Bài viết nhỏ năm 2006

PHÁP LUẬT VỀ HIẾN MÔ, BỘ PHẬN CƠ THỂ NGƯỜI

–                                    NHÌN TỪ GÓC ĐỘ LỊCH SỬ

Bùi Đức Hiển

Viện Nhà nước và Pháp luật 

 Đặt vấn đề

 Luật Hiến, lấy ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác được Quốc hội thông qua năm 2006 là một bước tiến quan trọng đối với sự phát triển của y học nói chung cũng như ngành giải phẫu học nước ta nói riêng trong tiến trình nâng cao chất lượng khám chữa bệnh và bảo vệ sức khỏe nhân dân. Luật ra đời đã tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho việc thực hiện quyền được hiến, được cấy, ghép của người dân một cách hiệu quả đồng thời giúp các cơ sở y tế tiến hành lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể một cách nhanh chóng kịp thời cứu chữa người bệnh cũng như nghiên cứu khoa học. Để nghiên cứu về pháp luật hiến mô, bộ phận cơ thể người chúng ta có thể tiếp cận dưới nhiều góc độ khác nhau như: dưới góc độ kinh tế, văn hóa, tôn giáo hay dưới góc độ triết học… Bài viết này đi sâu vào tìm hiểu phân tích pháp luật về hiến mô, bộ phận cơ thể người dưới góc độ lịch sử, trong đó bài viết đi vào làm rõ tiến trình phát triển những quy định pháp luật về hiến mô, bộ phận cơ thể người ở một số nước trên thế giới cũng như ở Việt Nam. Từ đó thấy được sự kế thừa cũng như phát triển của Luật Hiến, lấy ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác 2006 và qua đó cũng phần nào thấy được sự tương đồng cũng như khác biệt giữa quy định pháp luật nước ta với một số nước trê thế giới về vấn đề này.

1. Lược sử pháp luật về hiến mô, bộ phận cơ thởi một số nước trên thế giới

    a. Từ thế kỷ XIX trở về trước

Cho đến tận cuối những thập niên của thế kỷ XIX trên thế giới vẫn chưa có một văn bản pháp luật nào thừa nhận và quy định về hiến xác, hiến bộ phận cơ thể người điều này cũng dễ hiểu bởi thực tế thời kỳ này, điều kiện kinh tế xã hội, khoa học kỹ thuật còn lạc hậu, chưa cho phép con người có thể thực hiện lấy, ghép bộ phận cơ thể để chữa bệnh. Do vậy pháp luật mặc dù có tính cương lĩnh song nó chưa thể ra đời để điều chỉnh một vấn đề, một quan hệ chưa hoặc rất lâu nữa mới xuất hiện nằm ngoài sự tiên liệu của các nhà làm luật thời đó. Mặt khác do sự quy định khắt khe của tôn giáo, giáo hội và nhà thờ luôn tìm cách cản trở các thành tựu khoa học về Vật lý, Hóa học, Sinh học… nó làm cho việc lấy được bộ phận cơ thể, xác để nghiên cứu đã khó chưa nói đến việc quy định về thừa nhận nó. Bên cạnh đó là do ảnh hưởng của yếu tố văn hóa phong tục, tập quán, sự hiểu biết hạn chế của người dân về vấn đề này cũng cản trở việ thừa nhận và quy định vấn đề này.

Tuy nhiên, trên thực tế thời kỳ này việc hiến, sử dụng xác, bộ phận cơ thể không phải là không có, nhưng không phải vì mục đích cứu chữa bệnh mà vì mục đích nghiên cứu khoa học và hiến tế trong tôn giáo, tiêu biểu việc gây xôn xao trong lịch sử thời kỳ này đó là Lễ hiến tế của người ATECH vào khoảng thế kỷ thứ IV sau công nguyên 20000 người bị hiến tế trong vòng bốn ngày theo tính toán của những nhà nghiên khoa học thì việc hiến tế này là từng người một sẽ bị lấy đi quả tim dùng để hiến tế và họ tính được thời gian để lấy một quả tim ra khỏi lồng ngực mỗi người chỉ mất từ 17s-20s còn lại hơn một phút để thực hiện nghi lễ ([1]). Bên cạnh đó nhiều nhà khoa học cũng quan tâm đến cấu tạo bên trong cơ thể người, lấy xác người để nghiên cứu giải phẫu mà gắn liền với tên tuổi nhà bác học, nhà giải phẫu học Nêonladevanhxi…

    b. Từ cuối thế kỷ XIX đến nay

    Sau khi cách mạng tư sản giành thắng lợi, các nhà nước tư sản đã tiến hành xóa bỏ những rào cản kinh tế của chế độ phong kiến, thúc đẩy kinh tế phát triển, tự do hóa cạnh tranh thời kỳ này nhiều ngành khoa học cũng được đẩy mạnh phát triển trong đó có việc nghiên cứu về cơ thể con người để phục vụ cho việc phát triển kỹ thuật ghép mô, ghép tạng tìm ra cách cứu chữa một số bệnh hiểm nghèo như: gan, thận, tim, phổi…và để vệc nghiên cứu được thuận lợi và có hiệu quả, điều đầu tiên các Nhà nước này làm là tạo hành lang pháp lý thuận lợi cho vấn đề này, tiêu biểu là các nước như: Anh, Đan Mạch, Hy Lạp.

ở Pháp việc ghép thận lấy từ thận của tử thi được thực hiện từ năm 1952, việc ghép tim và ghép gan lấy từ tử thi cũng đã triển khai từ năm 1967, 1968. Pháp luật của Pháp cho phép một số các bệnh viện do Bộ trưởng Bộ Y tế quyết định được phép tiến hành mổ tử thi và lấy các bộ phận cơ thể người nhằm mục đích điều trị đồng thời quy định việc xác định chết não phải được 2 thầy thuốc xác nhận. Pháp luật về hiến xác, bộ phận cơ thể ở Pháp quy định rất cụ thể: công dân Pháp từ đủ 13 tuổi trở lên là có quyền đăng ký từ chối hiến xác, bộ phận cơ thể sau khi chết, sở dĩ pháp luật Pháp có quy định như vậy bởi nước này họ theo cơ chế suy đoán sự đồng ý tức là khi cơ quan có thẩm quyền phát hiện ra một người bị chết thì họ sẽ kiểm tra xem người đó có thẻ từ chối hiến hay không, nếu họ không có thì đương nhiên suy đoán rằng người đó đồng ý hiến xác, bộ phận cơ thể của họ cho y học, ở Pháp người ta thực hiện cơ chế này có hiệu quả bởi vỡ:

    + Pháp là một nước có nền kinh tế phát triển, người dân Pháp có trình độ dân trí cũng như pháp lý rất cao, họ không chỉ nhận thức được khi họ còn sống mà còn lường trước cả khi họ đã mất đi thì bộ phận cơ thể của họ vẫn còn có ích đối với người bệnh. Họ dễ dàng chấp nhận và thích ứng được phương pháp suy đoán này một cách hiệu quả.

    + ở Pháp có hệ thống y tế hiện đại, cũng như đội ngũ cán bộ y tế trình độ cao trong việc thực hiện hiến lấy ghép mô, bộ phận cơ thể.

    + ở Pháp có hệ thống y tế thông tin liên lạc bằng hệ thống vi tính rất tiên tiến và tất cả việc đăng ký từ chối hiến bộ phận cơ thể được đưa nên mạng và các cán bộ có thể kiểm tra thông tin về người hiến bất cứ lúc nào.

Bên cạnh đó pháp luật của Pháp còn quy định rất cụ thể về các nguyên tắc trong hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể, các điều kiẹn về sức khỏe khả năng nhận thức đối với người hiến, điều kiện đối với cơ sở y tế có thẩm quyền lấy, ghép; về ngân hàng mô; về việc giữ bí mật danh tính của người hiến cũng như người nhận[2]…đồng thời pháp luật nước này cấm không được buôn bán mô, bộ phận cơ thể người vì mục đích thương mại vì họ cho rằng nó sẽ làm mất đi đạo đức, tình cảm giữa con người với con người.

ở các nước châu Âu khác, các quy định pháp luật về hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người đã được triển khai sớm, tạo điều kiện thuận lợi cho ngành phẫu thuật ghép mô, bộ phận cơ thể người phát triển một cách mạnh mẽ vào những thập kỷ gần đây như ở: vương quốc Anh năm 1961, Đan Mạch, Italia năm 1967, Na Uy năm 1973, Thuỵ Điển năm 1975; Hy Lạp năm 1983.

Tại các nước châu á, từ năm 1959 đến nay, nhiều nước như: Thái Lan, Hồng Kông, Đài Loan, Nhật Bản, Philippine, Singapore, Malaysia, Indonesia đã có các quy định của pháp luật về chết não và cho phép tiến hành lấy các mô, bộ phận cơ thể người ở tử thi để ghép. Số bệnh nhân được ghép mô, bộ phận cơ thể người ngày một nhiều và số các bệnh viện được tổ chức tiến hành ghép ở các nước này đã tăng lên nhanh chóng.[3]

 ở Mỹ do là nước có nền kinh tế phát triển hàng đầu thế giới nên vấn đề chăm sóc sức khỏe cho con người đặc biệt được chú trọng, các bệnh hiểm nghèo liên quan đến bộ phận cơ thể người như thận, gan, tim… luôn được các nhà khoa học Mỹ nghiên cứu và áp dụng vào thực tiễn cuộc sống để cứu chữa người bệnh, do vậy ở đây đã sớm thừa nhận quyền hiến xác; hiến bộ phận cơ thể người và việc thừa nhận này đáp ứng được nhu cầu ngày càng lớn của người dân về cấy, ghép mô, bộ phận cơ tthể hiện. ở Mỹ ngay từ năm 2004 người ta đã tranh luận rất gay gắt về việc có nên thương mại hóa thị trường mô, tạng như một số nước và chuẩn bị ban hành luật nhằm thừa nhận thị trường mua bán mô, tạng. Theo tác giả dự luật này sẽ sớm được thông qua trong tương lai gần.

  Ngoài ra có một số Quốc gia do sự phát triển của kỹ thuật cấy, ghép mô, tạng họ đã không chỉ thực hiện ghép tạng cho nhu cầu trong nước mà còn phục vụ cho bất cứ ai có nhu cầu. Theo báo cáo của Tổ chức Phi Chính phủ Annes Internation và Orans Watch thì 10 nước trên Thế giới đã có dịch vụ ghép tạng đó là Braxin, Bungari, Haiti, ấn độ, Mêxico, Môndova, Mozambique, Pakistan, Paragoay, Pêru, Elsanvado, Thổ Nhĩ kỳ ([4]). Qua đó ta có thể gián tiếp thấy ở những nước này các đặc điểm sau:

    – Hệ thống cơ sở y tế, kỹ thuật phục vụ cho việc nhận xác và việc cấy, ghép bộ phận cơ thể người rất phát triển;

– Quy định pháp luật ở các nước trên về vấn đề, hiến cấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người là tương đối hoàn thiện và phát triển;

    – ở các nước này nguồn mô, tạng để cấy ghép tương đối dồi dào, sẵn sàng đáp ứng nhu cầu của người bệnh trong nước cũng như người bệnh ở các nước khác, vậy nguồn mô tạng này họ có thể lấy ở đâu? Qua các phương tiện thông tin đại chúng và qua Internet ta có thể thấy được họ có thể lấy từ những người hiến ở trong nước hoặc ở nước ngoài, một số nước thì hợp pháp hóa thị trường mua bán mô tạng. Ngoài ra họ còn có dịch vụ cấy, ghép cho những người mua bán tạng ở nước khác đến để ghép. Ví dụ một người Israen trả tiền cho môi giới mua một quả thận của một người ấn độ nhưng lại đến ghép ở Thổ Nhĩ Kỳ ([5]).

 Qua đó ta thấy tiến trình phát triển và những quy định phápluật của một số nước trên Thế giới được thừa nhận từ rất sớm và tương đối hoàn chỉnh và ngày càng phát triển. Còn ở Việt Nam thì tiến trình lịch sử phát triển quy định pháp luật về vấn đề này ra sao chúng ta hãy cùng tìm hiểu.

2. Tiến trình phát triển của pháp luật về hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể ở nước ta

a. Từ năm 1980 trở về trước

Từ năm 1980 trở về trước, trong thời kỳ phong kiến mặc dù có rất nhiều Bộ luật nổi tiếng ra đời để điều chỉnh các quan hệ xã hội tiêu biểu như: Bộ luật Hồng đức, Bộ luật Gia long, thời kỳ Pháp thuộc có Bộ Dân luật Nam kỳ giản yếu 1883; Dân luật Bắc kỳ 1936; Bộ Dân luật Trung kỳ 1936. Tuy vậy, chưa có một văn bản pháp luật nào thừa nhận và  quy định về hiến xác; hiến bộ phận cơ thể người và thực tế thời kỳ này cũng cho thấy hầu như không có trường hợp nào được lấy, ghép bộ phận cơ thể vì mục đích chữa bệnh. Có chăng chỉ có cấy ghép đơn giản như cấy, ghép da…do các bác sĩ người Pháp thực hiện hoặc việc sử dụng xác tử thi vô thừa nhận để nghiên cứu khoa học, giảng dạy ở các Trường, Khoa y của Pháp đặt tại ViệtNammà thôi. Sở dĩ như vậy là do:

– Thời kỳ này các thành tựu về giải phẫu học trên thế giới cũng như ở ViệtNamhầu như chưa thực hiện được việc lấy và ghép mô tạng;

– Do khuôn phép lễ nghi phong kiến, đạo đức phong kiến đặc biệt là phong tục ma chay của người Việt Namnhư: chết phải toàn thây nó không cho phép người ta thực hiện quyền này do đó việc hiến tặng bộ phận cơ thể người sẽ trái với quan niệm này của người Việt;

– Nước ta mặc dù là nước có nền y học cổ truyền rất phát triển song về giải phẫu học ở nước ta trong thời kỳ này hầu như còn mờ nhạt mặc dù cũng có một số người quan tâm nghiên cứu về vấn đề này nhưng số đó chỉ đếm trên đầu ngón tay;

– Do ảnh hưởng của chiến tranh Nhà nước cũng như toàn dân phải gồng mình nên đầy mạnh sản xuất đấu tranh để chiến thắng kẻ thù nhằm giải phóng dân tộc. Do đó vấn đề này đã bị lãng quên trong thời gian khá dài nên quyền này đã không được quy định trong suốt những thời kỳ này.

b. Thời kỳ từ cuối thập niên 1989 đến nay

Từ những năm đầu của thập kỷ 70 nước ta đã có những ca ghép bộ phận cơ thể người đầu tiên như: ghép da, ghép giác mạc…và đặc biệt là việc ghép thực nghiệm về gan và tim gắn liền với tên tuổi của Giáo sư Tôn Thất Tùng và một số Bác sĩ khác đến cuối thập niên 80 và những năm đầu thập niên 90 do nhu cầu về ghép mô, bộ phận cơ thể tăng mạnh. Mặt khác do thực tế những ca ghép thử nghiệm về thận, gan… đã cho những kết quả đáng mừng và để tạo hành lang pháp lý cho việc lấy ghép mô, bộ phận cơ thể người có hiệu quả thì thời kỳ này Nhà nước ta cũng có quy định về vấn đề này trong Điều 30 Luật Bảo vệ sức khỏe nhân dân 1989.

1- Thầy thuốc chỉ được tiến hành lấy mô, bộ phận của cơ thể người chết dùng vào mục đích y tế sau khi đã được sự đồng ý của người cho, của thân nhân người chết hoặc người chết có di chúc để lại.

     2- Việc ghép mô hoặc bộ phận cơ thể cho người bệnh phải được sự đồng ý của người bệnh hoặc thân nhân hay người giám hộ của người bệnh chưa thành niên.

      3- Bộ y tế quy định chế độ chăm sóc sức khỏe người cho mô hoặc bộ phận cơ thể

Nghiên cứu quy định trên chúng ta thấy Luật chỉ gián tiếp quy định về điều kiện lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người, khi còn sống cũng như sau khi chết thông qua việc quy định về điều kiện đối với cơ sở y tế trong quá trình tiến hành lấy mô, bộ phận cơ thể người, đó là: thứ nhất, cơ sở y tế chỉ được lấy mô, bộ phận cơ thể của người sống trong trường hợp người đó tự nguyện hiến; thứ hai là, đối với việc lấy mô, bộ phận cơ thể của người chếluật, cơ sở y tế có thẩm quyền chỉ được lấy khi có một trong hai điều kiện: hoặc người chết có di chúc để lại hoặc người chết không có di chúc để lại, nhưng được sự đồng ý hiến của thân nhân người chết. Bên cạnh đó Luật này cũng quy định về điều kiện đối với việc ghép mô, bộ phận cơ thể người là phải được sự đồng ý của người người ghép. Qua phân tích các quy định pháp luật trên, chúng ta thấy Luật Bảo vệ sức khỏe nhân dân quy định về vấn đề hiến, ghép mô, bộ phận cơ thể người còn rất chung chung, hầu như là những quy định mang tính thủ tục. Tuy vậy, vấn đề này đã tiếp tục được cụ thể hóa trong trong Điều lệ Khám chữa bệnh và phục hồi chức năng số 23-HĐBT ngày 24/1/1991 về lấy và ghép mô, bộ phận cơ thể người Điều 10:

    “1- Việc lấy mô, bộ phận cơ thể người sống phải được người đó tự nguyện và viết thành văn bản.

     2- Việc lấy mô, bộ phận cơ thể người được tiến hành trong các trường hợp:

    – Người chết có di chúc để lại sự đồng ý cho mô hoặc bộ phận cơ thể của họ.

    – Người chết không có di chúc nhưng được thân nhân người chết đồng ý cho bằng văn bản.

    – Người chết vô thừa nhận.

     3- Cơ quan y tế được quyền tiếp nhận, bảo quản và sử dụng mô hoặc bộ phận cơ thể người.

     4- Các thủ tục, tiến hành ghép mô hoặc một bộ phận cơ thể con người được tiến hành như các trường hợp phẫu thuật ghi trong Điều 8 của điều lệ này.

    5- Cơ sở y tế tiến hành lấy mô, hoặc một bộ phận cơ thể của người cho có trách nhiệm chăm sóc sức khỏe cho họ trước, trong và sau khi lấy.

    Nghị định này bên cạnh việc quy định về điều kiện lấy mô, bộ phận cơ thể theo Luật Bảo vệ sức khỏe nhân dân thì có quy định cụ thể hơn đó là: thứ nhất, Nghị định chỉ rõ trường hợp người chết mà không có di chúc để  lại, nhưng được sự đồng ý hiến của gia đình thì sự đồng ý đó phải được thể hiện bằng văn bản thì cơ sở y tế có thẩm quyền được tiến hành lấy xác, bộ phận cơ thể; thứ hai, Nghị định quy định thêm cơ sở y tế được phép sử dụng mô, bộ phận cơ thể từ những tử thi vô thừa nhận để cứu chữa cho người bệnh đồng thời Nghị định này có quy định một số thủ tục tiến hành lấy ghép mô, bộ phận cơ thể (Điều 8). Qua đó ta thấy thời kỳ này Nhà nước ta đã bước đầu có những quy định tạo hành lang pháp lý cho việc thực hiện cấy, ghép bộ phận cơ thể người nhằm đáp ứng yêu cầu cứu chữa người bệnh. Có thể nói thành công trong việc cấy ghép bộ phận cơ thể người là một thành công rất lớn của ngành y tế nước ta đem lại hy vọng cho hàng nghìn bệnh nhân đang chờ được ghép mô, bộ phận cơ thể người để kéo dài sự sống, việc quy định về cấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người cùng với thực tiễn thực hiện quyền này sẽ giúp quy định pháp luật về vấn đề này sớm được hoàn thiện trong tương lai. Tuy nhiên, trong các văn bản pháp luật này quy định còn khái quát, chỉ mang tính nguyên tắc chưa cụ thể và chưa có quy định về hiến xác, hiến bộ phận cơ thể sau khi chết, chưa có quy định về chết não, về độ tuổi, sức khỏe của người hiến, người nhận, điều kiện với cơ sở y tế có thẩm quyền lấy, ghép…do đó gây rất nhiều khó khăn trong quá trình thực hiện vấn đề này.

    Trong  quá trình xây dựng đất nước đời sống của nhân dân ngày càng nâng cao, quyền được bảo đảm an toàn tính mạng sức khoẻ ngày càng được củng cố và nó được Nhà nước bảo hộ, tuy nhiên quy định đó cũng không phải là mới đối với thế giới và đối với Việt Nam, nhưng điều đáng nói là lần đầu tiên trong Bộ luật Dân sự 2005 đã đề cập đến một vấn đề hoàn toàn mới mà từ khi khai Quốc đến nay vấn đề này còn bỏ ngỏ và chưa được quy định. Trong Bộ luật đã đề cập đến hai quyền mới đó là quyền hiến bộ phận cơ thể người khi còn sống (Điều 33) và quyền hiến xác, hiến bộ phận cơ thể người sau khi chết (Điều 34), ngoài ra để đảm bảo thực hiện quyền này có hiệu quả Luật cũng quy định quyền nhận bộ phận cơ thể người Điều 35.

Tại Điều 33 của Bộ luật Dân sự 2005: “Cá nhân có quyền hiến bộ phận cơ thể của mình cho người khác vì mục đích chữa bệnh và nghiên cứu khoa học . Việc hiến bộ phận cơ thể người được thực hiện theo quy định của pháp luật” đây là một trong những quy định rất mới và tiến bộ của Bộ luật Dân sự 2005, nó cho thấy luật càng ngày càng gắn liền với thực tiễn hơn, thể hiện được tư duy, quan điểm của các nhà làm luật trong suốt 20 năm đổi mới đất nước, đó là ngày càng hoàn thiện hơn nữa quyền nhân thân của con người và đáp ứng được yêu cầu bảo vệ sức khỏe nhân dân trong bối cảnh hội nhập quốc tế. Đặc biệt là khi nước ta đã chính thức là thành viên của WTO ngày 08/10/2006 nên cần phải có những quy định phù hợp với các Điều ước quốc tế, nhưng cũng phải phù hợp với hoàn cảnh trong nước.

Do đó việc quy định quyền này trong Bộ luật Dân sự là cơ sở pháp lý vững chắc để Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người ra đời để điều chỉnh một cách toàn diện về vấn đề này. Khi Luật này ra đời sẽ tạo ra hành lang pháp lý giúp chữa trị tốt hơn cho người bệnh đồng thời cung cấp đủ nguồn mô tạng phục vụ cho hoạt đông giảng dạy cũng như nghiên cứu khoa học hiệu quả trong tương lai.

Cũng giống như Điều 33, quyền hiến xác, hiến bộ phận cơ thể người sau khi chết (Điều34) cũng chỉ được sử dụng vào hai mục đích chữa bệnh và nghiên cứu khoa học. Nếu coi cứu chữa người bệnh là mục đích hiện tại thì nghiên cứu khoa học là mục đích lâu dài để tìm ra nguyên nhân của những căn bệnh hiểm nghèo từ đó đưa ra những giải pháp để ngăn ngừa bệnh tật đồng thời giúp cứu chữa người bệnh có hiệu quả đem lại và kéo dài sự sống cho họ Tuy nhiên, hiến xác, bộ phận cơ thể quy định tại Điều 34 khác với hiến mô, bộ phận cơ thể (Điều 33) ở chỗ: thứ nhất, ngoài việc hiến bộ phận cơ thể là việc hiến xác sau khi chết (tức là toàn bộ thi thể người chết). Đây là một quy định rất đặc biệt và có ý nghĩa quan trọng trong việc tăng cường nguồn cung cấp về mô, tạng để cứu người và tạo điều kiện thuận lợi cho các Trung tâm Y học có nguồn xác, bộ phận cơ thể người phong phú để nghiên cứu khoa học và giảng dạy đồng thời thúc đẩy ngành giải phẫu học phát triển mạnh hơn nữa trong tương lai; thứ hai, về sức khoẻ đối với người hiến thì trường hợp hiến mô, bộ phận cơ thể khi còn sống cần phải đảm bảo tố đa sức khoẻ cho người hiến, thì hiến xác, bộ phận cơ thể sau khi chết vấn đề này lại không đặt ra; thứ ba, về thời điểm cho và nhận bộ phận cơ thể, Điều 33 quy định việc hiến, nhận bộ phận cơ thể khi còn sống còn Điều 34 quy định việc hiến, nhận xác, bộ phận cơ thể người sau khi người đó đã chết. Vấn đề đặt ra là việc xác định thời điểm chết, khi nào một người được coi là chết đây là vấn đề rất quan trọng đòi hỏi các nhà làm luật hết sức lưu tâm.

Sẽ là không hoàn thiện nếu như BLDS 2005 chỉ quy định về quyền hiến xác; bộ phận cơ thể người. Hiến bộ phận cơ thể và nhận bộ phận cơ thể là hai mặt có mối quan hệ qua lại lẫn nhau. Nếu hiến là cho thì nhận là quyền tất yếu phải tồn tại. Điều 35 BLDS 2005 quy định “Cá nhân có quyền nhận bộ phận cơ thể người khác để chữa bệnh cho mình”. Quyền nhận mô, bộ phận cơ thể người liên quan mật thiết với hoạt động lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể. Mà lấy mô, bộ phận cơ thể người được hiểu là việc tách mô, bộ phận cơ thể người khi còn sống hoặc sau khi người đó chết, còn ghép mô, bộ phận cơ thể người là việc cấy ghép mô hoặc bộ phận cơ thể tương ứng của người hiến sang cơ thể người được ghép.

Trong Điều 35 (BLDS 2005) quy định chỉ cho phép cá nhân nhận bộ phận cơ thể để chữa bệnh cho mình, nhưng Điều 33 lại thừa nhận việc hiến bộ phận cơ thể ngoài mục đích chữa bệnh ra còn có mục đích nghiên cứu khoa học, nhưng tại sao Luật không quy định ai có quyền nhận bộ phận cơ thể để nghiên cứu khoa học, mặt khác một câu hỏi đặt ra là tại sao Điều 35 không quy định cá nhân có quyền nhận bộ phận cơ thể để nghiên cứu khoa học trong trường hợp cá nhân đó là một nhà khoa học, có đầy đủ trang thiết bị y tế để phục vụ mục đích nghiên cứu khoa học và quy trình nghiên cứu của họ đảm bảo đầy đủ điều kiện do Bộ Y tế quy định liệu họ có được nhận bộ phận cơ thể người để thực hiện mục đích đó không? Đây là vấn đề mà các nhà lập pháp phải lưu tâm khi soạn thảo và hoàn thiện Luật hiến, lấy ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác. Theo tác giả sở dĩ Bộ luật có quy định cá nhân chỉ được nhận bộ phận cơ thể người vì mục đích chữa bệnh vì:

– Căn cứ vào hoàn cảnh thực tế của nước ta chưa có cá nhân nào có thể đủ trình độ cũng như kỹ thuật để có thể nhận mô, bộ phận cơ thể người để nghiên cứu một cách độc lập mà thường nghiên cứu theo nhóm dưới danh nghĩa một tổ chức hay Trung tâm y tế nào đó do Nhà nước thành lập.

– Mặt khác khi ta thừa nhận vấn đề này cho cá nhân thì các nhà làm luật lo ngại việc những nhà nghiên cứu này sẽ lợi dụng, sử dụng không đúng mục đích vì chưa có cơ chế cần và đủ để để có thể quản lý được vấn đề này vốn dĩ đã phức tạp và rất nhạy cảm.

Do vậy quy định của Bộ luật trong thời điểm này là hợp lý, nhưng tương lai chúng ta cũng cần xem xét cá nhân có thể được nhận bộ phận cơ thể để nghiên cứu khoa học khi mà trình độ của các chuyên gia y tế và điều kiện kỹ thuật đã cho phép thực hiện được điều đó. Điều quan trọng là chúng ta phải tạo ra những hành lang pháp lý thuận lợi cho đội ngũ cán bộ y tế, những nhà khoa học phát huy được tối đa khả năng của mình xong cũng phải đảm bảo sự quản lý của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền và không trái với đạo đức xã hội.

Điều 35(BLDS 2005) nghiêm cấm sử dụng bộ phận cơ thể vì mục đích thương mại và vấn đề này trên thực tế còn nhiều quan điểm: quan điểm của một số nước như: Pháp, Đức là không thừa nhận việc hiến xác, hiến bộ phận cơ thể người vì mục đích thương mại vì họ không coi bộ phận cơ thể người là hàng hoá do đó đương nhiên là không được trao đổi mua bán trên thị trường. Mặt khác họ cho rằng nếu thừa nhận việc trao đổi mua bán mô, tạng trên thị trường sẽ trái với đạo đức xã hội làm rạn vỡ tình cảm giữa con người với con người.

Bên cạnh đó thì có quan điểm khác cho rằng nên thừa nhận việc hiến mô, tạng vì mục đích thương mại, họ cho rằng đó là quyền của mỗi cá nhân, khi họ cho đi một phần bộ phận cơ thể, họ có quyền nhận lại một lợi ích vật chất nhất định đó là quyền hoàn toàn chính đáng và đảm bảo người mua, kẻ bán, người trung gian đều có lợi trong vấn đề này. Mặt khác nhu cầu về ghép bộ phận cơ thể trên thực tế là rất lớn, nhiều người sẵn sàng bỏ tiền ra để có được thứ mình cần([6]) quan điểm này có vẻ giống với với quan điểm của một số nước như: Mỹ, Iran… ở đó do văn hoá người dân ở đây họ sống rất thực dụng và ở các nước này đã hình thành thị trường mô, tạng mà mọi người có thể trao đổi mua bán. Theo nhà kinh tế học đạt giải Nobel 2003 Gary Baker, ông tính mỗi xác người ở Mỹ có giá khoảng 220.000USD, mỗi quả thận có giá vào khoảng 45.000 USD trên thị trường Mỹ và dưới 20.000USD ở Trung quốc nơi mà người ta có thể mua một lá gan với giá 40.000USD và noãn cầu với giá 5.000USD ([7]).

Bên cạnh hai quan điểm trên có quan điểm dung hoà hơn là họ cho rằng nên thừa nhận việc hiến xác, hiến bộ phận cơ thể người vì mục đích thương mại, nhưng trong một giới hạn nhất định, trong những trường hợp nhất định để lập luận cho quan điểm của mình họ đưa ra ví dụ như: một người phạm một tội đặc biệt nghiêm trọng họ bị Toà án tuyên tử hình mà gia đình họ rất khó khăn cha mẹ họ già cả không có khả năng lao động, họ muốn bán bộ phận cơ thể mình để lấy một khoản tiền nhất định đền đáp công ơn nuôi dưỡng của cha mẹ mà họ đã không thực hiện được, đương nhiên việc bán này phải được giữ bí mật.

 Mặt khác họ biện luận rằng pháp luật cấm hiến mô, tạng vì mục đích thương mại, nhưng tính khả thi không cao vì bây giờ giữa người cho và người nhận họ thoả thuận với nhau, anh bán tạng cho tôi, tôi sẽ trả anh một khoản tiền nhất định, nhưng để che giấu pháp luật họ thể hiện thể hiện ra ngoài là hiến một cách tự nguyện không cưỡng ép, ép buộc trong dân sự gọi đây là hợp đồng giả tạo và trái pháp luật vì bộ phận cơ thể người không phải là đối tượng của hợp đồng mua bán hàng hoá, biết là trái pháp luật nhưng liệu có kiểm soát được không?. Do đó chúng ta cần có cái nhìn đa diện về vấn đề này, đây là những vấn đề thực tế mà nhà làm luật cần xem xét để có được lựa chọn phù hợp.

Còn theo tác giả việc quy định trong Bộ luật Dân sự 2005 về nghiêm cấm việc nhận sử dụng bộ phận cơ thể người vì mục đích thương mại là hợp lý hơn cả. Bởi vì việc mua, bán sử dụng bộ phận cơ thể người vì mục đích thương mại có thể phù hợp với một số nước nư Mỹ, Iran…, nhưng nếu quy định cho, hiến xác, bộ phận cơ thể người vì mục đích thương mại ở Việt Nam thì không phù hợp bởi:

– Đó là sự tương thân, tương ái, lá lành đùm lá rách, lá rách ít đùm lá rách nhiều, con người sống với nhau rất tình cảm điều này được thể hiện rất rõ khi có phong trào phát động nhân dân quyên góp giúp đỡ người nghèo như ngày vì người nghèo hay cuộc vận động nhân dân quyên góp giúp đỡ, ủng hộ những người bị nhiễm chất độc màu da cam cải thiện đời sống và đấu tranh đòi công lý, đòi quyền lợi chính đáng của mình… Do đó nếu ta làm tốt công tác tuyên truyền cho người dân hiểu được vai trò ý nghĩa của việc hiến xác, bộ phận cơ thể người thì tác giả tin rằng sự ủng hộ của người dân không chỉ trên lời nói mà bằng cả hành động sẵn sàng hiến.

– Bộ phận cơ thể người mặc dù có tính giá trị và giá trị sử dụng nhưng nó không phải là cái con người có thể tạo ra trong quá trình sản xuất mà đó là tạo hoá ban tặng cho mỗi người và nó tạo thàmh sự thống nhất của cơ thể con người để con người có thể tồn tại và phát triển bình thường, nó gắn liền với quyền nhân thân của mỗi người do đó nó không được coi là hàng hoá như vậy nó đương nhiên là không được phép trao đổi mua bán trên thị trường vì mục đích thương mại.

– Về mặt thuật ngữ bản thân từ “hiến” cũng thể hiện rõ tính tự nguyện của việc hiến xác, hiến bộ phận cơ thể người mà không cần đòi hỏi bất kỳ sự trao đổi lợi ích vật chất nào do đó đã nói đến hiến thì không thể vì mục đích thương mại mà vì mục đích cao quý hơn rất nhiều đó là nhằm cứu chữa người bệnh hoặc vì mục đích phục vụ sự nghiệp nghiên cứu y học tìm ra những phương thức để phòng, chữa trị cho những người mắc bệnh hiểm nghèo.

Nói đến vấn đề này tác giả cũng muốn nói thêm rằng chúng ta không nên đồng nhất tính thương mại của việc hiến xác, bộ phận cơ thể người với việc người hiến xác, bộ phận cơ thể được đền bù một lợi ích nhất định đây là hai vấn đề đều đem lại lợi ích cho người hiến xác, bộ phận cơ thể người, tuy nhiên hai vấn đề này nó lại tác động theo hai hướng khác nhau, nếu hiến xác, bộ phận cơ thể người vì mục đích thương mại không phù hợp với văn hoá và đạo đức xã hội của nước ta, thậm chí là trái pháp luật và tạo ra những tác động xấu đối với đời sống đối với đời sống xã hội và tới hoạt động quản lý việc hiến xác, hiến bộ phận cơ thể người. Ngược lại việc đền bù cho người hiến xác, bộ phận cơ thể người hoàn toàn phù hợp với truyền thống văn hoá, đạo đức của người Việt Nam.

 Bởi vì việc đền bù cho người hiến mô, tạng ở đây không phải là việc trả tiền hay lợi ích khác để lấy bộ phận cơ thể của người hiến mà là đền bù cho sự đồng ý của người hiến nên sự đền bù đó có thể là một khoản tiền để người hiến điều trị, phục hồi sức khoẻ, sự đền bù cũng có thể là người hiến bộ phận cơ thể sẽ được ưu tiên nếu phải cấy ghép bộ phận cơ thể ví dụ A hiến một quả thận sau đó A bị bệnh gan cần được ghép gan thì A sẽ là người được ưu tiên ghép trước người khác hoặc người hiến bộ phận cơ thể sẽ được bệnh viện nơi lấy bộ phận cơ thể đó chăm sóc sau khi hiến hoặc cũng có thể người thân thích của người hiến được khám chữa bệnh, được miễn giảm viện phí…Do đó ta thấy sự đền bù này nó mang tính nhân văn rất cao và nó khuyến khích mọi người tham gia hiến bộ phận cơ thể để cứu người. Qua đó tác giả kiến nghị các nhà làm luật cũng nên xem xét cân nhắc về vấn đề này để có quy định phù hợp với hoàn cảnh thực tế của nước ta.

 Qua phân tích như trên, chúng ta thấy việc quy định quyền hiến xác, bộ phận cơ thể người là một bước tiến vượt bậc về năng lực lập pháp cũng như sự phát triển của y học nước ta về hiến, lấy ghép xác, bộ phận cơ thể người. Tuy nhiên, việc thừa quy định quyền này ở BLDS 2005 mới chỉ chung chung, còn nhiều vấn đề đặt ra phải giải quyết để luật có thể đi vào cuộc sống như:

– Chưa có quy định cụ thể về điều kiện một người được hiến mô, bộ phận cơ thể, hiến xác sau khi chết, điều kiện để coi một người là chết não…

– Chưa có quy định về điều kiện đối với cá nhân được nhận bộ phận cơ thể sau khi chết, tổ chức được nhận xác sau khi chết.

– Chưa có quy định pháp luật về cơ chế, hiến bộ phận cơ thể dựa trên sự chủ động hay suy đoán sự đồng ý của người hiến, trong trường hợp nào cần có sự đồng ý của gia đình hoặc người giám hộ.

– Chưa có quy định về vấn đề tài chính, bảo hiểm để thực hiện quyền hiến, nhận xác, bộ phận cơ thể người.

– Chưa có quy định về cơ sở y tế trang thiết bị như thế nào để có thể thực hiện ghép mô, tạng, chưa có quy định về thành lập ngân hàng mô, tạng để chữa bệnh một cách kịp thời cho người bệnh trong trường hợp khẩn cấp.

– Chưa có quy định về chế độ đãi ngộ đối với người cho, Bác sĩ tiến hành giải phẫu cũng như chưa quy định về biện pháp tuyên truyền, giáo dục ý thức pháp luật và vai trò của hiến mô, tạng trong nhân dân…

– Chưa có quy định về nghi thức cũng như thủ tục về ma chay với những người hiến bộ phận cơ thể sau khi chết hoặc khi đã sử dụng xong bộ phận cơ thể của họ và rất nhiều vấn đề khác nữa Bộ luật cũng chưa đề cập đến, do đó vấn đề này phải được quy định trong Luật Hiến, lấy ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác.

Luật Hiến, lấy ghép mô, bộ phận cơ thể người ra đời năm 2006 đã cụ thể hoá quyền hiến xác, bộ phận cơ thể người được quy dịnh trong Bộ luật Dân sự 2005. Luật đã kế thừa các quy định pháp luật về điều kiện hiến mô, bộ phận cơ thể người khi còn sống cũng như sau khi chết và trình tự thủ tục tiến hành lấy ghép trong Điều 30 Luật bảo vệ sức khỏe nhân dân và cụ thể hóa trong Điều 8, Điều 10 Nghị định Ban hành kèm theo Điều lệ khám chữa bệnh và phục hồi chức năng 1991 đồng thời trên cơ sở nghiên cứu nhu cầu cũng như hoàn cảnh, văn hóa nước ta và thông qua việc xem xét nghiên cứu các quy định của nước ngoài về mục đích sử dụng mô, bộ phận cơ thể; về độ tuổi hiến, về năng lực pháp luật dân sự… để quy định cho phù hợp. Bên cạnh đó nhằm dảm bảo ngày càng tốt hơn sức khỏe của nhân dân Luật đã phát triển thêm các vấn đề khác như: về điều kiện đối với người hiến, người nhận bộ phận cơ thể về sức khoẻ, về quyền lợi với người hiến, nghĩa vụ đối với người nhận, các nguyên tắc trong việc hiến, lấy xác, bộ phận cơ thể người như tự nguyện đối với người hiến và người ghép vì mục đích nhân đạo, chữa bệnh, nghiên cứu khoa học, giảng dạy và đương nhiên là không được hiến vì mục đích thương mại… Giữ bí mật về thông tin giữa người hiến và người ghép cũng là một trong những nguyên tắc của Luật hiến, lấy ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác 2006.

 Thực ra nguyên tắc này sẽ không áp dụng trong trường hợp người hiến, người ghép thoả thuận hoặc giữa người hiến, người ghép là người thân thích cùng dòng máu về trực hệ. Bởi vì người ghép được nhận bộ phận cơ thể từ người thân mình họ sẽ rất trân trọng tình cảm mà người thân của mình dành cho mình và họ sẽ cố gắng để chiến thắng bệnh tật phục hồi sức khoẻ. Tuy nhiên, việc quy định nguyên tắc này là một sự dự phòng rất hợp lý của pháp luật nhằm bảo vệ quyền lợi của cả người hiến cũng như người nhận, thường thì việc biết thông tin về người được ghép bộ phận cơ thể của người thân mình, gặp lại họ để xoa dịu nỗi đau về tinh thần, còn người được ghép gặp lại có thể bày tỏ lòng biết ơn với người hiến, gia đình họ. Nhưng bên cạnh mặt tích cực chúng ta cũng phải quan tâm đến mặt tiêu cực của nó vì khi một người chết hiến xác, bộ phận cơ thể nỗi đau thường thuộc về người còn sống, có thể gia đình người chết thì không vượt qua hiện thực người thân mình đã chết còn người được ghép thì họ khó quay lại hiện thực cuộc sống của chính mình bởi những ám ảnh cuộc sống của một người khác hoặc của một phần thân thể người khác tồn tại trong cơ thể của mình hoặc hiện tượng người thân của người được hiến không hiểu; không đồng ý cho hiến, không chấp nhận thậm chí cho rằng người được ghép đã cướp đi cuộc sống của người thân mình dẫn tới sẽ có những việc làm bất lợi cho người được nhận ghép (đòi tiền, quấy rối, đe doạ…). Mặt khác cuộc đời người hiến và người được ghép rất khác nhau nếu không thông cảm hoặc không chấp nhận được cuộc đời nhau thì tốt nhất là không nên biết về nhau([8]). Bên cạnh đó luật cũng quy định về trách nhiệm của Nhà nước trong hoạt động này, các trường hợp cấm([9]) , cách thức, thủ tục thực hiện việc hiến, lấy ghép mô, bộ phận cơ thể người, hoạt động của Trung tâm điều phối Quốc gia, các cơ sở thực hiện việc lấy, ghép hoạt động của Ngân hàng mô…

 Nhìn lại tiến trình phát triển của pháp luật về hiến, lấy ghép mô; bộ phận cơ thể người và sự ra đời của Luật Hiến, lấy ghép mô bộ phân cơ thể 2006 là một bước tiến vững chắc khẳng định sự phát triển vượt bậc trong công tác lập pháp của Quốc hội thông qua việc kế thừa và phát triển các quy đinh pháp luật trong và ngoài nướ về vấn đề này, góp phần chăm sóc, bảo vệ sức khỏe nhân dân ngày càng tốt hơn.

 


 ([1])  Xem Chương trình Những bí ẩn lịch sử lúc 10h 5’ ngày 26/6/2006 trên VTV1.

[2] Điều 16-5 Bộ luật Dân sự Cộng hoà Pháp quy định “Mọi thỏa thuận được giao kết nhằm mục đích sử dụng cơ thể người, các bộ phận cơ thể người hoặc các sản phẩm từ cơ thể như một tài sản đều vô hiệu” .  

[3] Chính phủ, Tờ trình về dự án luật hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người, số 62/TTr-CP, Hà nội, ngày 5 tháng 5 năm 2006.

 ([4])  Xem bài Du lịch cấy, ghép mô, tạng Báo An ninh Thế giới số 694 ngày 26/6/2006.

 ([5]) Xem Website http://lamdong.gov.vn/ Mục hồ sơ – tư liệu Bài viết Thị trường của những bộ phận cơ thể người – Hoàng Thảo (tổng hợp).

 ([6])Xem Website http://lamdong.gov.vn/ Mục hồ sơ – tư liệu Bài viết Thị trường của những bộ phận cơ thể người – Hoàng Thảo (tổng hợp)

 ([7]) Xem bài Du lịch cấy, ghép mô, tạng Báo an ninh Thế giới số 694 ngày 26/6/2006.

([8])  Xem Khóa luận Quyền hiến bộ phận cơ thể người theo quy định của Bộ luật Dân sự 2005; Hoàng Minh Du.

([9])  Xem Điều 11 Luật hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác 2006.

Post a comment or leave a trackback: Trackback URL.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: