Trong Kỷ yếu Hội thảo: Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI và những vấn đề cấp bách về Nhà nước và pháp luật do Viện Nhà nước và Pháp luật tổ chức

 

CHÍNH SÁCH,  PHÁP LUẬT MÔI TRƯỜNG VỀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG Ở VIỆT NAM QUA VĂN KIỆN ĐẠI HỘI XI

                                                                   Ths. Bùi Đức Hiển

                                                          Viện Nhà nước và Pháp luật

1. Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ XI bàn về phát triển bàn vững ở Việt Nam

Tư tưởng về phát triển bền vững đã có từ rất sớm trong lịch sử nhân loại. Mặc dù vậy thuật ngữ “phát triển bền vững” mới chính thức xuất hiện lần đầu tiên vào năm 1980 trong ấn phẩm Chiến lược bảo tồn Thế giới của Hiệp hội Bảo tồn Thiên nhiên và Tài nguyên Thiên nhiên Quốc tế (IUCN), đó là: “Sự phát triển của nhân loại không thể chỉ chú trọng tới phát triển kinh tế mà còn phải tôn trọng những nhu cầu tất yếu của xã hội và sự tác động đến môi trường sinh thái học“. Năm 1987 trong Báo cáo Brundtland[1] của Ủy ban Môi trường và Phát triển Thế giới (WCED) tiếp tục chỉ rõ: “Phát triển bền vững là sự phát triển có thể đáp ứng được những nhu cầu hiện tại mà không ảnh hưởng, tổn hại đến những khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai…”. [2]  Nói cách khác, phát triển bền vững phải bảo đảm có sự phát triển kinh tế hiệu quả, đảm bảo an sinh xã hội và môi trường được bảo vệ, gìn giữ.

Ở Việt Nam, trước khi tiến hành sự nghiệp đổi mới đất nước năm 1986, quan niệm về phát triển bền vững nói chung còn mơ hồ, thậm chí coi sự phát triển ồ ạt của các nhà máy, xí nghiệp là biểu hiện sinh động cho sự đi lên chủ nghĩa xã hội[3]. Từ khi tiến hành sự nghiệp đổi mới, sự phát triển, gia tăng nhanh chóng của các nhà máy, xí nghiệp,… bên cạnh những tích cực cũng đã có những tiêu cực tác động đến môi trường sống của con người, ảnh hưởng đến quá trình phát triển lâu bền đất nước. Thời kỳ này, đã có một số nghiên cứu tập trung vào vấn đề phát triển bền vững. Các nghiên cứu này đã kế thừa những quan điểm về phát triển bền vững trong Báo cáo Bruntland cũng như thực tiễn ở Việt Nam và chỉ ra các yếu tố chính cấu thành sự phát triển bền vững gồm: bền vững về kinh tế, về xã hội và về môi trường. Ngoài ra các nghiên cứu còn bổ sung các nhân tố khác, như: văn hóa, chính trị, tinh thần, trí tuệ và chỉ báo quốc tế về phát triển…[4].

Những nghiên cứu này đã được ghi nhận trong Nghị quyết Đại hội Đảng toàn lần thứ IX. Cụ thể trong Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội 2001-2010 và Kế hoạch phát triển kinh tế xã hội 5 năm 2001-2005 đã khẳng định: “Phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững, tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường” “Phát triển kinh tế-xã hội gắn chặt với bảo vệ và cải thiện môi trường, bảo đảm sự hài hoà giữa môi trường nhân tạo với môi trường thiên nhiên, giữ gìn đa dạng sinh học”.

Tuy nhiên, tổng kết 10 năm thực hiện Chiến lược kinh tế – xã hội 2001 – 2010 chỉ ra: “những thành tựu đạt được chưa tương xứng với tiềm năng. Kinh tế phát triển chưa bền vững. Chất lượng tăng trưởng, năng suất, hiệu quả, sức cạnh tranh của nền kinh tế. Tăng trưởng kinh tế vẫn dựa nhiều vào các yếu tố phát triển theo chiều rộng, chậm chuyển sang phát triển theo chiều sâu. Các lĩnh vực văn hóa, xã hội có một số mặt yếu kém chậm được khắc phục, nhất là về giáo dục, đào tạo và y tế; đạo đức, lối sống trong một bộ phận xã hội xuống cấp. Môi trường ở nhiều nơi đang bị ô nhiễm nặng; tài nguyên, đất đai chưa được quản lý tốt, khai thác và sử dụng kém hiệu quả, chính sách đất đai có mặt chưa phù hợp. Thể chế kinh tế thị trường, chất lượng nguồn nhân lực, kết cấu hạ tầng vẫn là những điểm nghẽn cản trở sự phát triển. Nền tảng để Việt Nam trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại chưa được hình thành đầy đủ”.[5]

Do vậy để tiếp tục chiến lược phát triển bền vững, Cương lĩnh xây dựng đất nước thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) định hướng: “phát triển kinh tế là nhiệm vụ trung tâm; thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước gắn với phát triển kinh tế tri thức và bảo vệ tài nguyên, môi trường”. Đặc biệt Cương lĩnh coi “Bảo vệ môi trường là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, của toàn xã hội và nghĩa vụ của mọi công dân. Kết hợp chặt chẽ giữa kiểm soát, ngăn ngừa, khắc phục ô nhiễm với khôi phục và bảo vệ môi trường sinh thái. Phát triển năng lượng sạch, sản xuất sạch và tiêu dùng sạch. Coi trọng nghiên cứu, dự báo và thực hiện các giải pháp ứng phó với quá trình biến đổi khí hậu và thảm họa thiên nhiên. Quản lý, bảo vệ, tái tạo và sử dụng hợp lý, có hiệu quả tài nguyên quốc gia”.

Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội năm 2011 – 2020 chỉ rõ để tiến tới phát triển bền vững, trong 10 năm tới cần: “Chuyển đổi mô hình tăng trưởng từ chủ yếu phát triển theo chiều rộng sang phát triển hợp lý giữa chiều rộng và chiều sâu, vừa mở rộng quy mô vừa chú trọng nâng cao chất lượng, hiệu quả, tính bền vững” mặt khác “Tăng trưởng kinh tế phải kết hợp hài hoà với phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, không ngừng nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân…luôn coi trọng bảo vệ và cải thiện môi trường, chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu”.

Còn trong Phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội 5 năm 2011 – 2015 xác định: “nâng cao ý thức bảo vệ môi trường, gắn nhiệm vụ, mục tiêu bảo vệ môi trường với phát triển kinh tế – xã hội. Đổi mới cơ chế quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường. Đưa nội dung bảo vệ môi trường vào chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển ngành, lĩnh vực, vùng và các chương trình, dự án. Các dự án đầu tư xây dựng mới phải bảo đảm yêu cầu về môi trường. Thực hiện nghiêm ngặt lộ trình xử lý các cơ sở gây ô nhiễm môi trường. Hoàn thiện hệ thống luật pháp về bảo vệ môi trường; xây dựng chế tài đủ mạnh để ngăn ngừa, xử lý các hành vi vi phạm. Khắc phục suy thoái, bảo vệ môi trường và cân bằng sinh thái, nâng cao chất lượng môi trường. Thực hiện tốt chương trình trồng rừng, ngăn chặn có hiệu quả nạn phá rừng, cháy rừng; tăng diện tích các khu bảo tồn thiên nhiên. Quản lý, khai thác và sử dụng có hiệu quả tài nguyên đất, nước, khoáng sản và các nguồn tài nguyên thiên nhiên khác. Hạn chế và tiến tới không xuất khẩu tài nguyên chưa qua chế biến. Chú trọng phát triển kinh tế xanh, thân thiện với môi trường. Thực hiện sản xuất và tiêu dùng bền vững; từng bước phát triển năng lượng sạch, sản xuất sạch, tiêu dùng sạch. Đẩy mạnh xã hội hóa công tác bảo vệ môi trường, phát triển các dịch vụ môi trường, xử lý chất thải. Đẩy mạnh công tác nghiên cứu, dự báo khí tượng thủy văn, biến đổi khí hậu và đánh giá tác động để chủ động triển khai thực hiện có hiệu quả các giải pháp phòng, chống thiên tai và Chương trình quốc gia về ứng phó với biến đổi khí hậu, nhất là nước biển dâng. Tăng cường hợp tác quốc tế để phối hợp hành động và tranh thủ sự giúp đỡ của cộng đồng quốc tế.”

Qua đó có thể thấy, quan điểm về phát triển bền vững được ghi nhận xuyên suốt trong các văn kiện Đại hội Đảng XI. Từ Cưỡng lĩnh phát triển đất nước, Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội 2011 – 2020 cho đến Phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội 5 năm 2011 – 2015 đều chỉ ra để phát triển lâu bền đất nước cần phát triển bền vững về kinh tế, về an sinh xã hội và về môi trường cũng như về văn hóa, chính trị, an ninh, quốc phòng… Đây là cơ sở quan trọng cho việc hoạch định các chiến lược, chính sách, pháp luật về phát triển bền vững trong thời gian tới.

Để thực hiện có hiệu quả các đường lối, chính sách về phát triển bền vững được ghi nhận trong Cương lĩnh, Chiến lược cũng như trong Phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội của Đại hội XI của Đảng thì việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật về kinh tế, pháp luật về an sinh xã hội…, đặc biệt là pháp luật về môi trường đóng vai trò quan trọng[6]. Phát triển bền vững được coi là nguyên tắc quan trọng hàng đầu trong pháp luật bảo vệ môi trường[7]. Một trong những mục tiêu của việc ban hành các văn bản pháp luật môi trường là phục vụ sự nghiệp phát triển lâu bền của đất nước, đáp ứng nhu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá và phát triển bền vững kinh tế – xã hội trước mắt và lâu dài.

2. Pháp luật và thực trạng chính sách, pháp luật môi trường về phát triển bền vững ở Việt Nam

Trong những năm qua, Nhà nước Việt Nam đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến bảo vệ môi trường hướng tới phát triển bền vững, như: Hiến pháp 1992 (sửa đổi năm 2001); Luật Bảo vệ Môi trường (BVMT) năm 2005; Luật Đa dạng sinh học năm 2008; Luật Bảo vệ và phát triển rừng 2004; Bộ luật Hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2009; Luật Khoa học và Công nghệ năm 2000; Luật Thuế tài nguyên 2009; Luật Đất đai (2003); Luật Dầu khí sửa đổi, bổ sung năm 2008; Luật Khoáng sản năm 2010; Luật Tài nguyên n­ước (1998); Luật Doanh nghiệp 2005; Luật Thủy sản 2003; Pháp lệnh Thú y (1993); Pháp lệnh Bảo vệ và kiểm dịch thực vật 2001; Pháp lệnh An toàn và kiểm soát bức xạ năm 1996; Pháp lệnh Phí và lệ phí 2001; Luật Bảo vệ sức khoẻ nhân dân 1989; Luật Đê điều;… Hệ thống các văn bản này đã góp phần tạo lập một khung pháp lý cơ bản cho phát triển bền vững đất n­ước. Trong đó có Luật BVMT năm 2005.

Luật BVMT năm 2005 đã quán triệt, thể chế hoá quan điểm Nghị quyết Đại hội lần thứ IX của Đảng về việc cần thiết phải “phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững, tăng trưởng kinh tế đi đôi với bảo đảm tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường”. Đặc biệt là các quan điểm, chủ trương, nhiệm vụ đã nêu trong Nghị quyết số 41-NQ/TW ngày 15 tháng 11 năm 2004 của Bộ Chính trị về bảo vệ môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước trên cơ sở kế thừa ưu điểm, khắc phục những bất cập của Luật BVMT năm 1993, cụ thể:

Thứ nhất, ngoài việc kế thừa các quy định về phòng, chống, khắc phục ô nhiễm, suy thoái, sự cố môi trường của Luật BVMT năm 1993. Luật BVMT 2005 đề cập nhiều vấn đề mới như: nguyên tắc phát triển bền vững, nguyên tắc bảo đảm quyền được sống trong môi trường trong lành, nguyên tắc coi trọng phòng ngừa, đánh giá môi trường chiến lược (ĐMC). Đưa yêu cầu bảo vệ môi trường vào trong toàn bộ quá trình phát triển từ khâu lập chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển; đến lập, phê duyệt và thực hiện dự án đầu tư cụ thể.[8]. Bên cạnh đó, Luật cũng vừa quy định bảo vệ môi trường theo ngành, lĩnh vực, vừa quy định bảo vệ môi trường theo địa bàn, khu vực.

Thứ hai, ban hành các quy định về bảo tồn thiên nhiên, bảo vệ đa dạng sinh học, phát triển năng lượng sạch, năng lượng tái tạo và sản phẩm thân thiện với môi trường;

Thứ ba, Luật quy định về xã hội hóa hoạt động bảo vệ môi trường nhằm huy động được sự tham gia của toàn dân, toàn xã hội, các thành phần kinh tế, tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp và các cộng đồng dân cư vào việc bảo vệ môi trường. Ví dụ xã hội hóa việc thu gom, vận chuyển rác thải…

Thứ tư, quy định về các công cụ về bảo vệ môi trường; thẩm quyền và trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường; xử lý các hành vi làm ô nhiễm môi trường; bồi thường thiệt hại do hành vi làm ô nhiễm môi trường và hướng dẫn cách thức xác định thiệt hại do hành vi làm suy giảm chức năng tính hữu ích của môi trường…

Những quy định này đã góp phần to lớn vào thúc đẩy phát triển bền vững ở nước ta tạo ra sự gắn kết giữa tăng trưởng kinh tế với bảo vệ môi trường và bảo đảm an sinh xã hội.

Tuy nhiên, thực tiễn thực hiện pháp luật về bảo vệ môi trường cho thấy còn nhiều tồn tại ảnh hưởng đến chiến lược phát triển bền vững của đất nước. Có thể thấy việc phát triển kinh tế – xã hội ở nước ta vẫn còn dựa nhiều vào việc khai thác tài nguyên thiên nhiên; đa phần các hoạt động sản xuất vẫn chỉ dừng ở dạng khai thác các tài nguyên thô để gia công, xuất khẩu như dầu thô, gỗ, than, đá… dẫn đến nhiều nguồn tài nguyên thiên nhiên bị khai thác cạn kiệt[9]. Bên cạnh đó sự phát triển, gia tăng nhanh chóng của các nhà máy, xí nghiệp thiếu quy hoạch, xử lý chất thải…cũng dẫn ô nhiễm môi trường ngày càng trở lên trầm trọng ở nhiều nơi. Có thể kể ra một số vụ việc điển hình như: ô nhiễm môi trường Thạch Sơn, Lâm Thao, Phú Thọ[10], ô nhiễm môi trường sông Thị Vải (Đồng Nai) do Công ty TNHH VEDAN gây ra[11]; hay việc khai thác boxit Tây Nguyên[12] có chứa đựng những nguy cơ ô nhiễm môi trường lớn mà vụ tràn bùn đỏ ở Hungary (một nước có công nghệ, kinh tế phát triển hơn nước ta rất nhiều) thời gian vừa qua là một hồi chuông cảnh báo)[13]… Mặt khác, sự khai thác quá mức của con người đối với thiên nhiên cũng dẫn tới đa dạng sinh học nhiều nơi bị suy giảm nghiêm trọng, nhiều loài động, thực vật cả trên biển lẫn trên cạn có nguy cơ tuyệt chủng. Ví dụ suy giảm đa dạng sinh học rừng Tánh Ninh (Bình Thuận); Rừng U Minh, Cà Mau;… hổ Đông Dương, sếu đầu đỏ, tê giác một sừng có nguy cơ tuyệt chủng… Những hiện thực này là minh chứng tiêu biểu khẳng định sự phát triển chưa bền vững của nước ta những năm vừa qua.

          Sở dĩ có vấn đề như vậy xuất phát từ một số nguyên nhân sau:

Một là, về mặt chính sách, chưa có sự gắn kết chặt chẽ, hữu cơ giữa các chiến lược và chính sách về phát triển kinh tế với chiến lược và các chính sách bảo vệ môi trường. Các cân nhắc môi trường hầu ch­ưa được thể hiện rõ trong quá trình ra quyết định về kinh tế – xã hội.[14].

          Hai là, về pháp luật, nhiều quy định vẫn còn thiếu sự đồng bộ, thống nhất giữa Luật Bảo vệ Môi trường và Luật Đất đai, Luật Đa dạng sinh học, Luật Dầu khí, Luật Bảo vệ và Phát triển rừng[15]. Điều đó dẫn tới khó khăn trong việc thực thi pháp luật liên quan đến vấn đề này.

           Ba là, về khía cạnh tài chính, hiện tại mức đầu tư cho bảo vệ môi trường còn thấp so với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới do vậy khó tập hợp đủ nguồn lực cho hoạt động bảo vệ môi trường. Ở Việt Nam năm 2010 là 0,386 % GDP[16], thấp hơn so với yêu cầu (1%GDP) cũng như so với tổn thất kinh tế do ô nhiễm môi trường gây ra (thí dụ, theo ­ước tính của Ngân hàng thế giới, tổn thất về sức khoẻ ở Việt Nam, vào khoảng 0,3% GDP[17]).

Bốn là, về thực tiễn, các cơ quan quản lý nhà nước về môi trường vẫn chưa hoạt động hiệu quả, chưa có sự gắn kết phối hợp giữa các cơ quan quản lý nhà nước về môi trường ở trung ương và địa phương. Việc xử lý trách nhiệm của các cá nhân, cơ quan nhà nước có thẩm quyền khi không thực hiện đúng chức trách, nhiệm vụ của mình vẫn chưa triệt để…

Năm là, công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức và trách nhiệm BVMT đối với các cơ sở sản xuất kinh doanh, hộ gia đình và cá nhân trong những năm qua còn có bất cập. Ví dụ: theo một nghiên cứu gần đây cho thấy tỷ lệ hiểu biết của người dân về các quy định cấm của Luật Bảo vệ Môi trường còn chưa cao, tỷ lệ người biết chiếm 69,1%, không biết chiếm 30,9%[18].

Để khắc phục những hạn chế, bất cập nêu trên và thực hiện có hiệu quả chính sách về phát triển bền vững được quy định trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (sửa đổi, bổ sung năm 2011, Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội năm 2011 – 2020 và mục tiêu mà Kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội 5 năm 2011 – 2015 đã đề ra[19] cần phải có những giải pháp hoàn thiện chính sách, pháp luật, trong đó có pháp luật về môi trường.

3. Hoàn thiện chính sách, pháp luật về bảo vệ môi trường nhằm đảm bảo phát triển bền vững

Thứ nhất, về chính sách, cần cụ thể hóa các quan điểm, đường lối của Đảng về phát triển bền vững được ghi nhận trong Cương lĩnh phát triển đất nước, Chiến lược phát triển kinh tế xã hội 2011 – 2020 và Kế hoạch phát triển kinh tế xã hội 5 năm 2011 – 2020 vào hệ thống pháp luật từ Hiến pháp đến Luật Bảo vệ Môi trường, Luật Đa dạng sinh học, Luật Đầu tư, Luật Dầu khí, Luật Bảo vệ và Phát triển rừng, Luật Đất đai… Trong đó cần gắn kết chặt chẽ, hữu cơ giữa các chiến lược và chính sách về phát triển kinh tế với chiến lược và các chính sách bảo vệ môi trường. Hơn nữa môi trường cần được xem xét một cách tổng thể trong quá trình xây dựng pháp luật cũng như quá trình lập quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội đến xây dựng các dự án đầu tư cụ thể.

Thứ hai, cần có nghiên cứu tổng thể pháp luật về phát triển bền vững,  tiến hành hệ thống hóa các văn bản pháp luật quy định về vấn đề này nhằm xây dựng các quy định thống nhất, đồng bộ giữa Luật BVMT với các Luật liên quan. Ví dụ: Luật Đa dạng sinh học, Luật Đầu tư, Luật Dầu khí, Luật Bảo vệ và Phát triển rừng, Luật Đất đai… tạo thuận lợi cho quá trình thực thi pháp luật về vấn đề này;

Thứ ba, hoàn thiện các quy định pháp luật về thông tin môi trường, bảo tồn đa dạng sinh học, bảo vệ môi trường lưu vực sông, môi trường biển, ứng phó biến đổi khí hậu. Nghiên cứu ban hành Luật Bảo tồn và bảo vệ môi trường biển; Luật Về Chống Biến đổi khí hậu…nhằm tạo cơ sở pháp lý đồng bộ cho việc trồng rừng, xây dựng các khu bảo tồn biển, góp phần phòng ngừa, ứng phó với biến đổi khí hậu và nước biển dâng. Trong quá trình thực hiện các quy định này, hợp tác quốc tế sẽ đóng vai trò quan trọng đặc biệt là hợp tác bảo vệ môi trường biển, chống biến đổi khí hậu và nước biển dâng nhằm tranh thủ sự giúp đỡ của cộng đồng quốc tế.

Thứ tư, về thực thi các quy định pháp luật về bảo vệ môi trường. Các cơ quan có thẩm quyền cần thực hiện nghiêm chỉnh các quy định pháp luật về bảo vệ môi trường, tăng cường các cơ chế để đôn đốc, kiểm tra, phối hợp giữa các cơ quan cấp trên và cấp dưới. Xử lý kịp thời đối với các cá nhân, cơ quan có thẩm quyền trong quản lý nhà nước về môi trường khi không thực thi đúng và kịp thời chức năng nhiệm vụ của mình. Nâng cao quan trí và trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp cũng như các công dân trong bảo vệ môi trường[20].

Thứ năm, về tài chính, nghiên cứu trình quốc hội xin kinh phí đầu tư cho hoạt động bảo vệ môi trường lên 1,5% đến 2% GDP/năm, nhằm tăng cường đầu tư bảo tồn đa dạng sinh học, chống biến đổi khí hậu và bảo vệ môi trường góp phần vào quá trình phát triển bền vững đất nước[21].

Thứ sáu, cần tuyên truyền, giáo dục nhằm nâng cao ý thức của người dân trong bảo vệ môi trường, đồng thời đề cao trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp trong bảo vệ môi trường vì mục tiêu phát triển đất nước bền vững[22]. Khuyến khích áp dụng các biện pháp phòng ngừa ô nhiễm và sử dụng công nghệ không gây ô nhiễm.


[1] Hay còn gọi là Báo cáo Our Common Future.

[3] Có nhiều tác phẩm thơ, văn cơ ngợi về sự  phát triển của các nhà máy xí nghiệp với các ống khói trọc trời  trong thời kỳ bao cấp là biểu hiện sinh động cho sự phát triển đi lên chủ nghĩa xã hội.

[4] Xem các nghiên cứu “Tiến tới môi trường bền vững” (1995) của Trung tâm tài nguyên và môi trường, Đại học Tổng hợp Hà Nội; Đề tài “Nghiên cứu xây dựng tiêu chí phát triển bền vững cấp quốc gia ở Việt Nam – giai đoạn I” (2003) do Viện Môi trường và phát triển bền vững, Hội Liên hiệp các Hội Khoa học kỹ thuật Việt Nam; Công trình “Đổi mới chính sách xã hội – Luận cứ và giải giải pháp” (1997) của Phạm Xuân Nam.

[5] Xem thêm: Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội năm 2011 – 2020 của Đảng Cộng sản Việt Nam.

[6] Trong bài viết này chủ yếu tập trung vào nghiên cứu pháp luật môi trường liên quan đến phát triển bền vững.

[7] Xem thêm Điều Điều 4 Luật Bảo vệ Môi trường năm 2005.

[8] Xem thêm bài: Nguyên tắc bảo đảm sự  phát triển sự phát triển bền vững của PGS.TS. Phạm Hữu Nghị, Kỷ yếu đề tài cấp Viện Nhà nước và Pháp luật, Hà Nội – 2008.

[9] Xem thêm bài: Nghịch lý nhập khẩu than của tác giả Thu Hà, nguồn: http://tuanvietnam.vietnamnet.vn/2011-06-15-nghich-ly-nhap-khau-than.

[10] Xem bài “Làng ung thư” ở Phú Thọ: Ô nhiễm môi trường nghiêm trọng do tác giả Khiết Hưng. Nguồn: http://tuoitre.vn/Chinh-tri-xa-hoi/Song-khoe/121679/%E2%80%9CLang-ung-thu%E2%80%9D-o-Phu-Tho-O-nhiem-moi-truong-nghiem-trong.html.

[11] Xem loạt bài: Sông Thị Vải bị ô nhiễm: Vedan góp 90% của tác giả  Nguyễn Triều. Nguồn: http://tuoitre.vn/Chinh-tri-Xa-hoi/351986/Song-Thi-Vai-bi-o-nhiem-Vedan-gop-90.html.

[12] Xem bài: Dự án bô xít Tây Nguyên và những quan ngại của tác giả Kỳ Duyên. Nguồn: http://vnexpress.net/gl/kinh-doanh/2010/10/3ba22314/.

[13] Xem bài: Thảm họa tràn bùn đỏ ở Hungary: Bài học cho cả thế giới của tác giả Trần Minh. Nguồn: http://www.cand.com.vn/vi-VN/quocte/2010/10/138547.cand. Cập nhật 15:00:00 17/10/2010.

[14] Xem bài: Hệ thống pháp luật việt Nam với chiến lược phát triển bền vững. Nguồn: Trung tâm Thông tin – Thư viện và Nghiên cứu khoa học (Quốc hội).

[15] Xem bài: Những hạn chế, bất cập cơ bản của luật bảo vệ môi trường năm 2005 và yêu cầu sửa đổi, bổ sung của PGS.TS. Phạm Văn Lợi. Nguồn: http://www.nea.gov.vn/VN/truyenthong/tapchimt/cccs/Pages/.

[16] Theo thông kê về chi tiêu cho bảo vệ môi trường thì: Cao nhất là Jordan (3,7%), tiếp đó là Butan (1,94%), Trung Quốc (1,49%), Đan Mạch 1,09%. Thấp nhất là Ghana (0,02%). Trong khu vực châu Á, cao nhất là Trung Quốc (1,49%), Nhật (0,44%), Hàn Quốc (0,39%). Chi cho môi trường của Việt Nam năm 2010 là 0,386%, cao hơn Lào (0,06%) và Thái Lan (0,2%) http://thoitiet3ngay.com/tin-tuc-su-kien/tin-tuc-trong-nuoc/muc-chi-cho-moi-truong-cua-vn-thap-hon-cac-nuoc.html.

[17] Xem bài: Hệ thống pháp luật việt Nam với chiến lược phát triển bền vững. Nguồn: Trung tâm Thông tin – Thư viện và Nghiên cứu khoa học (Quốc hội).

[18] Xem bài: Những hạn chế, bất cập cơ bản của luật bảo vệ môi trường năm 2005 và yêu cầu sửa đổi, bổ sung của PGS.TS. Phạm Văn Lợi. Nguồn: http://www.nea.gov.vn/VN/truyenthong/tapchimt/cccs/Pages/.

[19] Mục tiêu Kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội 5 năm 2011 – 2015 là: “Cải thiện chất lượng môi trường. Đến năm 2020, tỉ lệ che phủ rừng đạt 45%. Hầu hết dân cư thành thị và nông thôn được sử dụng nước sạch và hợp vệ sinh. Các cơ sở sản xuất kinh doanh mới thành lập phải áp dụng công nghệ sạch hoặc trang bị các thiết bị giảm ô nhiễm, xử lý chất thải; trên 80% các cơ sở sản xuất kinh doanh hiện có đạt tiêu chuẩn về môi trường. Các đô thị loại 4 trở lên và tất cả các cụm, khu công nghiệp, khu chế xuất có hệ thống xử lý nước thải tập trung. 95% chất thải rắn thông thường, 85% chất thải nguy hại và 100% chất thải y tế được xử lý đạt tiêu chuẩn. Cải thiện và phục hồi môi trường các khu vực bị ô nhiễm nặng. Hạn chế tác hại của thiên tai; chủ động ứng phó có hiệu quả với biến đổi khí hậu, nhất là nước biển dâng. Bảo vệ và cải thiện chất lượng môi trường, chủ động ứng phó có hiệu quả với biến đổi khí hậu, phòng, chống thiên tai.”

[20] Xem bài: Nâng cao quan trí của  Lam Dần. Nguồn: http://www.mattran.org.vn/Home/TapChi/So%2060/trang-vh.htm.

[21] Xem bài phát biểu của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường Phạm Khôi Nguyên trong Kết luận Hội nghị Môi trường toàn quốc lần thứ 3 tại Hà Nội năm 2010.

[22] Xem: Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp: Nhận thức và thực tế ở Việt Nam của tác giả Trần Hồng Minh. Nguồn: http://thongtinphapluatdansu.wordpress.com/2009/05/01/2792-2/.

Post a comment or leave a trackback: Trackback URL.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: