ, đưa hối lộ, về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy… đồng thời có thể quy định thêm một số tội liên quan đến bảo vệ môi trường, tội phạm liên quan đến công nghệ cao… Tuy nhiên, những vấn đề này cũng đã tranh luận nhiều, bài viết này sẽ không đi sâu vào bàn luận về về các vấn đề này mà chủ yếu tập trung bàn về một vài vấn đề pháp lý xoay quanh Tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ.

     Điều 202 Bộ luật Hình sự 1999 quy định: “1. Người nào điều khiển phương tiện giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khoẻ, tài sản của người khác, thì bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ  sáu tháng đến năm năm.

 2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm:

A) Không có giấy phép hoặc bằng lái xe theo quy định;

B) Trong khi say rượu hoặc say do dùng các chất kích thích mạnh khác;

C) Gây tai nạn rồi bỏ chạy để trốn tránh trách nhiệm hoặc cố ý không cứu giúp người bị nạn; 

D) Không chấp hành hiệu lệnh của người đang làm nhiệm vụ điều khiển hoặc hướng dẫn  giao thông;

Đ) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

3. Phạm tội gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm.

4. Vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ mà có khả năng thực tế dẫn đến hậu quả đặc biệt nghiêm trọng nếu không được ngăn chặn kịp thời, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm.

5. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm”.

          Phân tích nội dung của Điều luật này có thể thấy bị coi là vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ khi người điều khiển phương tiện: chưa đủ tuổi quy định, chưa có giấy phép lái xe, vượt quá tộc độ cho phép, uống rượu hoặc chất kích thích vượt quá quy định cho phép… gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khoẻ, tài sản của người khác. Như vậy, trong cấu thành tội phạm này trong mặt khách quan của tội phạm ngoài việc nêu rõ các dạng biểu hiện của hành vi khách quan vốn được qui định trong Luật Giao thông đường bộ năm 2008 và các văn bản pháp luật khác, nhà làm luật còn qui định cả dấu hiệu hậu quả  mà hành vi vi phạm pháp luật giao thông đường bộ đã gây ra.

Tuy nhiên, thực tiễn đấu tranh, phòng chống với loại Tội này, cho thấy có những điểm bất cập như: tất cả các trường hợp phạm tội này đều có lỗi vô ý với thiệt hại xảy ra; nhiều thiệt hại xảy ra là không lớn cho xã hội và cho người bị thiệt hại, nhưng họ vẫn bị truy cứu trách nhiệm hình sự với hành vi của mình (điều này thực tiễn xét xử xảy ra là không ít)… Từ  đó có nhiều câu hỏi đặt ra là có nên giữ nguyên (tội phạm hóa) hay nên phi tội phạm hóa Tội này. Về cơ bản có hai quan điểm:

Quan điểm thứ nhất cho rằng nên phi tội hóa đối với tội phạm này bởi vì: thứ nhất về lỗi, chúng ta biết rằng coi là Tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ thì phải là trường hợp có lỗi vô ý đối với hậu quả xảy ra, trong khi lỗi vô ý với hậu quả là dấu hiệu bắt buộc, mà trên thực tế thì dấu hiệu này thường không dễ phát hiện nên có thể dẫn đến oan, sai; thứ hai, thực tế cho thấy rất nhiều trường hợp người phạm tội, khi gây thiệt hại với cho người khác hoặc tài sản của họ, nhưng vẫn thỏa thuận được với người đó về việc bồi thường thiệt hại (được đền bù thỏa đáng), thậm chí là gia đình người bị gây thiệt hại hoặc người bị gây thiệt hại còn có đơn xin miễn trách nhiệm hình sự cho những người này; thứ ba, tính răn đe của biện pháp hình sự đối với Tội này là chưa rõ ràng. Thực tế cho thấy số hành vi vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ  gây thiệt hại cho xã hội vẫn không ngừng gia tăng từ khi quy định tội này. Theo số liệu thống kê của Bộ Giao thông Vận tải, ở nước ta số tai nạn giao thông đường bộ vẫn tăng mạnh từ năm 2001 đến nay. Đáng quan tâm hơn, số người bị tử vong vì tai nạn giao thông vào năm 2002 là 13.000 người, nhưng đến năm 2007 đã lên 15.000 người. Con số thương tích nay là 30.000 người, một số mang thương tật vĩnh viễn. Tổn thất kinh tế do tai nạn giao thông gây ra chiếm khoảng 0,5% tổng sản lượng quốc gia và dự báo còn có thể tăng cao hơn nữa. Do vậy nên phi tội phạm hóa đối với Tội này.

Quan điểm thứ hai lại cho rằng nên giữ nguyên Tội này. Bởi vì: thứ nhất, các quy định hành chính, dân…về nghĩa nào đó có thể bảo vệ được lợi ích của cá nhân bị thiệt hại, nhưng nhiều trường hợp không thể bảo vệ được lợi ích của nhà nước và xã hội, tính răn đe, phòng ngừa không cao. Do vậy việc quy định Tội xử lý vi phạm qui định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ vẫn đóng vai trò quan trọng nhằm ngăn chặn phòng ngừa các vi phạm về pháp luật giao thông đường bộ gây hậu quả nghiên trọng cho xã hội đồng thời góp phần ổn định trật tự an toàn giao thông và góp phần vào bảo đảm trật tự an toàn xã hội; thứ hai, nếu loại bỏ Tội này ra khỏi Bộ luật Hình sự  sẽ dẫn đến các trường hợp lợi dụng những hành vi này để phạm tội, để thanh toán, để trả thù lẫn nhau gây lên mất trật tự  an toàn xã hội thậm chí có thể dẫn đến bất ổn về chính trị… Ví dụ như: A muốn giết chết B, A sẽ thuê C dàn xếp, bố trí kế hoạch gây tai nạn làm cho B chết, sau đó C sẽ thỏa thậm bồi thường cho gia đình B là xong… Điều đó rất nguy hiểm cho xã hội; thứ ba, hành vi vi phạm qui định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ, nó xảy ra ở nhiều mức độ khác nhau và có nhiều vụ có mức độ nguy hiểm cho xã hội rất lớn (gây chết nhiều người)…  Do vậy nên giữ nguyên Tội này trong Bộ luật Hình sự.

3. Kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về Tội vi phạm qui định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ

        Từ những thực tiễn cũng như trên cơ sở xem xét những quan điểm trên, kết hợp với việc nghiên cứu các quy định của pháp luật hình sự hiện hành, chúng ta có thể rút ra kết luận rằng việc đưa ra các quan điểm trên về giữ nguyên hay phi tội phạm hóa Tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ, xét về các khía cạnh khác nhau đều có cơ sở nhất định. Bởi việc một người vi phạm quy định pháp luật về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ khi gây thiệt hại đã phải bồi thường, nhưng vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự, nếu xét dưới góc độ lý luận về về tội phạm và hình phạt thì vấn đề này không có gì phải bàn, vì trách nhiệm hình sự là trách nhiệm của người phạm tội đối với Nhà nước, nhưng xét dưới góc độ thực tiễn xã hội thì trường hợp người điều khiển phương tiện vô ý gây ra thiệt hại không lớn cho người khác, họ đã bồi thường thỏa đáng cho người bị thiệt hại và gia đình họ, thậm chí gia đình hoặc người bị hại lại nhiều lần đề nghị miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho người gây ra thiệt hại đó mà vẫn bị truy cứu thì thật là đáng tiếc, và có phần nào đó còn bất hợp lý, chưa phù hợp với thực tiễn cuộc sống.

         Tuy nhiên, theo chúng tôi việc theo hay không theo quan điểm nào chúng ta cần phải dựa trên cả cơ sở lý luận cũng như thực tiễn của vấn đề, đồng thời phải đảm bảo được sự  phù hợp của qui định đó với cuộc sống. Chúng tôi đồng ý với quan điểm thứ hai là chưa nên phi tội phạm hóa đối với loại Tội này. Bởi ngoài những căn cứ đã nêu ra ở trên, theo chúng tôi còn có thêm những nguyên nhân sau: một là, thực tiễn cho thấy hành vi vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ vẫn là hành vi có mức độ nguy hiểm cao cho xã hội, mà nếu muốn phi tội phạm hóa hành vi này thì hành vi đó phải hoàn toàn không nguy hiểm cho xã hội; hai là, đây là hành vi xảy ra rất phổ biến ở nước ta và có nhiều vụ gây thiệt hại lớn đối với xã hội về cả tài sản và tính mạng nhiều người, hơn nữa nếu chỉ có các quy phạm pháp luật dưới hình sự để điều chỉnh vấn đề này mà vắng bóng đi các quy định của pháp luật hình sự thì sẽ không thể đảm bảo tính răn đe, phòng ngừa đối với hành vi này; ba là, việc giữ nguyên quy định đối với Tội này không trái với các pháp luật hiện hành về hành chính, về giao thông đường bộ và pháp luật khác về vấn đề này… mà còn tạo nên sự đồng bộ trong pháp luật đấu tranh với loại tội này. Tuy vậy, để những quy định pháp luật này thực sự phát huy được vai trò ngăn chặn, phòng ngừa các hành vi vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường và đảm bảo sự hợp tình, hợp lý. Theo chúng tôi việc thực hiện Khoản 1 của Điều 202 của Bộ luật Hình sự năm 1999 cần áp dụng quy định về khởi tố theo yêu cầu của người bị hại  (Điều 105, Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2003).

Điều 105 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2003 quy định:  “1. Những vụ án về các tội phạm được quy định tại khoản 1 các điều 104, 105, 106, 108, 109, 111, 113, 121, 122, 131 và 171 của Bộ luật Hình sự chỉ được khởi tố khi có yêu cầu của người bị hại hoặc của người đại diện hợp pháp của người bị hại là người chưa thành niên, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất.

 2. Trong trường hợp người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu trước ngày mở phiên tòa sơ thẩm thì vụ án phải được đình chỉ.

Trong trường hợp có căn cứ để xác định người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu khởi tố trái với ý muốn của họ do bị ép buộc, cưỡng bức thì tuy người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án vẫn có thể tiếp tục tiến hành tố tụng đối với vụ án.

Người bị hại đã rút yêu cầu khởi tố thì không có quyền yêu cầu lại, trừ trường hợp rút yêu cầu do bị ép buộc, cưỡng bức”. Điều luật này cho thấy đối với một số tội phạm nhất định có thể do mức độ nguy hiểm của tội phạm cho xã hội không cao hoặc để bảo vệ danh dự, uy tín, nhân phẩm cho người bị hại thì cơ quan nhà nước có thẩm quyền chỉ được khởi tố theo yêu cầu của người bị hại.

        Sở dĩ nên quy định Khoản 1, Điều 202 Bộ luật Hình sự chỉ khởi tố khi có yêu cầu của người bị hại, bởi lý do sau: thứ nhất, những thiệt hại gây ra do hành vi vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ là do lỗi vô ý, họ luôn không mong muốn có thiệt hại xảy ra. Ví dụ một người điều khiển mô tô vượt quá tốc độ cho phép gây thiệt hại cho sức khỏe, tài sản của người khác thì thực ra những thiệt hại này nằm ngoài mong muốn của người đó; thứ hai, xét về góc độ thực tiễn cho thấy nhiều hành vi vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ gây thiệt hại không lớn đối với sức khỏe, tài sản của người khác, thậm chí là người bị gây thiệt hại còn có đơn xin miễn tố, nhưng sau khi bồi thường cho người bị thiệt hại,  họ vẫn bị cơ quan nhà nước có thẩm quyền truy cứu trách nhiệm hình sự  (trường hợp này không hợp lý); thứ ba, dưới góc độ pháp lý các thiệt hại do vi phạm các quy định về điều khiển giao thông đường bộ gây ra quy định tại khoản 1 Điều 202 thường là những thiệt hại không lớn (không quá nghiêm trọng); thứ tư, việc quy định Khoản 1Điều 202 chỉ bị khởi tố khi yêu cầu của người bị hại không có nghĩa là người vi phạm gây ra thiệt hại sẽ không bị khởi tố hình sự  bởi người bị hại hoặc gia đình họ có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền tiến hành khởi tố về hình sự với người có hành vi phạm tội đó hay người vi phạm gây hậu quả rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng… thì người đó cũng sẽ bị khởi tố về hình sự;  thứ năm, quy định như vậy không ảnh hưởng đến việc bảo đảm được các trật tự  xã hội, mà vẫn đảm bảo được quyền lợi của người bị gây thiệt hại, thậm chí là còn đảm bảo tốt hơn quyền lợi cho người bị gây ra thiệt hại. Bởi khi người vi phạm các quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ gây ra thiệt hại, họ sẽ nhanh chóng quan tâm, săn sóc và thỏa thuận bồi thường thỏa đáng với người bị hại và gia đình họ, vì đó có thể là một cơ sở để người bị hại hoặc gia đình họ không yêu cầu khởi tố. Hơn nữa, còn tránh được trường hợp người gây ra hành vi này, một khi đã bị truy cứu trách nhiệm hình sự thì họ sẽ không thực hiện bồi thường thiệt hại (đây là một vấn đề mà chúng ta có thể thấy khá rõ trong thực tiễn cuộc sống); Đặc biệt theo chúng tôi quy định như vậy khả năng thực thi trên thực tiễn là tương đối rõ ràng.

        Từ những phân tích trên, chúng ta thấy việc quy định Khoản 1, Điều 202 vào một trong các trường hợp khởi tố khi có yêu cầu của người bị hại là phù hợp với logic pháp lý và thực tiễn. Có thể quy đinh như  sau tại khoản 1 Điều 105 của Bộ luật Tố tụng Hình sự 2003 về Khởi tố theo yêu cầu của người bị hại:1. Những vụ án về các tội phạm được quy định tại khoản 1 các điều 104, 105, 106, 108, 109, 111, 113, 121, 122, 131, 171, 202 của Bộ luật Hình sự chỉ được khởi tố khi có yêu cầu của người bị hại hoặc của người đại diện hợp pháp của người bị hại là người chưa thành niên, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất”.

4. Kết luận

      Qua những phân tích trên, chúng ta thấy vấn đề tội phạm hóa hay không tội phạm hóa đối với mỗi loại tội phạm nhất định nó liên quan và thể hiện chính sách hình sự của Nhà nước đó. Tuy nhiên, trong quá trình này, chúng ta cần phải xem xét kỹ bản chất của vấn đề có khi một vấn đề khá phức tạp và khó, vừa chưa phù hợp trong thực tiễn áp dụng, nhưng nguyên nhân của nó chưa hẳn nằm ở nội dung của Điều luật đó mà có thể nó lại nằm ở pháp luật liên quan đến điều luật đó là cụ thể ở đây là mối quan hệ giữa luật nội dung và luật thủ tục mà vấn đề tôi trình bày ở trên chính là một ví dụ điển hình.

Nguồn: đăng Tạp chí Tòa án nhân dân năm 2009.


[2] Xem: Từ  điển giải thích thuật ngữ luật học, Phần Luật Hình sự.

Post a comment or leave a trackback: Trackback URL.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: