Đề tài cấp Viện năm 2008

CHUYÊN ĐỀ:

COI TRỌNG PHÒNG NGỪA TRONG HOẠT ĐỘNG

BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG

                                                                          NCV. Bùi Đức Hiển

I. KHÁI QUÁT VỀ NGUYÊN TẮC PHÒNG NGỪA TRONG HOẠT ĐỘNG BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG

     1. Thế nào là môi trường và hiện trạng môi trường nước ta

Để có cơ sở cho việc tìm hiểu khái niệm “phòng ngừa trong trong hoạt động bảo vệ môi trường” chúng ta cần đi từ khái niệm liên quan. Như chúng ta đã biết, môi trường là một thuật ngữ có nội hàm rất rộng và được sử dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau như môi trường giáo dục, môi trường sư phạm, môi trường xã hội, môi trường văn hoá, môi trường kinh tế. Theo nghĩa rộng nhất thì môi trường là tổng hợp các điều kiện bên ngoài có ảnh hưởng tới một vật thể hoặc một sự kiện[1]. Như nhà bác học Anhxtanh đã định nghĩa “Môi trường là những gì ngoài tôi (không thuộc tôi)”… Còn theo cách hiểu thông thường thì “môi trường là toàn bộ nói chung những điều kiện tự nhiên và xã hội trong đó con người hay một sinh vật tồn tại, trong mối quan hệ với con người hay sinh vật ấy”([2]). Qua đó chúng ta thấy có rất nhiều cách hiểu khác nhau về thế nào là môi trường và các định nghĩa, cách hiểu về môi trường đưa ra đều có ít nhiều nhữn vấn đề đưa ra cần phải bàn thêm và làm rõ chẳng hạn như: theo quan điểm của Anhxtanh, môi trường là những gì ngoài tôi liệu có hợp lý không (?) bởi nếu quan niệm như vậy có phải con người nằm ngoài môi trường, mà thực tế thì con người luôn tồn tại trong một môi trường sống nhất định. Do vậy theo tôi có lẽ chúng ta nên quan niệm môi trường là những gì xung quanh tôi thì có vẻ hợp lý hơn. Tuy nhiên, bài viết này không có ý định tranh luận sâu về vấn đề này mà chỉ muốn làm rõ, tìm ra một cách hiểu được thừa nhận đông đảo nhất về thế nào là môi trường để từ đó đưa ra các biện pháp để phòng ngừa trong hoạt động bảo vệ môi trường đạt hiệu quả. Về mặt pháp lý khoản 1 Điểu 3 của Luật Bảo vệ môi trường 2005 của nước ta định nghĩa: “Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và vật chất nhân tạo bao quanh con người, có ảnh hưởng đến đời sống, sản xuất, sự tồn tại phát triển của con người và sinh vật”. Nói tóm lại, môi trường (environment) là tổ hợp các thành phần của thế giới vật chất  làm  cơ  sở  cho sự  tồn  tại, phát triển của sinh vật và con người. Trong đề tài này khi nói tới thuật ngữ môi trường chúng tôi theo định nghĩa ghi nhận tại khoản 1, Điều 3, Luật Bảo vệ môi trường 2005. Dưới tác động của nhiều yếu tố có thể là khách quan hoặc chủ quan môi trường có thể bị ô nhiễm, suy thoái thậm chí là sự cố môi trường. Môi trường có vai trò quan trọng đặc biệt, thông qua cỏc  yếu tố tự nhiên chủ yếu nh­ư: ánh sáng, không khí, nguồn nư­ớc, nhiệt độ, đất đai,… là cơ sở để con người cú thể tồn tại và phỏt triển, cung cấp nguyên liệu và năng lư­ợng cho hoạt động kinh tế và đời sống con ng­ười, cung cấp tiện nghi cho con ng­ười. Do đó, mụi trường đúng vai trũ to lớn đối với đời sống con người, trong quá trình triển kinh tế, văn hoá, xã hội của đất nước, của dân tộc và nhân loại([3]). Tuy nhiên, môi trường thế giới cũng như ở ViệtNam hiện nay đang bị đe doạ nghiêm trọng, biến đổi theo chiều hướng ngày càng xấu, cụ thể như:

– Sự thay đổi của khí hậu toàn cầu do rừng bị tàn phá, sự gia tăng chất thải chứa khí CFCs ở mức độ lớn đã làm cho không khí trái đất nóng lên dẫn đến những thay đổi bất thường của khí hậu. Theo tính toán của các nhà khoa học Việt Nam không nằm trong 56 quốc gia có hiệu ứng nhà kính lớn nhất, tuy nhiên Việt Nam lại là nạn nhân của hiệu ứng nhà kính mà cụ thể là nạn nhân của sự biến đổi khí hậu do sự nóng nên của trái đất.([4])

– Tầng ôzôn là tầng khí quyển bên ngoài trái([5]) có vai trò vô cùng quan trọng trong việc bảo vệ sự sống của con người giúp ngăn ngừa các tia cực tím nguy hiểm, bảo vệ trái đất bị nóng lên bởi năng lượng mặt trời. Tuy nhiên tầng ôzôn đang bị đe doạ nghiêm trọng.

– Quá trình đô thị hoá, hình thành các khu công nghiệp ở nhiều nơi nhanh, thiếu quy hoạch tổng thể về lâu dài dẫn đến chất thải từ sinh hoạt của con người, từ các hoạt động sản xuất kinh doanh của các khu, cụm công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp chưa được xử lý thải vào môi trường như  nhiều vụ việc vừa được phát hiện và đưa ra ánh sáng như: vụ Công ty VEDAN thải nước thải vượt tiêu chuẩn cho phép hàng trăm lần ra sông Thị Vải hay vụ MIMON thải nước thải chưa sử lý triệt để ra sông Hồng (Phú Thọ)…[6] ngày càng nhiều.

– Sự suy giảm của các loài động thực vật đã dẫn đến giảm và dần mất cân bằng hệ sinh thái…vd: rừng Tánh Ninh (Ninh Thuận), các rừng đầu nguồn ở Trung du miền núi phía Bắc… đã và đang bị khai thác bừa bãi gây ảnh hưởng xấu đến môi trường suy thoái môi trường và những sự cố môi trường nghiêm trọng.

Môi trường bị ô nhiễm, huỷ hoại hay bị suy thoái diễn ra do những tác động khách quan hoặc chủ quan làm cho thành phần môi trường thay đổi. Về đất: do phá rừng bừa bãi diễn tích đất trống đồi núi trọc, hoang mạc hoá ngày càng nhiều, hiện nay đấy trống đồi trọc tăng 11,4 triệu ha, môi trường nước thì bị ô nhiễm nghiêm trọng đặc biệt ở các sông như sông Tô Lịch (Hà Nội, Kênh Nhiêu Lộc (Thị Nghè, TP. Hồ Chí Minh), hơn nữa môi trường không khí cũng đang bị ô nhiễm nghiêm trọng đặc biệt ở các đô thị lớn, nồng độ bụi ở môt số thành phố lớn như Hà Nội, Tp. Hồ Chí Minh vượt quá tiêu chuẩn cho phép gấp 2 đến 3 lần đặc biệt những nơi đang xây dựng trong khu đô thị nồng độ bụi vượt quá tiêu chuẩn 10 – 20 lần. Bên cạnh đó  các hệ sinh thái rừng, đất ngập nước… cũng bị suy giảm nhanh chóng[7].

Chính từ vai trò vô cùng quan trọng của môi trường đối với con người, với phát triển kinh tế, xã hội và hiện trạng môi trường đang báo động như hiện nay ở nước ta, trong khi các biện pháp khắc phục ô nhiễm, sự cố môi trường vô cùng tốn kém về sức người cũng như nhân vật lực lại kém hiệu quả thậm chí là không thể khắc phục được những hậu quả do ô nhiễm, sự cố suy thoái môi trường gây ra đối với sức khoẻ con người và hệ sinh thái thì phòng ngừa trong hoạt động bảo vệ môi trường là vô cùng cần thiết và cấp bách.

2. Quan niệm về nguyên tắc phòng ngừa trong hoạt động bảo vệ môi trường

2.1. Phân biệt giữa phòng và chống và vai trò của phòng ngừa trong hoạt động bảo vệ môi trường

          Theo từ điển Tiếng Việt, Nhà xuất bản Từ điển bách khoa 2007 thì “phòng” có nghĩa là ngăn ngừa, phòng trước không để cho cái xấu, cái không hay nào đó xảy ra” còn “chống” là đỡ cho khỏi sụp, khỏi đổ. Theo cách hiểu nôm na thì phòng là hành động hoặc không hành động nhằm ngăn ngừa cái gì đó nhưng chưa xảy ra, còn chống là việc hành động để ngăn chặn một vấn đề gì đó đã, đang xảy ra nhưng chống để nó xảy ra chậm hơn hoặc để nó dừng lại. Ông cha ta thường nói “phòng còn hơn chống”, “phòng bệnh hơn chữa bệnh” để nói lên tầm quan trọng của việc phòng ngừa, thực tiễn cũng cho thấy không chỉ trong hoạt động bảo vệ môi trường mà trong tất cả lĩnh vực của cuôc sống như dập dịch, chữa bệnh… đều đề cao nguyên tắc phòng ngừa. Hoạt động bảo vệ môi trường là những hoạt động giữ gìn cho môi trường trong lành, sạch đẹp; phòng ngừa hạn chế tác động xấu đến môi trường, ứng phó sự cố môi trường; khắc phục ô nhiễm, suy thoái, phục hồi và cải thiện môi trường; khai thác, sử dụng hợp lý và tiết kiêm tài nguyên thiên nhiên; bảo vệ đa dạng sinh học([8]). Đây là hoạt động phức tạp đòi hỏi sự tham gia không chỉ của Nhà nước mà nó là sự nghiệp của toàn dân, của mọi tổ chức, cá nhân (tức là tính xã hội hoá), với nhiều biện pháp và cấp độ thực hiện khác nhau. Do vậy, để thực hiện hoạt động bảo vệ môi trường có hiệu quả, trong quá trình này đòi hỏi phải thực hiện theo những nguyên tắc nhất định như: nguyên tắc bảo vệ môi trường phát triển bền vững; nguyên tắc bảo vệ môi trường phải phù hợp với quy luật, đặc điểm tự nhiên, văn hoá…đặc biệt là nguyên tắc phòng ngừa ô nhiễm, sự cố, suy thoái môi trường. Trong hoạt động bảo vệ môi trường phòng ngừa được áp để ngăn chặn ô nhiễm, suy thoái và sự cố môi trường, tuy nhiên phòng ngừa thường được áp dụng triệt để với ô nhiễm hay suy thoái môi trường, bởi những nguyên nhân gây ra ô nhiễm, suy thoái môi trường chủ yếu là do hành vi của con người như chặt phá rừng bừa bãi dẫn đến nhiều loài động, thực vật tuyệt chủng gây nên suy thoái, ô nhiễm môi trường và để phòng ngừa điều này Luật quy định cấm những hành vi phá rừng như vậy…còn đối với sự cố môi trường nếu nguyên nhân do con người gây ra thì có thể áp dụng các biện pháp phòng ngừa triệt để, nhưng với những nguyên nhân do biến đổi tự nhiên như bão, lũ, cháy rừng, sét…gây ra thì việc áp dụng nguyên tắc phòng ngừa chỉ nhằm tạo ra những biện pháp để giảm thiểu hậu quả xảy ra do sự cố môi trường,vì con người khó có thể khắc phục được những nguyên nhân này. Mặt khác, phòng và chống là hai thuật ngữ khác nhau chỉ những mức độ khác nhau trong hoạt động bảo vệ môi trường nhưng chúng lại có môi quan hệ mật thiết với nhau, bổ trợ cho nhau, phòng ngừa tốt khi xảy ra sự cố sẽ chống hiệu quả hơn và chống tốt kết hợp với phòng ngừa thì sẽ đảm bảo được mục đích của hoạt động bảo vệ môi trường.

2.2. Thế nào là nguyên tắc coi trọng phòng ngừa trong hoạt động bảo vệ môi trường

Trong công việc hay trong các mối quan hệ nhất định để thực hiện được các mục tiêu cũng như hoàn thành tốt công việc của mình con người luôn đặt ra những nguyên tắc nhất định nguyên tắc cứng rắn, nguyên tắc sử dụng, nguyên tắc làm việc…và trong hoạt động bảo vệ sức khoẻ của nhân dân, bảo vệ môi trường trong lành, sạch đẹp nó cũng dựa trên những quan điểm mang tính đính hướng, nguyêt tắc đó ví dụ nguyên tắc bảo vệ sức khoẻ con người, nguyên tắc phát triển bền vững, bảo vệ không khí trong lành…Vậy nguyên tắc là gì? Từ điển Tiếng Việt, Nhà xuất bản Từ điển bách khoa thì định nghĩa ([9])“nguyên tắc là điều cơ bản định ra nhất thiết phải tuân theo trong một loạt việc làm”. Theo cách hiểu nôm na thì nguyên tắc là những tư tưởng chủ đạo làm nền tảng cho tổ chức và hoạt động của các các tổ chức, cá nhân và cơ quan nhà nước trong một công việc, một lĩnh vực nhất định. Còn theo quan điểm của các nhà lập pháp thì nguyên tắc là những quy tắc chung được Nhà nước ghi nhận, có tác dụng định hướng và chỉ đạo cho toàn bộ các quy phạm pháp luật của ngành luât đó. Do vậy, theo chúng tôi, nguyên tắc phòng ngừa là những quan điểm, tư tưởng chủ đạo nhằm phòng trước không để cho cái xấu, cái không tốt xảy ra. Trong hoạt động bảo vệ môi trường cái xấu, cái không tốt cần phải phòng ngừa ngăn chặn chính là ô nhiễm môi trường, sự cố môi trường và suy thoái môi trường. Những tác động do khách quan hoặc chủ quan từ phía con người tác động rất lớn đến môi trường tác động đó có thể làm môi trường ngày càng trong lành sạch đẹp nhưng nó cũng có thể huỷ hoại môi trường làm ô nhiễm, suy thoái hoặc sự cố đối với môi trường. Trong hoạt động bảo vệ môi trường phòng ngừa là nguyên tắc luôn được coi trọng hàng đầu. Vậy phòng ngừa trong hoạt động bảo vệ môi trường là gì? và phòng ngừa cái gì?. Cách hiểu phổ biến và được thừa nhận rộng rãi nhất phòng ngừa trong hoạt động bảo vệ môi trường là tất cả các hoạt động cần thiết được tiến hành để xác định những khu vực, những quá trình và những hoạt động có khả năng tạo ra các nguồn ô nhiễm, sự cố, suy thoái môi trường nhằm mục đích ngăn chặn hoặc giảm thiểu những ảnh hưởng có hại của chúng đối với môi trường[10], để có một môi trường sống trong sạch và an toàn đối với ức khoẻ con người, PNÔN phải trở thành ý thức và trách nhiệm của mọi người dân. Từ những phân tích trên chúng ta thấy nguyên tắc phòng ngừa trong hoạt động bảo vệ môi trường là những quan điểm, những tư tưởng chủ đạo nhằm phòng ngừa, ngăn chặn những nguyên nhân có thể gây ô nhiễm môi, sự cố cũng như suy thoái môi trường nhằm ngăn chặn hoặc giảm thiểu những ảnh hưởng xấu của chúng đến môi trường giữ gìn  môi trường lành, sạch đẹp.

2.3. Cơ sở thừa nhận, quy định nguyên tắc phòng ngừa trong hoạt động bảo vệ môi trường

a. Cơ sở lý luận

– Dựa trên chủ nghĩa Mác – Lênin về môi trường, lý luận Mác- Lênin đã chỉ ra tầm quan trọng của môi trường bằng việc chỉ ra quan hệ tương tác giữa xã hội và tự nhiên thể hiện ở chỗ môi trường tự nhiên – một trong những điều kiện phát triển sản xuất-là một quá trình diễn ra giữa xã hội và tự nhiên. Con người sử dụng điều kiện đó theo trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, do vậy lực lượng sản xuất càng phát triển thì môi trường càng bị sử dụng, khai thác mạnh, mét nhµ kinh ®iÓn næi tiÕng khi bµn vÒ mèi quan hÖ gi÷a con ng­êi vµ tù nhiªn ®· nãi r»ng: con người mà khai thác thiên nhiên một cách quá đáng thì thiên nhiên sẽ trả thù lại con người([11]). Do đó, vấn đề đặt ra là cần phải áp dụng những biện pháp nào để ngăn chặn nguy cơ ô nhiễm môi trường có thể xảy ra đối với sự phát triển xã hội([12]). Bên cạnh chủ nghĩa Mác-Lênin là quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về phòng ngừa trong hoạt động bảo vệ môi trường. Ngay từ khi tiến hành sự nghiệp đổi mới hội nhập với thế giới, công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước, từ các văn kiện đại hội Đảng VI đến đại hội Đảng X, Đảng ta đều chỉ ra đất nước ta đẩy mạnh phát triển kinh tế đồng thời quan tâm đến vấn đề bảo vệ môi trường, như tích cực chủ  động  phòng  chống  thiên tai đồng thời đẩy mạnh phòng ngừa ô nhiễm môi trường bằng cách kiểm soát ô nhiễm và ứng cứu sự cố môi trường do thiên tai lũ lụt gây ra; có kế hoạch cải tạo, khắc phục sự cố, ô nhiễm môi trường trên các dòng sông, hồ ao, kênh mương…“Thực hiện các dự án về cải tạo môi trường: xây dựng vườn quốc gia, khu rừng cấm, trồng cây xanh, giữ gìn đa dạng sinh học, bảo tồn các nguồn gen di truyền, xây dựng các công trình làm sạch môi trường” ([13]) và như một sự khẳng định đối tầm quan trọng của phòng ngừa trong hoạt động bảo vệ môi trường văn kiện đại hội Đảng X cũng đưa ra mục  tiêu về  môi truờng  đến  năm 2010 là:  “Đưa tỉ lệ che phủ rừng lên 42-43%, 95% dân cư thành thị và 75% dân cư ở nông thôn đượ sử dụng nước sạch, 100% các cơ sở sản xuất mới xây dựng phải áp dụng các trang thiết bị giảm ô nhiễm, xử lý chất thải”([14])… Qua đó chúng ta thấy vấn đề bảo vệ môi trường luôn thu hút được sự quan tâm lớn của Đảng ta trong quá trình lãnh đạo phát triển kinh tế đất nước.

– Ô nhiễm, suy thoái, sự cố môi trường là vấn đề tất yếu trong quá trình phát triển nền kinh tế thị trường. Do đó, để bảo vệ môi trường trong lành, bên cạnh các hoạt động khắc phục sự cố, ngăn chặn suy thoái môi trường là phòng ngừa, hạn chế ô nhiễm môi trường…thì phòng ngừa đóng vai trò quan trọng,. Do đó cần phải thừa nhận và ghi nhận nguyên tắc phòng ngừa trong hoạt động bảo vệ môi trường.

– Do yêu cầu của quá trình hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế đặc biệt là quá trình gia nhập WTO. Khi gia nhập WTO, tham gia vào sân chơi chung Việt Nam phải điều chỉnh chính sách pháp luật của mình phù hợp với luật chơi quốc tế: luật tài chính, ngân hàng, đầu tư…và một vấn đề không thể thiếu là Luật Bảo vệ môi trường phù hợp với các Công ước, Hiệp ước quốc tế…về bảo vệ môi trường. Bởi môi trường chỉ có thể trong lành khi chúng ta nhận thức đúng về nó, và quy định để bảo vệ nó, vấn đề bảo vệ môi trường cũng như vấn đề phòng ngừa trong hoạt động bảo vệ môi trường là vấn đề toàn cầu, do vậy cận có những quy định thống nhất về việc này ở mọi quốc gia để cùng hành động bảo vệ môi trường.

– Quyền sống trong môi trường trong lành, an toàn là một bộ phận của quyền con người nên cần phải được bảo vệ, hoạt động bảo vệ môi trường có nhiều biện pháp có thể là khắc phục sự cố môi trường, ngăn chặn suy thoái môi trường nhưng tối ưu hơn cả trong việc bảo vệ môi trường sống trong lành là thực hiện tốt nguyên tắc phòng ngừa, ngăn chặn các nguyên nhân gây ra ô nhiên, sự cố và suy thoái môi trường đây là nguyên tắc rất quan trọng.

– Thực hiện nguyên tắc phòng ngừa trong hoạt động bảo vệ môi trường là một biện pháp ngăn chặn, tất cả mọi người đều có thể thực hiện được khi con người nhận thức đó là ý thức, trách nhiệm của mình.

– Về mặt pháp lý hoạt động bảo vệ môi trường nói chung và nguyên tắc phòng ngừa trong hoạt động bảo vệ môi trường nói riêng được quy định trong Hiến pháp 1992 Điều 17, Điều 19 là cơ sở hiến định cho việc đưa nghĩa vụ bảo vệ môi trường vào trong lĩnh vực cụ thể khác của đời sống kinh tế, xã hội([15]) và cụ thể hoá thành nguyên tắc tại Điều 4, Luật bảo vệ môi trường 2005 và các luật chuyên ngành khác…

– Do thành tựu của khoa học kỹ thuật nhiều thiết bị máy móc sản xuất tiên tiến ra đời sản xuất năng xuất cao, tiết kiệm nguyên, nhiên liệu hạn chế ô nhiễm môi trường đã được đưa vào phục vụ sản xuất. Nhiều hệ thống công nghệ hiện đại phục vụ cho việc giám sát, phòng ngừa ngăn chặn, cảnh báo, phát hiện kịp thời ô nhiễm, sự cố, suy thoái môi trường khi nó xảy ra. Thành tựu của khoa học kỹ thuật, cho phép ta áp dụng nguyên tắc phòng ngừa ngày càng hiệu quả hơn. Bên cạnh những cơ sở lý luận cho sự thừa nhận và quy định nguyên tắc phòng ngừa trong hoat động bảo vệ môi trường là cơ sở thực tiễn của nguyên tắc này.

b. Cơ sở thực tiễn

Thực tiễn cho thấy phòng ngừa không tốt ô nhiễm, suy thoái hoặc sự cố môi trường xảy ra thì hậu quả là vô cùng nặng nề đối với môi trường sống. Hậu quả của những vụ cháy rừng, những chất thải của các nhà máy, xí nghiệp ra sông suối làm ô nhiễm nguồn nước, đất, không khí và dẫn tới nhiều loại động thực vật bị tuyệt chủng, suy thoái môi trường đồng thời gây nên bệnh tật ở người, động vật và ảnh hưởng lâu dài đến sức khoẻ con người. Ví dụ Cháy rừng ở Cà Mau hay ô nhiễm nguồn nước ở Thạch Sơn(Phú Thọ) gây ung thư cho những cư dân sống ở khu vực này…còn khi chúng ta phòng ngừa tốt xử lý chất thải tại các nhà máy, các khu công nghiệp trước khi thải ra ngoài môi trường thì sẽ tránh được những hầu quả đáng tiếc trên đối với môi trường sống với hệ sinh thái và đối với con người.

– Thực tiễn hoạt động bảo vệ môi trường cho thấy chi phí để khắc phục hậu quả do ô nhiễm môi trường, ngăn chặn suy thoái môi trường và khắc phục sự cố môi trường luôn cao hơn rất nhiều so với những chi phí thực tế bỏ ra để đầu tư máy mọc công nghệ ít ô nhiễm, tốn ít năng lượng hoặc đầu tư cho hệ thống cảnh báo ô nhiễm sự cố môi trường có thể xảy ra…vào hoạt động sản xuất.

– Thực tiễn cho thấy viêc khắc phục ô nhiễm môi trường, sự cố môi trường là một quá trình lâu dài rất khó thực hiện và khó có thể quay trở lại hiện trạng môi trường như ban đầu được. Do đó, hoạt động này ngoài việc chi phí tốn kém nó còn đòi hỏi phải có máy móc công nghệ để khắc phục ô nhiễm. Vd: dò rỉ phóng xạ gây ô nhiễm môi trường hoăc sự có tràn dầu trên biển có thể làm ô nhiễm và phá huỷ tiêu diệt nhiều loài hải sản quý hiếm và ảnh hưởng lâu dài với vùng biển có dầu tràn và để khắc phục được những ô nhiễm đó không hề đơn giản. Tuy nhiên, việc phòng ngừa ô nhiễm, suy thoái, sự cố môi trường lại là một biện pháp mang lại hiệu quả tuyệt vời nhưng không khó thực hiện, mọi cá nhân, ổ chức, cơ quan trong phạm vi khả năng của mình đều có thể phòng ngừa được như: không xả thải dác thải bừa bãi, đối với tổ chức là việc quy định rõ trong nội quy làm việc…và đặt công việc của mình gắn lèn với sự trong lành của môi trường làm việc cũng như môi trường sống. Do đó, việc thừa nhận và quy định nguyên tắc phòg ngừa trong hoạt động bảo vệ môi trường là một điều tất yếu.

– Mặt khác thực tiễn cũng cho thấy lịch sử phát triển của xã hội loài người gắn liền với giới tự nhiên và hoat động của con người tác động ngày càng lớn vào giới tự nhiên (môi trường sống) đã làm cho các thành phần môi trường thay đổi vượt quá các tiêu chuẩn môi trường cho phép dẫn đến ô nhiễm môi trường, suy thoái, sự cố môi trường. Mục đích của hoạt động bảo vệ môi trường theo Luật Bảo vệ môi trường 2005 là giữ gìn môi trường trong lành, tuy nhiên mục đích này sẽ không thể thực hiện được nếu chúng ta suốt ngày chỉ quan tâm đến việc khắc phục sự cố, suy thoái môi trường điều đó là không khả thi mà theo tôi đó chỉ là những biện pháp tạm thời trước mắt. Còn để đạt được mục đích đề ra thì phòng ngừa mời là nguyên tắc lâu dài cho hoạt động bảo vê môi trường đảm bảo môi trường phát triển bền vững và trong lành thực sự.

– Nước ta là một nước đang phát triển, hàng năm nước ta đều phải nhập siêu đến hàng chục tỷ đôla để mua máy móc, thiết bị để sản xuất. Nên với nhu cầu đẩy mạnh phát triển đất nước đã có lúc chúng ta phải đánh đổi chất nhận cả ô nhiễm môi trường để thu hút đàu tư nước ngoài để đẩy mạnh phát triển kinh tế. Do vậy, sẽ không có nhiều kinh phí đầu tư cho việc khắc phục ô nhiễm, suy thoái môi trường mà một biện pháp hợp lý tiết kiệm và có hiệu quả hơn cả là phòng ngừa ô nhiễm môi trường, suy thoái và sự cố môi trường. Qua những cơ sở lý luận cũng như thực tiễn trên cho thấy việc thừa nhận và quy định nguyên tắc coi trọng phòng ngừa trong hoạt động bảo vệ môi trường là đúng đắn và hợp lý.

3. Tiến trình phát triển, quy định của nguyên tắc phòng ngừa trong hoạt động bảo vệ môi trường

Lịch sử phát triển của xã hội loài người trải qua năm hành thái kinh tế xã hội từ cộng sản nguyên thuỷ đến xã hội chủ nghĩa.([16]) Ở mỗi thời kỳ mỗi giai đoạn khác nhau của lịch sử nhân loại con người đều sống trong môi trường nhất định(môi trường tự nhiên) và dù là lớn hay nhỏ thì họ đều có những tác động nhất định vào môi trường, tác động đó có thể là khai thác tự nhiên hoặc còng cã thÓ lµ bảo vệ môi trường. Vào thời kỳ cộng sản nguyên thuỷ, con người tác động vào môi trường tự nhiên khai thác cần thiết để duy trì sự sống của mình như săn bắn, hái lượm…trong quá trình đó, do tác động của các hiện tương tự nhiên như mưa, bão, sấm sét gây ra các hiện tượng lũ lụt, hạn hán…gây ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sông của con người và những hiện tượng đó đã dần làm con người liên hệ tới những nguyên nhân từ hành vi của mình tác động thái đến tự nhiên  và từ đó đã đúc kết được một số kiến thức cũng như biện pháp thiết thực để ngăn ngừa những tác động thái quá đối với tự nhiên (môi trường) dưới dạng tín ngưỡng, và phong tục như tuc lệ coi rừng đầu nguồn ở các dòng sông, dòng suối, rừng nguyên sinh là “rừng thiêng”, “rừng cấm”,hay “rừng thờ”[17] không ai được xâm phạm. Trong rừng cấm có khi có cả đền thờ, miếu thờ và những câu truyện truyền thuyết về sự linh thiêng của rừng, sự bất hạnh của những kẻ phá hoạt rừng làm cho việc phòng ngừa chặt phá rừng, đánh bắt động thực vật trong rừng trờ nên nghiêm ngặt và có tác dụng răn đe. Những truyền thống, phong tục tốt đẹp vẫn được duy trì cho đến ngày nay ở môt số vùng dân tộc ít người như ở rừng Pờ Ly Ngài – Hà Giang…Bên cạnh những tục lệ tốt đẹp đó là tập quá chống sát sinh, cấm giết hại động vật đang mang thai, tục lệ thả cá, thả chim…là những biểu hiện tuyệt vời cho việc bảo vệ môi trường mà cụ thể là phòng ngừa chống những tác động xấu đến với môi trường. Những biểu hiện về phòng ngừa tácđộng xấu đến môi trường sơ khai đó có thể được hình thành trước khi có Nhà nước và nó được lưu truyền không phải thông qua những quy định pháp luật mà qua những tín ngưỡng, những tập quán tốt đẹp về vấn đề này.

3.1. Trên thế giới

Sự ra đời của máy hơi nước đã đánh dấu một bước ngoặt trong lịch sử phát triển của nhân loại, các nhà máy xí nghiệp mọc lên ngày một nhiều và tạo ra một lượng hàng hoá vô cùng lớn, điều đó là tiền đề tạo ra cuộc cách mạng công nghiệp trên toàn thế giới và là cơ sở kinh tế cho sự ra đời của chủ nghĩa tư bản. Thời kỳ đầu chủ nghĩa tư bản kinh tế thế giới có bước phát triển mạnh mẽ, thời kỳ này các Nhà nước tư sản không trực tiếp tham gia vào quản lý sản xuất mà tạo điều kiện mà đảm bảo cho các doanh nghiệp tự do sản xuất và cạnh tranh, đây là thời kỳ tư bản tự do cạnh tranh, Nhà nước như ngòn đèn dầu đứng gác cho chủ nghĩa tư bản[18]. Do vậy, vấn đề bảo vệ môi trường thời kỳ đầu chủ nghĩa tư bản không được các Nhà nước tư sản coi trọng bời thời kỳ này Nhà nước không can thiệp vào hoạt động sản xuất kinh doanh của các thương nhân. Tuy nhiên, từ cuối thế kỷ XIX đến những năm nửa cuối của thế kỷ XX với sự phát hiện những nguồn năng lượng mới, kỹ thuật sản xuất tiến bộ hơn, con người đã có những tác động mạnh mẽ vào thiên nhiên, môi trường và dần phá vỡ đi những cân bằng vốn có của tự nhiên. Đặc biệt là những thập niên cuối thế kỷ XX, sau những năm phục hồi hậu quả chiến tranh thế giới lần thứ hai hàng loạt các nước tư bản chủ nghĩa cũng như xã hôi chủ nghĩa tiếp tục đẩy mạnh đi sâu vào công nghiệp hoá cùng với cách mạng khao học kỹ thuật, sự bùng nổ dân số, sự phân hhoá giữa các quốc gia về thu nhập tạo nên nhu cầu và khả năng mới về khai thác tài nguyên thiên nhiên và can thiệp vào môi trường. Sự bất hợp lý về kinh tế đã dẫn đến hai loại ô nhiễn: ô nhiễm do thừa thãi tại các nước tư bản phát triển và ô nhiễm do đói nghèo.

Thời kỳ này ở các nước xã hội chủ nghĩa mà cụ thể là Liên Xô các nhà môi trường đã nhận thức ra được tầm quan trọng của môi trường và tác động của nó đến con người. Không nên quên rằng, không thể phát triển kinh tế được nếu như không diễn ra thay đổi này hay thay đổi khác trong môi trường bao quanh, nhưng vấn đề là ở chỗ làm sao cho những thay đổi đó không những không mang lại những thảm hoạ mà cũng không mang lại những hậu quả có hại. Hơn nữa những điều thay đổi đó phải thúc đẩy khả năng cải thiện môi trường tự nhiên tạo ra những điều kiện thuận lợi nhất cho cuộc sống và hoạt động sản xuất của con người. Do vậy, các nước xã hội chủ nghĩa mà đặc biệt là Liên Xô đã đẩy mạnh công tác phòng ngừa trong hoạt động bảo vệ môi trường, chỉ tính từ 1973-1978 vốn đầu tư của Nhà nước vào những biện pháp đặc biệt nhằm ngăn chặn ô nhiễm môi trường đã hơn 10,2 tỷ rúp (từ 1,5 đến 1,8 tỷ rúp mỗi năm) và các chi phí dùng vào việc ngăn ngừa ô nhiễm môi trường bao quanh cũng tăng nhanh[19]. Tuy nhiên, thời kỳ này ở Liên Xô cũng chưa có một văn bản pháp luật chính thức nào quy định về vấn đề này mà chỉ được quy định trong các văn kiện của đại hội Đảng cộng sản Liên Xô, nhưng điều đó cũng thể hiện được rõ mối quan tâm sâu sắc của Đảng và Nhà nước Liên Xô tới hoạt động bảo vệ môi trường. Còn ở các nước tư bản phương Tây ngay từ những thập niên cuối của thế kỷ XVII nhiều biện pháp phòng ngừa đã được sử dụng trong việc phòng chống ô nhiễm, suy thoái, sự cố môi trường như: năm 1690 lần đầu tiên giấy đã được tái chế và sử dụng lại đến năm 1899 Newyork đã có nhà máy đầu tiên về xử lý nước thải cho thành phố và đến 1914 cả Mỹ và Canada đã có đến 300 nhà máy tái chế rác thải, nhưng với hiện trạng môi trường ngày càng bị tác động xấu như vậy bên cạnh việc đưa ra những biện pháp về kinh tế-kỹ thuật để phòng ngừa tác động xấu đến môi trường thì các nước cũng quan tâm đến việc sử dụng các công cụ pháp luật để bảo vệ môi trường. Vào năm 1934 để nâng cao ý thức của người dân trong việc bảo vệ môi trường biển, Mỹ đã có quy định pháp luật đầu tiên về cấm đổ rác thải bừa bãi ra biển, đây là quy định nhằm ngăn chặn những hành vi xả rác thải bừa bãi ra môi trường biển một cách vô tội vạ và khó có thể kiểm soát. Tuy nhiên, nạn ô nhiễm môi trường vẫn diễn ra mạnh năm 1940 cháy nghiêm trọng đã xảy ra tại bang Ohio(Mỹ), năm 1969 dầu loang ra sông và cháy trên sông gây ô nhiễm nghiêm trọng cho môi trường. Điều này dẫn đến Chính phủ Mỹ cần phải xem xét và có những thay đổi về khung pháp lý đối với hoạt động bảo vệ môi trường. Đầu năm 1970 Quốc hội Mỹ đã thông qua một loạt các luật để phòng ngừa những tác động xấu xảy ra vớimôi trường như: Luật Chính sách quốc gia về môi trường  tên quốc  tế là National Environtment Policy Act gọi tắt là (NEPA) Luật này quy định tất cả những kiến nghị quan trọng ở cấp Liên bang về hoạt động kinh tế, kỹ thuật đều phải kèm theo một báo cáo tường tận về tác động đến môi trường của những việc làm được kiến nghị[20] hay Luật về bảo tồn sử dụng các nguồn lực liên quan đến xử lý rác thải(Resource Conservation an Recovery(1976)[21] giúp kiểm tra quản lý rác thải của các nhà máy, xí nghiệp khi xả thải ra môi trường, có đảm bảo tiêu chuẩn môi trường hay không. Đây là những quy định rất cần thiết để phòng ngừa, ngăn chặn ô nhiễm, sự cố môi trường bảo vệ quyền đươc sống trong môi trường trong lành, sạch sẽ.

3.2. Ở Việt Nam

Vấn đề môi trường là một vấn đề mới đối với các quốc gia đang phát triển. Như chúng ta đã biết pháp luật là công cụ để điều tiết xã hội phụ thuộc vào sự phát triển của xã hội và nhu cầu của xã hội. Khi việc bảo vệ môi trường chưa được ý thức rõ, chưa đến mức nghiêm trọng thì quy định pháp luật về phòng ngừa ô nhiễm môi trường cũng chưa được chú ý. Từ những năm đầu thế kỷ XX trở về trước khi môi trường chưa đat đến độ thách thức, dân số chưa tới mức báo động, tài nguyên chưa tới mức cạn kiệt vấn đề phòng ngừa ô nhiẽm môi trường bảo vệ thiên nhiên vẫn chưa được coi trọng. Chỉ đến khi ô nhiễm môi trường đến mức báo động, cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên và sự trả thù của tự nhiên đối với con người thì vấn đề bảo vệ môi trường nói chung và phòng ngừa trong hoạt động bảo vệ môi trường nói riêng mới được coi trọng. Ở Việt Nam từ những năm 80 trở về trước chưa có văn bản pháp luật nào thừa nhận và quy định nguyên tắc phòng ngừa trong hoạt động bảo vệ môi trường, tuy nhiên văn bản gián tiếp quy định biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn ô nhiễm, suy thoái môi trường như quy định bảo vệ rừng thì đã có như Sắc lệnh số 142/SL do Chủ tịch Hồ Chí Minh ký ngày 21/12/1949 quy định việc kiểm soát lập biên bản các hành vi vi phạm pháp luật bảo vệ rừng. Đây có thể coi là văn bản sớm nhất quy định gián tiếp về vấn đề bảo vệ môi trường, tiếp đó là Nghị quyết số 183/CP ngày 25/09/1966 về công tác trồng cây, gây rừng và đặc biệt là Pháp lệnh Bảo vệ rừng ban hành ngày 11/09/1972. Ngoài ra, thời kỳ này còn có một số văn bản pháp luật khác quy định về bảo vệ các nguồn tài nguyên đất, trồng rừng liên quan đến bảo vệ môi trường. Tuy nhiên, pháp luật thời kỳ này chỉ quy định một số khía cạnh rất nhỏ liên quan đến bảo vệ môi trường nói chung cũng như phòng ngừa tác hại xấu đến môi trường nói riêng, đồng thời chưa có một văn bản pháp lý nào quy định về nguyên tắc phòng ngừa trong hoạt động bảo vệ môi trường, mặc dù biểu hiện của nguyên tắc cũng đã được quy định ít nhiều. Sở dĩ như vậy là do một số nguyên nhân cơ bản sau:

– Do hoàn cảnh đất nước ta thời kỳ này cả nước đang gồng mình để đánh đế quốc Pháp, Mỹ xâm lược, do vậy không cho phép chúng ta chú ý được nhiều đến hoạt động bảo vệ môi trường.

– Những biến đổi của thiên nhiên do con người tác động chưa đến mức huỷ hoại môi trường, chưa ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống, sức khỏe của con người.

– Hệ thống pháp luật về bảo vệ môi trường nói chung và phòng, ngừa ô nhiễm môi trường nói riêng vẫn chưa được quan tâm quy định đầy đủ và hợp lý.  Quy định pháp luật thời kỳ này chưa đáp ứng được những đòi hỏi khách quan trong hoạt động bảo vệ môi trường.

– Một nguyên nhân nữa không thể không nói đến đó là nhận thức của nhân dân về bảo vệ môi trường còn mơ hồ. Sở dĩ có vấn đề này là do những tác động xấu của môi trường chưa trực tiếp tác dộng đến đời sống của họ, thậm chí nhận thức của các nhà tri thức về vấn đề này cũng có những lệch lạc như việc quan niệm những tác nhân có thể phá hủy môi trường như là một minh chứng cho sự phát triển thành công của chủ nghĩa xã hội như quan niệm về chủ nghĩa xã hội là nhiều nhà máy xí nghiệp với những ống khói chọc trời[22]

  Đến 1993 sau khi tiến hành sự nghiệp đổi mới công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước lần đầu tiên một văn bản pháp lý quan trọng là Luật Bảo vệ môi trường 1993 ra đời, trong Luật này mặc dù chưa coi phòng ngừa là một nguyên tác trong hoạt động bảo vệ môi trường, nhưng ở những điều luật cụ thể đều có những quy định về các biện pháp để phòng ngừa ô nhiễm môi trường, sự cố môi trường và suy thoái môi trường, biện pháp phòng ngừa ngày càng phát huy được vai trò của nó trong hoạt động bảo vệ môi trường và đến Luật Bảo vệ môi trường (LBVMT) 2005 ra đời đã thừa nhận coi trọng phòng ngừa là một nguyên tắc trong hoạt động bảo vệ môi trường. Vậy nôi dung của nguyên tắc này thế nào chúng ta cùng tìm hiểu.

4. Mối quan hệ của nguyên tắc phòng ngừa với các nguyên tắc khác trong hoạt động bảo vệ môi trường

          Để tiến hành hoạt động bảo vệ môi trường có hiệu quả thì trong quá trình soạn thảo, ban hành, thông qua cũng như trong quá trình thực hiện hoạt động bảo vệ môi trường cần tuân theo những nguyên tắc nhất định. Những nguyên tắc tắc này một mặt chúng độc lập, phát huy những vai trò khác nhau để đảm bảo mục đích của hoạt động bảo vệ môi trường. Tuy nhiên, các nguyên tắc này chúng cũng có mối liên hệ mật thiết và tác động qua lại lẫn nhau.

4.1. Mối quan hệ giữa nguyên tắc phòng ngừa với nguyên tắc phát triển bền vững trong hoạt động bảo vệ môi trường

          Trong hoạt động bảo vệ môi trường nguyên tắc phòng ngừa ô nhiễm, sự cố hay suy thoái môi trường và nguyên tắc bảo vệ môi trường gắn với phát triển bền vững có mối quan hệ chặt chẽ và có sự tác động qua lại lẫn nhau. Phát triển bền vững là phát triển đáp ứng được nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không làm ảnh hưởng đến khả năng đáp ứng nhu cầu đó của các thế hệ tương lai trên cơ sở kết hợp chặt chẽ, hài hoà giữa tăng trưởng kinh tế, bảo đảm tiến bộ xã hội và bảo vệ môi trường[23]. Do vậy, để đảm bảo phát triển bền vững thì một trong ba vấn đề được quan tâm hàng đầu là phòng ngừa ô nhiễm, sự cố, suy thoái môi trường. Bởi không thể có phát triển bền vững nếu môi trường sống bị ô nhiễm, hệ sinh thái bị suy thoái khi đó sẽ dẫn tới nhiều vấn đề ví dụ: nước bị ô nhiễm, rừng bị suy thoái, cạn kiệt tài nguyên sẽ ảnh hưởng ngay đến quá trình sản xuất của thế hệ hiện tại chứ chưa nói đến để cho thế hệ tương lai sử dụng, khai thác dầu mỏ quá nhiều dẫn đến nguồn dầu mỏ giảm và dần cạn kiệt, không có nhiên liệu cho sản xuất, phát triển kinh tế, cho sinh hoạt và dẫn tới khủng hoảng kinh tế-xã hội và do vậy khó có thể nói tới phát triển bền vững được hoặc phát triển bền vững chỉ là mơ mộng viển vông của con người. Tuy nhiên, vấn đề này sẽ không xảy ra nếu chúng ta coi trọng phòng ngừa trong hoạt động bảo vệ môi trường phòng chống ô nhiễm, sự cố, suy thoái môi trường tức là chúng ta thực hiện các biện pháp khai thác có kế hoạch và quy hoạch không khai thác bừa bãi, đồng thời với quá trình này là đẩy mạnh trồng rừng, nghiên cứu tìm các nguồn nguyên, nhiên liệu mới phục vụ sản xuất, phục vụ cuộc sống của con người. Khi đó hoạt động xản xuất vẫn phát triển và nhu cầu của thế hệ tương lại vẫn được đảm bảo.

          Mặt khác, trình độ dân trí thấp, người dân thiếu hiểu biết về những nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường thì họ sẽ phòng thể phòng ngừa ô nhiễm môi trường được. Hơn nữa, chúng ta không thể đầu tư những công nghệ trang thiết bị hiện đại để bảo vệ, phòng ngừa ô nhiễm, khắc phục sự cố, suy thoái môi trường nếu kinh tế kém phát triển, đời sống của nhân dân còn đói nghèo hoặc không có sự hợp tác, giúp đỡ quốc tế trong bảo vệ môi trường, và khi đã phát triển bền vững kinh tế phát triển, đời sống của nhân dân ngày càng được cải thiện, dân trí được nâng cao môi trường sống ngày càng trong lành khi đó sẽ có điều kiện thuận lợi về khoa học, kỹ thuật, về ý thức của người dân, về sự ủng hộ giúp đỡ của các quốc gia trong việc bảo vệ môi trường nói chung cũng như phòng ngừa trong hoạt động bảo vệ môi trường nói riêng sẽ được thực hiện triệt để và có hiệu quả hơn. Từ đó cho chúng ta thấy bảo vệ môi trường phải có sự gắn kết hài hoà với phát triển kinh tế và bảo đảm tiến bộ xã hội đẻ phát triển bền vững đất nước;

 4.2. Mối quan hệ giữa nguyên tắc phòng ngừa và nguyên tắc đảm bảo quyền con người được sống trong môi trường trong lành

          Một trong những quyền cơ bản và quan trọng nhất của con người là quyền được sống([24]), lịch sử phát triển của xã hội loài người cho thấy quyền sống của con người ngày càng được bảo đảm về mặt pháp lý bằng các thể chế dân chủ nhưng lại bị đe doạ bởi ô nhiễm và suy thoái môi trường; quyền sống của con người không thể là chung chung mà nó phải gắn liền với môi trường sống trong lành, được quy định thành nguyên tắc đầu tiên trong Tuyên bố Liên hợp quốc về môi trường con người là: “con người có quyền cơ bản được sống trong một môi trường chất lượng, cho phép cuộc sống có phẩm giá và phúc lợi mà con người có trách nhiệm long trọng bảo vệ, cải thiện cho thế hệ hôm nay và mai sau”[25] Tuyên bố Rio de Janeiro cũng khẳng định: “Con người là trung tâm của các mối quan tâm về sự phát triển lâu dài. Con người có quyền được hưởng một cuộc sống hữu ích, lành mạnh và hài hoà với thiên nhiên”. Qua đó chúng ta thấy đòi hỏi của hai nguyên tắc này là mọi quy định của pháp luật về môi trường phải lấy bảo đảm điều kiện sống của con người trong đó có điều kiện về môi trường là quan tâm số một. Mà để đảm bảo được các điều kiện về môi trường, sao cho các thành phần môi trường không bị biến đổi theo hướng bất lợi vượt quá tiêu chuẩn môi trường cho phép thì chúng ta phải có những biện pháp nhất định để phòng ngừa những tác hại xấu đến môi trường đồng thời có các biện pháp khắc phục sự cố, suy thoái môi trường, như thế chúng ta mới giữ gìn được môi trường trông lành sạch đẹp. Ở đây chúng ta phải nhận thức rõ một điều là khi nói đến bảo đảm quyền con người nói chung thường người ta nói đến trách nhiệm của Nhà nước xây dựng các thiết chế dân chủ, thừa nhận và quy định bảo đảm pháp lý về quyền con người. Tuy nhiên, việc bảo đảm quyền con người được sống trong môi trường trong lành thì ngoài việc Nhà nước quy định về mặt pháp lý, sự giúp đỡ của các tổ chức xã hội về bảo vệ môi trường…thì con người mà cụ thể là mỗi người dân cũng phải tự bảo vệ mình, bởi đó là quyền của mình, nhưng để bảo vệ được quyền được sống trong môi trường trong lành của mình thì một mặt con người phải nhận thức được đó không chỉ là quyền mà còn là nghĩa vụ, trách nhiệm của tất cả mọi người, được như vậy thì việc phòng ngừa ô nhiễm, sự cố, suy thoáimôi trường mới đạt được hiệu quả. Ngoài ra, nguyên tắc phòng ngừa còn có quan hệ chạt chẽ và tác động qua lại với các nguyên tắc khác trong hoạt động bảo vệ môi trường như: nguyên tắc thống nhất trong quản lý và bảo vệ môi trường…

II. Nội dung và sự thể hiện của nguyên tắc phong ngừa trong hoạt động bảo vệ môi trường 

1. Nội dung của nguyên tắc phòng ngừa trong hoạt động bảo vệ môi trường

Môi trường khác với hiện tượng xã hội khác ở chỗ khi ô nhiễm, suy thoái, sự cố hay thảm hoạ môi trường xảy ra thì khả năng khôi phục hiện trạng hoặc như ban đầu thường hoặc không thể thực hiện được hoặc rất khó khăn, tốn kém và mất nhiều thời gian. Ví dụ như những khu rừng nguyên sinh bị tàn phá, những loại động, thực vật bị tuyệt chủng… Chính vì vậy ngăn ngừa những hành vi gây hại cho môi trường cần được chú trọng hơn so với việc áp dụng hình phạt hoặc các chế tài khác trong hoạt động bảo vệ môi trường. Khoản 3, Điều 4 LBVMT 2005 quy đinh: “Hoạt động bảo vệ môi trường phải thường xuyên lấy phòng ngừa là chính kết hợp với khắc phục ô nhiễm, suy thoái và cải thiện chất lượng môi trường”. Hơn nữa, như chúng ta đã biết biện pháp phòng ngừa ô nhiễm môi trường là ngăn chặn hànhv i xả thải vào môi trường các chất thải, chất gây ô nhiễm. Còn biện pháp chủ yếu để phòng ngừa suy thoái môi trường là ngăn chặn hành vi khai thác, sử dụng quá mức các thành phần môi trường. Do vậy nội dung của nguyên tắc phòng ngừa trong hoạt động bảo vệ môi trường gồm những vấn đề sau:

 – Hoạt động bảo vệ môi trường phải lấy phòng là chính, tức là hiện tại « nhiÔm, suy thoái môi truờng chưa xảy ra và ta có biện pháp phòng tránh nó, để bảo vệ môi trường được nguyên vẹn. Hoạt động bảo vệ môi trường rất đa dạng có nhiều biện pháp khác nhau được áp dụng như: từ những biện pháp nhỏ như tuyên truyền cho người dân cũng như các doanh nghiệp, tổ chức… biết tác hại của ô nhiễm môi trường đối với đời sống của con người từ đó hướng dẫn người dân cách phòng ngừa như: không đổ rác bừa bãi, không xả thải các chất thải chưa qua xử lý trực tiếp ra môi trường đồng thời nghiờm cấm, quy định giới hạn vệc khai thỏc quỏ mức cỏc thành phõn mụi trường vớ dụ như: rừng nguyên sinh, rừng phũng hộ, cỏc loài động thực vật… đến các biện pháp mạnh như quy định các chế tài, hình phạt với những hành vi có khả năng hñy hại đến môi trường. Bảo vệ môi trường nước, không khí, môi trường đất hay môi trường nào khác đi chăng nữa cũng phải dựa trên nguyên tắc phòng ngừa, phòng ngừa ô nhiễm môi trường cần phải được tiến hành thường xuyên trong tất cả các giai đoạn của quá trình bảo vệ môi trường, việc phòng ngừa này phải được kiểm tra, giám sát…bởi phòng ngừa những tác hại xấu tới môi trường chỉ có ý nghĩa khi mọi cá nhân cũng như cơ quan, tổ chức phải ý thực được hành động của mình là bảo vệ chính sự sống của họ, của người thân cũng như toàn xã hội, hơn nữa với một số trường hợp phức tạp thì các biện pháp, công cụ để phòng ngừa đó vẫn chưa bị lạc hậu, hư hỏng và vẫn trong thời hạn cho phép. Ngược lại phòng ngừa sẽ hết hoặc không có ý nghĩa, không/kém hiệu quả nếu mỗi người chưa nhận thức được tầm quan trọng trong quá trình thực hiện hành vi phòng ngừa ô nhiễm môi trường của mình cũng như các biện pháp chúng ta đưa ra đã lỗi thời hoặc không đáp ứng được yêu cầu của hoạt động bảo vệ môi trường đối với những trường hợp ô nhiễm môi trường công nghệ cao như dò dỉ chất phóng xạ hạt nhân…mà chúng ta thiếu máy móc kỹ thuật cao để phát hiện sự đời sống dĩ đó. Phòng ngừa ô nhiễm, sự cố, suy thoái môi trường không chỉ cần được thực hiện thường xuyên để phát hiện ra những tác nhân mới có thể gây hại cho môi trường mà theo chúng tôi nguyên tắc phòng ngừa còn là nguyên tắc trước tiên, là chính của hoạt động bảo vệ môi trường, còn các biện pháp khác mang phối hợp và khắc phục hậu quả. Bởi phòng ngừa ô nhiễm, sự cố hay suy thoái môi trường tức là những biện pháp được áp dụng trước khi xảy ra những hiện tượng này nhằm ngăn chặn, triệt tiêu hoặc giảm thiểu tối đa những nguyên nhân có thể gây hại cho môi trường. Các ông cha ta thường nói “phòng bệnh hơn chữa bệnh”, “tích cốc phòng cơ, tích yêu phòng hàn”… Do đó, ngay từ lúc bắt tay vào xây dựng kế hoạch làm việc chúng ta đã phải tính đến những vấn đề với môi trường có thể xảy ra và từ đó đưa ra các biện pháp phòg tránh.

     – Một điều dễ dàng chúng ta có thể thấy là trong đời sống hàng ngày tất cả mọi sự chuẩn bị từ phía chủ quan của con người nhằm ngăn ngừa, ngăn chặn những tác động xấu của tự nhiên, xã hội đối với con người trong đó có ô nhiễm, suy thoái môi trường…nó chỉ mang tính tương đối và chỉ đối phó được với những tác động này trong trường hợp bình thường, còn khi có những tác động bất thường do tự nhiên hoặc xã hội gây ra thì duờng như con người vẫn chưa dự báo và tránh được…lúc này phòng ngừa trước sẽ giúp hạn chế, giảm bớt được thiệt hại, nhưng không ngăn chặn được hậu quả xảy ra. Do vậy lúc này chúng ta phải có sự kết hợp giữa việc phòng ngừa với các hoạt động khác như ngăn chặn, khắc phục hậu quả của những tác đông xấu đó đối với con người. Trong hoạt động bảo vệ môi trường cần kết hợp giữa nguyên tắc phòng ngừa với việc khắc phục ô nhiễm, suy thoái môi trường và cải thiện môi trường. Phòng ngừa ô nhiễm môi trường nhằmg giữa cho thành phần môi trường được ổn định như ban đầu không vượt quá tiêu chuẩn môi trường cho phép. Còn với những khu vực môi trường đã bị ô nhiễm một mặt ta phải có những biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn ô nhiễm môi trường. Mặt khác, chúng ta phải khắc phục những sự cố, suy thoái môi trường tức là cần có sự kết hợp giữa cả phòng ngừa và các biện pháp khắc phục ô nhiễm, suy thoái môi trường. Mục đích của hoạt động bảo vệ môi trường nhằm giữ gìn cho môi trường trong lành, sạch đẹp do vậy khi môi trường bị ô nhiễm suy thoái mà nếu chỉ áp dụng nguyên tắc phòng ngừa ngăn chặn thì chúng ta mới chỉ ngăn không cho ô nhiễm bùng phát rồng hơn mà vẫn chưa đat được thể làm cho môi trường trong lành sạch đẹp Do vậy cần bên cạnh viêc phòng ngừa ô nhiễm môi trường là  khắc phục sư cố, ô nhiếm môi trường dần dần đồng thời cải thiện chất lượng môi trường như: đẩy mạnh trồng rừng… trong khi có các biện pháp phòng tránh không để ô nhiễm hơn thì mục đích bảo vệ môi trường cũng sẽ đạt được. Luật Bảo vệ môi trường coi phòng ngừa là một nguyên tắc chủ yếu, nguyên tắc này hướng việc ban hành và áp dụng các quy định pháp luật vào sự ngăn chặn các chủ thể thực hiện các hành vi gây nguy hại cho môi trường. Phòng ngừa còn được thể hiện qua các hành vi của các chủ thể ở các cấp độ khác nhau trong hoạt động bảo vệ môi trường thực hiện như: cá nhân không đươc thực hiện những hành vi mà Điều 29 Luật Bảo vệ môi trường 2005 cấm đồng thời khi thực hiện những hành vi nhát định tác động vào môi trường thì có trách nhiệm thực hiện đúng quy định của pháp luật về phòng ngừa những tác động xấu đối với môi trường. Dưới góc độ tập thể, cộng dồng thì nội dung của nguyên tắc phòng ngừa lại được thể hiện qua các qy tắc, các biện pháp giáo dục, các hành động tập thể về phòng ngừa ô nhiễm môi trường,như giữ gìn vệ sinh công cộng…ở cấp độ quốc gia phòng ngừa ô nhiễm, sự cố, suy thoái môi trường được thể hiện qua các quy định của pháp luật về phòng ngừanh ví dụ từ ngày 1/6/2008 tất cả các cửa hàng, các siêu thị trên toàn Trung Quốc cấm sử dụng túi lylông thay vào đó là túi có khả năng tự tiêu huỷ…

2. Sự thể hiện của nguyên tắc phòng ngừa trong các văn bản pháp luật về bảo vệ môi trường

2.1. Các văn kiện pháp lý quốc tế

a. Trong Tuyên bố của Hôi nghị Liên hợp quốc về môi trường con người

Vào những năm 70 của thế kỷ XX do sự phát triển như vũ bão của kinh tế, trước nhu cầu sử dụng các nguồn tài nguyên không tái tạo từ thiên nhiên ngày càng tăng dẫn đến nhân loại thực sự đứng trước những thử thách to lớn về môi trường. Song hành với phát triển kinh tế, con người cũng đang tàn phá chính môi trường sống của mình, môi trường nước, không khí, đất…bị ô nhiễm nghiêm trọng, nạn phá rừng tràn lan cùng với việc khai thác không ngừng nghỉ các nguồn tài nguyên tới mức suy kiệt đồng thời với nó là sự bùng nổ dân số ở các nước châu Á, Phi… là những yếu tố gây tác hại nghiêm trọng tới môi trường. Trước tình hình ô nhiễm, suy thoái môi trường như vậy, nhiều tổ chức chuyên môn của Liên hợp quốc cũng như các tổ chức khu vưc và kinh tế khác trong khuôn khổ của mình cùng đã đưa ra những biện pháp thể hiện để bảo vê môi trường và ngăn ngừa ô nhiễm, suy thoái môi trường. Cụ thể như: Tổ chức hàng không thế giới (ICAO); Tổ chức Y tế thế giới (WHO) hay Tổ chức nông lương thế giới (FAO) đã đưa vấn đề phòng ngừa bảo vệ môi trường vào các chương trình nghị sự của mình. Tuy dã có nhiều cố gắng trong việc đưa ra các biện pháp để bảo vệ môi trường nhưng mới chỉ giải quyết được vài khía cạnh của vấn đề chứ chưa giải quyết được một cách toàn diện, bởi để có thể phòng ngừa bảo vệ moi trường được toàn diện trên pham vi toàn cầu thì chúng ta cần phải có sự phối hợp chặt chẽ ngoài các tổ chức quốc tế là các quốc gia trên thế giới. Do thấy được tầm quan trọng của vấn đề, sự nên tiếng của các tổ chức quốc tế Đại hội đồng Liên hợp quốc đã đi đến thống nhất thông qua Nghị quyết triệu tập Hội nghị Sotockholm như một sự khẳng định sự cần thiết phải có những hành động nhanh chóng nhằm phòng ngừa, hạn chế ô nhiễm môi trường con người.

Hội nghị Liên hợp quốc về môi trường con người đã được tổ chức tại Stockholm (Thuỵ Điển từ ngày 5 đến ngày 16 tháng 6 năm 1972 với sự tham gia của 113 quốc gia từ các khu vực địa lý và đại diện cho các nước có lợi ích kinh tế khác nhau. Hội nghị đã thông qua tuyên bố Stockholmvề môi trường con người; thông qua kế hoạch hành động và Quyết định thành lập Chương trình môi trường Liên hợp quốc(UNEP). Mặc dù Hôi nghị này không thông qua một văn bản có giá trị dàn buộc về mặt pháp lý mà chỉ mang tính chất khuyến nghị với muc đích tạo cơ sở cho chính sách toàn cầu về bảo vệ môi trường toàn cầu. Tuy nhiên, Tuyên bố cũng đã đề ra những nguyên tắc quan trọng đặt nền móng cho sự phát triển của pháp luật quốc tế về bảo vệ môi trường, trong đó có nguyên tắc phòng ngừa trong hoạt động bảo vệ môi trường. Tuyên bố  chỉ  ra rằng: ([26])Khoa học và công nghệ đóng góp một phần vào phát triển kinh tế và xã hội, cần phải đươc áp dụng để xác định, tránh và kiểm soát những rủi ro về môi trường và giải quyết các vấn đề tồn tại về môi trường và về sự tốt đẹp chung của nhân loại”. Qua nguyên tắc trên chúng ta thấy được tầm quan trọng của khoa học, công nghệ đối với hoạt động bảo vệ môi trường, đặc biệt là áp dụng các công nghệ khoa học kỹ thuật hiện đại vào phòng ngừa, kiểm soát những rủi ro về môi trường có thể xảy ra đối với con người. Phòng ngừa trong hoạt động bảo vệ môi trường không chỉ là việc áp dụng khoa học kỹ thuật để ngăn ngừa, cảnh báo ô nhiễm suy thoái mà còn là nâng cao sự nhận thức của con người đối với hoạt động bảo vệ môi trường. Đây có thể nói là biện pháp phòng ngừa quan trọng và nó cũng được ghi nhận trong Tuyên bố: ([27])Giáo dục về các vấn đề môi trường cho thế hệ trẻ cũng như người lớn. Xem xét đúng mức tới những người không có đặc quyền, là vấn đề cốt yếu để mở rộng cơ sở cho từng cá nhân, xí nghiệp, cộng đồng được bày tỏ quan điểm và đạo đức trách nhiệm của họ trong việc bảo vệ và cải thiện môi trường với đầy đủ tầm cỡ của con người. Các phương tiện thông tin đại chúng cũng có ý nghĩa quan trọng trong việc góp phần tránh suy thoái môi trường. Mặt khác, cần tuyên truyền thông tin có tính chất giáo dục về nhu cầu bảo vệ và cải thiện môi trường để con người có thể phát triển mọi lĩnh vực”. Để đảm bảo con người được phát triển một cách toàn diện thì con người phải được đảm bảo các điều kiện sống tương ứng và được sống trong môi trường trong lành, phải được giáo dục về việc cần thiết phải bảo vệ môi trường sống của mình, điều này cũng đã được Tuyên bố chỉ rõ. Môi trường có vai trò vô cùng quan trọng trong quá trình duy trì sự sống của con người, của sinh vật và của cả hệ sinh thái trên trái đất. Sự phát triển như vũ bão của kinh tế đã làm môi trường ngày càng suy thoái và ô nhiễm trầm trọng đòi hỏi phải có những công nghệ cao để xử lý được và trong quá trình này một quốc gia không thể làm được mà cần phải có sự hợp tác chia sẻ toàn cầu. Do đó tuyên bố cũng chỉ ra: “Cần phải thúc đẩy công tác nghiên cứu và triển khai khoa học ở tất cả các nước trong phạm vi những vấn đề tồn tại về môi trường ở quy mô quốc gia và đa quốc gia, đặc biệt là ở các nước đang phát triển. Liên quan tới vấn đề này, cần phải ủng hộ và giúp đỡ để tạo điều kiện dễ dàng giải quyết các vấn đề tồn tại về môi trường bằng việc cung cấp các dòng thông tin khoa học mới nhất và chuyển giao kinh nghiệm không mất tiền: cần phải sẵn có công nghệ môi trường cho các nước đang phát triển, với điều kiện sẽ động viên việc truyền bá rộng rãi các công nghệ này mà không tạo ra gánh nặng về kinh tế đối với các nước đang phát triển”.  Đây là một nguyên tắc rất quan trọng để các nước phát triển hỗ trợ các nước đang phát triển trong quá trình phát triển kinh tế đồng thời hạn chế, ngăn ngừa ô nhiễm môi trường xảy ra. Bên cạnh những thành công mà tuyên bố Stockholm mang lại đó là những nguyên tắc về bảo vệ môi trường thì chúng ta còn chứng kiến sự ra đời của môt kế hoạch hành động, trong kế hoạch này có đề ra nhiều mục đích khác nhau để phòng ngừa bảo vệ môi trường như nắm bắt thông tin, báo trước hiểm hoạ môi trường, thúc đẩy nghiên cứu khoa học, đánh giá các dữ kiện, kết nối trên mạng vi tính những thông tin hữu ích cho các quốc gia… Ngoài ra Chương trình môi trường Liên hợp quốc (UNEP) về và Quỹ Môi trường Liên hợp quốc đã có nhiều đóng góp to lớn cho hoạt động bảo vệ môi trường thế giới, dưới sự bảo trợ của UNEP nhiều Công ước quốc tế về bảo vệ môi trường đã ra đời như:  Công ước Viên về bảo vệ tầng ôzôn hay Công ước khung về biến đổi khí hậu toàn cầu, Công ước đa dạng hoá sinh học… Quá trình phát triển kinh tế thế giới nhanh chóng chủ yếu là phát triển công nghiệp nặng nên tài nguyên khoáng sản ngày càng bị tàn phá nghiêm trọng, con người ngày càng nhận ra sự tác động ghê gớm của kinh tế đến môi trường mà như chúng ta đã biết Hội nghị Sockholm về môi trường con người nó không có giá trị pháp bắt buộc với bất kỳ quốc gia nào, mặt khác trong hội nghị Stockholm, vấn đề môi trường chỉ được coi là các vấn đề sinh học, vật lý mà không gắn với vấn đề kinh tế và chính trị – xã hội.

b. Trong Tuyên bố của Hội nghị Liên hợp quốc về môi trường và phát triển1992

Do đó, sau khi Hội nghị này kết thúc thì tình hình môi trường toàn cầu cũng như của các quốc gia vẫn chưa được cải thiện nhiều, do nhiều nguyên nhân trong đó nguyên nhân chủ yếu là sự mâu thuẫn giữa đẩy mạnh phát triển kinh tế đát nước với việc đẩy mạnh hoạt động bảo vệ môi trường, hoạt động bảo vệ môi trường năm 1989 Liên hợp quốc đã thông qua một Nghị quyết kêu gọi một hội nghị tạo cơ sở cho cuộc sống bền vững trên trái đất nhằm giải quyết các vấn đề môi trường với chính trị xã hội và phát triển kinh tế. Theo Nghị quyết này hội nghị, Hội nghị Liên hợp quốc về môi trường và phát triển được tổ chức tại Rio de Janeiro, Braxin từ ngày 3 đến ngày 14 tháng 6 – 1992 với đại diện của 178 quốc gia trong đó có 118 nguyên thủ quốc gia, khoảng 10.000 nghìn nhà môi trường học và 8000 nhà báo tới dự, nước ta là Phó Thủ tướng Nguyễn Khánh tới dự và phát biều ý kiến. Hội nghị đã thông qua bản tuyên bố chung và Chương trình nghi sự 21. Hội nghị này đã chỉ ra sự gắn bó giữa môi trường và phát triển kinh tế đồng thời bản tuyên bố cũng chỉ ra các biện pháp để phòng ngừa ô nhiễm, sự cố môi trường như xác định trách nhiệm của các quốc gia đối với các hoạt động dẫn tới suy giảm môi trường toàn cầu, cụ thể là nghĩa vụ phải hợp tác trong việc lựa chọn những phương thức sản xuất và tiêu dùng ít ảnh hưởng tới môi trường Bản tuyên bố chỉ ra rằng: “Để bảo vệ môi trường, các quốc gia càn áp dụng rộng rãi phương pháp tiếp cân ngăn ngừa tuỳ theo khả năng từng quốc gia, ở chỗ nào có nguy cơ tác hại nghiêm trọng hay không thể sửa được, thì không thể nêu lý do là thiếu sự chắc chắn khoa học hoàn toàn để trì hoãn áp dụng hữu hiệu để ngăn chặn sự thoái hoá môi trường”. Mặt khác, Bản tuyên bố còn chỉ rõ: “Các nhà chức trách quốc gia nên cố gắng đẩy mạnh sự quốc tế hoá những chi phí môi trường và sử dụng các biện pháp kinh tế, căn cứ vào quan điểm cho rằng về nguyên tắc người gây ô nhiễm phải chịu phí tổn ô nhiễm, với sự quan tâm đúng mực đối với quyền lợi chung và không ảnh hưởng xấu đến nền thương mại và đầu tư quốc tế”. Vấn đề môi trường không chỉ là của riêng một quốc gia nào mà là một vấn đề mang tính chất toàn cầu, tác động đến mọi quốc gia và mọi tầng lớp dân cư trên thế gới, điều này chúng ta có thể thấy rõ qua vụ cháy rừng ở đảo Kalimata(Inđonesia) đã gây nên ô nhiễm môi trường trầm trọng không chỉ đối với nước này mà còn tạo nên một lượng khói bụi khổng lồ bào trùm các nước Malaixa, Brunây và Xingapo trong nhiều ngày hay vụ cháy nhà máy hoá chất ở Đông bắc(Trung Quốc) đã gây ô nhiễm môi trường trên sông Amon gây ảnh hưởng không chỉ đến Trung Quốc mà còn ảnh hưởng cả đến Nga hay ô nhiễm môi trường trên sông Đanúp ảnh hưởng đến hầu hết các nước Trung và Nam âu có dòng sông này chảy qua. Qua những ví dụ trên ta thấy các quốc gia cần phải có sự hợp tác và phòng ngừa chia sẻ công nghệ trong hoạt động bảo vệ môi trường. Diều đó cho thấy các nước nầ phải có một cơ chế để phối hợp, phòng ngừa, ngăn chặn những thảm họa, những sự cố về môi trường có thể xảy ra bởi khi nhưng sự cố, ô nhiễm môi trường đó xảy ra thì việc ngăn chặn xử lý nó sẽ khó hơn rất nhiều, và chi phí để giải quyết khắc phục hậu quả là vô cung tốn kém, ảnh hưởng lâu dài đến môi trường sống ở khu vực bị ô nhiễm đó.

Bên cạnh các Tuyên bố của các Hội nghị quốc tế về bảo vệ môi trường thì nguyên tắc phòng ngừa cũng luôn được coi trọng và được quy định trong các Công ước khác như:

– Như chúng ta đã biết sự phát triển công nghiệp một cách ồ ạt trong khi lại ít quan tâm đến vấn đề môi trường dẫn tới các chất thải ra ngoài môi trường gây ô nhiễm không chỉ đất đai, nguồn nước mà còn gây ô nhiễm không khí phá hủy tầng ôzôn đây là một vấn đề rất nguy hiểm, bởi tầng ozon bao bọc quanh trái đất bảo vệ trái đất tránh những tia cực tím, tia hồng ngoại gây ung thư ở người và động vật. Do vậy Công ước Viên về Bảo vệ tầng ô zôn(1985) ra đời nhằm mục đích hạn chế sự phát thải các chất khí có hại này là hạn chế sự phát thải các chất khí có hại tới tầng ôzôn nhằm bảo vệ sức khỏe con người trước những ảnh hưởng do biến đổi tầng ôzôn. Từ mục đích trên Công ước đưa ra những biện pháp đặc biệt là các biện pháp phòng ngừa trong hoạt bảo vệ tầng ôzôn như: ngăn ngừa kiểm soát lượng khí thải có thể làm suy giảm tầng ôzôn; hạn chế việc sử dụng một số chất khí nhất định như Clo, Flo, Các bon mà giới khoa học hay gọi là khí (CFC)…

Vấn đề môi trường là vấn đề rộng lớn, trong mỗi giai đoạn khác nhau tùy thuộc vào trình độ khoa học – kỹ thuật, tùy thuộc vào từng loại ô nhiễm mà thế giới cũng như mỗi quốc gia có sự quan tâm khác nhau. Trước đây việc xây dựng các nhà máy hóa chất nước thải thì các nhà bảo vệ môi trường, nhà lập pháp chú ý đến bảo vệ nguồn đất, nước gần khu công nghiệp. Nay do sự phát triển của khoa học kỹ thuật, khả năng phân tích về ô nhiễm môi trường cũng như khả năng xem xét cảnh báo các sự cô ô nhiễm môi trường tốt hơn con người phát hiện ra rằng mình cần bảo vệ tầng ôzon nữa… Do đó các quy định của pháp luật quốc tế đóng vai trò rất quan trọng góp phần tích cực vào quá trình bảo vệ môi trường và đây cũng là một công cụ thuận lợi để thực hiện biện pháp phòng ngừa trong bảo vệ môi trường. Vấn đề được quan tâm nhiều nhất hiện nay là vấn đề biến đổi khí hậu toàn cầu, điều này đã được thể hiện qua Công ước khung về thay đổi khí hậu của Liên hợp quốc(1992). Những năm qua nồng độ khí nhà kính đã vượt quá ngưỡng tự nhiên suốt 650 nghìn năm qua. Các tảng băng ở Nam Cực, ởGreenlandđang tan chảy với tốc độ ngày càng nhanh. Đại dương xuất hiện hiện tượng axít hóa. Rừng nhiệt đới bị thu hẹp…  Từng hiện tượng riêng hay các hiện tượng kết hợp với nhau đều đưa thế giới tiến gần tới “điểm tràn”. Theo tính toán, ngân quỹ các-bon cho toàn thế kỷ 21 có thể sẽ bị cạn kiệt vào năm 2032. Trong thế kỷ 21, nhiệt độ thế giới có thể tăng thêm 5 độ C, tương đương với sự thay đổi nhiệt độ từ thời kỳ băng hà, thời kỳ phần lớn châu Âu và Bắc Mỹ còn nằm dưới lớp băng dầy 1km. Trong khi đó, ngưỡng biến đổi khí hậu nguy hiệm là tăng thêm 2 độ C. Nếu vượt qua ngưỡng 2 độ này, kết quả phát triển con người sẽ bị đẩy lùi trên quy mô lớn, các thảm họa sinh thái không thể đảo ngược sẽ xảy ra. Việt Nam không nằm trong danh sách 57 quốc gia đứng đầu về gây ô nhiễm môi trường nhưng lại là 1 trong 5 nước chịu ảnh hướng của hiện tượng biến đổi khí hậu toàn cầu. Do đó, đây là một vấn đề cấp bách không chỉ của các nước trên thế giới mà còn của cả ViệtNam.

Ngoài ra nguyên tắc phòng ngừa trong hoạt động bảo vệ môi trường cũng được ghi nhận trong các Công ước quốc tế khác như: Công ước về các vùng đất ngập nước có tầm quan trọng quốc tế đặc biệt như là nơi cư trú của loài chim nước(Công ước Ramsar – 1972); Công ước quốc tế về chống ô nhiễm do tầu biển (Marpol) và Nghị định thư 1978; Công ước Luật biển(1982); Công ước Basel về kiểm soát vận chuyển qua biên giới các phế thải nguy hiểm và việc xử lý chúng- 1989; Công ước về đa dạng sinh học – Rio de Janario và các công ước này Việt nam đều đã tham gia và trở thành một trong những thành viên tích cực của Công ước trong bảo vệ môi trường.

2. 2. Trong các văn bản pháp lý trong nước

a. Trong Luật bảo vệ môi trường 1993

Sau khi tiến hành sự nghiệp đổi mới đẩy mạnh phát triển kinh tế nhằm tiến tới công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước để thực hiện nhiệm vụ phát triển Nhà nước ta đã ban hành nhiều đạo luật về Công ty, về kinh tế… đồng thời do xác định rõ được tầm quan trọng của môi trường, hoạt động bảo vệ môi trường mà cụ thể là phòng ngừa những tác động xấu tới môi trường trong quá trình phát triển đất nước. Do vậy, Nhà nước cũng rất quan tâm, chú trọng đến vấn đề môi trường và Luật Bảo vệ môi trường(LBVMT) 1993 ra đời là văn bản pháp lý đầu tiên điều chỉnh chuyên biệt về vấn đề môi trường và bảo vệ môi trường. Trong LBVMT 1993 chưa quy định phòng ngừa là một nguyên tắc trong hoạt đông bảo vệ môi trường, tuy nhiên biểu hiện của nguyên tắc này lại được quy định khá đầy đủ và chi tiết trong những vấn đề cụ thể. Phòng ngừa trong hoạt động bảo vệ môi trường là việc tìm tòi, phát hiện nguyên nhân gây ra ô nhiễm, sự cố hay suy thoái môi trường từ đó có biện pháp để phòng ngừa, việc phòng ngừa của các chủ thể cá nhân, tổ chức, nhà nước có thể là đầu tư các công nghệ hiện đại sản xuất hoặc cũng có thể là không thực hiện hành vi đó để tránh ô nhiễm, sự cố môi trường…Vậy nên trong LBVMT 1993 để phòng ngừa những tác hại đối với môi trường, các nhà làm luật đã đưa ra hai loại quy định, đó là: thứ nhất, quy định những hành vi cấm tức là những hành vi mà cơ quan, tổ chức, cá nhân không được phép thực hiện; thứ hai, là  những quy định vẫn cho phép thực hiện nhưng cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện phải tuân thủ cũng như thực hiện những nghĩa vụ, trách nhiệm nhất định.

     Biểu hiện của nguyên tắc phòng ngừa qua trách nhiệm, nghĩa vụ quyền hạn của cơ quan nhà nước, tổ chức, cá nhân.

Bảo vệ môi trường là sự nghiệp của toàn dân[28] do vậy hoạt động bảo vệ môi trường nói chung và phòng ngừa ô nhiễm, sự cố, suy thoái môi trường nói riêng là trách nhiệm không chỉ của cơ quan nhà nước có thẩm quyền mà con là trách nhiệm của mọi tổ chức cá nhân. Trong LBVMT 1993 từ Điều 10 đến Điều 29 là sự thể hiện rõ thái độ của Nhà nước đối với biện pháp phòng ngừa trong hoạt động bảo vệ môi trường và là sự biểu hiện rõ ràng của nguyên tắc phòng ngừa.  Điều 10 quy định cơ quan quản lý nhà nước có trách nhiệm tổ chức điều tra, nghiên cứu đánh giá hiện trạng môi trường…có kế hoạch phòng, chống suy thoái moi trường, ô nhiễm môi trường, sự cố môi trường, điều này là hợp lý bởi chỉ có cơ quan nhà nước mới có đủ thẩm quyền cũng như trang thiết bị kỹ thuật để có thể nghiên cứu đánh giá một cách chính xác nhất về hiện trạng môi trường khu vực nào ô nhiễm môi trường, khu vực nào có khả năng suy thoái môi trường, đồng thời thông qua cácphương tiện thông tin đai chúng thông báo ho nhân dân biết và từ những đánh giá đó Nhà nước đưa ra những kế hoạch, những biện pháp để ngăn ngừa những tác động bất lợi với môi trường.

Mặt khác, nguyên tắc phòng ngừa ô nhiễm, sự cố và suy thoái môi trường còn được thể hiện trong Luật qua những quy định cấm tại Điểu 29 của Luật với những hành vi có nguy cơ gây ô nhiễm, suy thoái môi trường cao như:

          – Đốt phá rừng, khai thác khoáng sản một cách bừa bãi gây huỷ hoại môi trường, làm mất cân bằng sinh thái;

– Thải khói, bụi, khí độc, mùi hôi thối gây hại vào không khí; phát bức xạ, phóng xạ quá giới hạn cho phép vào môi trường xung quanh;

– Thải dầu mỡ, hoá chất độc hại, chất phóng xạ quá giới hạn cho phép, các chất thải, xác động vật, thực vật, vi khuẩn, siêu vi khuẩn độc hại và gây dịch bệnh vào nguồn nước;

– Chôn vùi, thải vào đất các chất độc hại quá giới hạn cho phép;

– Khai thác, kinh doanh các loại thực vật, động vật quý, hiếm trong danh mục quy định của Chính phủ;

– Nhập khẩu công nghệ, thiết bị không đáp ứng tiêu chuẩn môi trường; nhập khẩu, xuất khẩu chất thải;

     – Sử dụng các phương pháp, phương tiện, công cụ huỷ diệt hàng loạt trong khai thác, đánh bắt các nguồn động vật, thực vật.

     Đây là những quy định có ý nghĩa vô cùng lớn trong việc ngăn ngừa ô nhiễm, suy thoái môi trường. Bởi chúng ta thấy những hành vi trên của các cá nhân, tổ chức có thể trực tiếp dẫn đến ô nhiếm suy thoái môi trường nghiêm trọng. Nếu rừng bị đốt phá một cách bừa bãi sẽ dẫn đến nhiều loại động, thực vật trong rừng sẽ không thể tồn tại được và có nguy cơ tuyệt chủng dẫn tới suy thoái môi trường. Những quy định cấm trên nó tác động lớn đến hành vi của các chủ thể trong việc thực hiện hành vi của mình, bởi đi kèm theo những quy định cấm là những chế tài có thể là về hành chính, nặng hơn là chế tài hình sự, ngoài ra người vi phạm điều cấm mà gây thiệt hại cho người khác còn phải bồi thuờng về dân sự. Do đó, quy định này mang tính răn đe cao. Bên cạnh những quy định cấm để phòng ngừa, các tổ chức, cá nhân vẫn được thực hiện những hoạt động nhất định tuy nhiên để ngăn ngừa ô nhiễm, suy thoái môi trường họ phải tuân thủ những nghĩa vụ, trách nhiệm nhất định trong các hoạt động luật định của mình như:

 –  Thực hiện việc báo cáo đánh giá tác động môi trường(Điều18) quy định Tổ chức, cá nhân khi xây dựng, cải tạo vùng sản xuất, khu dân cư, các công trình kinh tế, khoa học, kỹ thuật, yêu tế, văn hoá, xã hội, an ninh, quốc phòng, chủ đầu tư dự án phải lập đầu tư của nước ngoài hay liên doanh với nước ngoài, chủ dự án kinh tế, xã hội khác phải lập báo cáo đánh giá tác dộng môi trường để cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường thẩm định. Qua đó ta thấy Luật bảo vệ môi trường 1993 quy định không chỉ các cơ sở kinh tế hoạt đông sau khi luật này có hiệu lực phải lập báo cáo ĐTM mà ngay cả các cơ sở kinh tế hoạt động trước khi Luật này có hiệu lực cũng phải lập báo cáo đánh giá tác dộng môi trưòng. Đây là những quy định rát tiến bộ và càn thiết bởi xác định những tác động mà một dự án cụ thể có thể gây ra đối với môi trường và đề xuất các biện pháp ngăn chặn hoặc giảm thiếu sẽ giúp hoạt động phòng ngừa ô nhiễm môi trường có hiệu quả ngay từ những khâu đầu tiên khi dự án vẫn còn trên giấy.

–  Trong hoạt động sản xuất cũng như trong tiêu dùng các cá nhân, “tổ chức, cá nhân có trách nhiệm bảo vệ giống loài thực vật, động vật hoang dã, bảo vệ tính đa dạng sinh học, bảo vệ rừng…”(Điều 12). Sự tồn tại phát triển của con người luôn gắn liền với môi trường, với các loài động thực vật tạo nên hệ sinh thái, nếu các loài động thực vật mà bị khai thác quá mức đến mức tuyệt chủng thì hệ sinh thái sẽ bị đe doạ, môi trường sẽ mất cân bằng và khi đó cuộc sống của con người cũng bị nguy hiểm. Nên việc quy định về bảo vệ môi trường, bảo vệ động, thực vật hoang dã, quý hiếm có tác dụng vô cùng lớn trong việc đảm bảo sự phục hồi về mật độ giống, loài sinh vật, không làm mất cân bằng sinh thái.

– Thực tế cho thấy việc sử dụng các loại phân hoá học, các loại thuốc bảo vệ thực vật không rõ nguồn gốc, không nằm trong danh mục cho phép sử dụng đã và đang để lại những hậu quả nặng nề với môi trường sống của con người, việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật tràn lan dẫn đến sự kháng thuốc ở sâu bệnh gây thiệt hại cho mùa màng, gây ô nhiễm môi trường đất, nước nơi sử dụng nó và ảnh hưởng cả đến sức khoẻ của con nguời gây lên bệnh tật khi sử dụng nó. Do vậy luật quy định, các chủ thể khi “sử dụng các chất hoá học, phân hoá học, thuốc bảo vệ thực vật, các chế phẩm sinh học khác phải theo đúng các quy định của pháp luật, không sử dụng những loại thuúo bảo vệ thực vật mà pháp luật cấm không được sử dụng…”(Điều 14) đây là một trong những biện pháp ngăn ngừa ô nhiễm hữu hiệu trong hoạt động bảo vệ môi trường đất, nước và sức khoẻ con người.

– Bất kỳ một nhà máy, xí nghiệp nào khi được xây dựng, đưa vào sản xuất đều có những tác động nhất định đến môi trường, những tác động này lớn có thể gây ô nhiễm môi trường. Do đó, để ngăn chặn những tác động xấu đến môi trường có thể xảy ra do những hoạt động trên Luật Bảo vệ môi trường 1993 đã quy định khi tiến hành các hoạt độ xuất kinh doanh các chủ thể phải thực hiện các biện pháp vệ sinh môi trường, đảm bảo có thiết bi kỹ thuật để xử lý chất thải, bảo đảm tiêu chuẩn môi trường; không được gây tiếng ồn, độ rung động vượt quá giới hạn cho phép làm tổn hại đến sức khoẻ và ảnh hưởng xấu đến sinh hoạt của nhân dân xung quanh.

b. Trong Luật Bảo vệ môi trường 2005

Đến Luật Bảo vệ môi trường 2005 thì phòng ngừa đã chính thức được thừa nhận và ghi nhận là một nguyên tắc trong hoạt động bảo vệ môi trường (khoản 3 Điều 4 Luật Bảo vệ môi trường 2005). Để đảm bảo nguyên tắc này được thực hiện, bên cạnh việc ghi nhận những quy đa phần những quy định về phòng chống ô nhiễm, suy thoái, sự cố môi trường như Luật Bảo vệ môi trường 1993 mà chúng tôi đã trình bày ở phần trên thì, Luật Bảo vệ môi trường 2005 cũng đưa ra những quy định mới về vấn đề này:  thứ nhất, áp dụng quy định về báo cáo đánh giá tác động môi trường chiến lược (ĐMC) đối với các chiến lược, các quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế xã hội cấp quốc gia…; thứ hai, Luật đã tăng cường các trách nhiệm kinh tế, hành chínhm hình sự nhằm nâng cao hiệu lực trong hoạt động phòng ngừa ô nhiễm, suy thoái môi trường; thứ ba, Luật 2005 đã phân chia tương đối cụ thể các quy định về bảo vệ môi trường đối với từng ngành, từng lĩnh vực (công nghiệp, nông nghiệp, giao thông vận tải, xây dựng, nhập khẩu phế liệu…); từng địa bàn cụ thể (đô thị, khu dân cư tập trung, nơi công cộng, khu sản xuất kinh doanh, dịch vụ tập trung, cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, công trình thuỷ lợi…). Cụ thể hơn, luật quy định trách nhiệm phân loại từ nguồn của từng đối tượng trong việc thu gom chất thải rắn thông thường, chất thải nguy hại; trách nhiệm xử lý nước thải, khí thải trước khi đưa vào hệ thống thải công cộng… hoặc các quy định về xử lý tiếng ồn, độ rung… đồng thời Luật này cũng đã phân rõ thẩm quyền quản lý về hoạt động bảo vệ môi trường của cấp Trung ương và cấp địa phương. Những quy định này đã góp phần nâng cao công tác phòng ngừa ô nhiễm, suy thoái môi trường này được tiến hành hiệu quả hơn.

III. Một số vấn đề về vận dụng nguyên tắc phòng ngừa trong hoạt động vảo vệ môi trường ở nước ta 

1. Nhận thức về nguyên tắc phòng ngừa trong hoạt động bảo vệ môi trường

          Ông cha ta thường quan niệm biết thì dễ làm thì mới khó, nhưng thực tế cuộc sống cho thấy không hẳn là như vậy mà đúng ra là biết thì khó làm thì dễ bởi chúng ta không thể nói đúng nếu chúng ta không biết mà muốn biết thì con người cần phải tìm hiểu và khi biết được rồi thì vận dụng vào cuôc sống, công việc sẽ không khó khăn nữa. Trong hoạt động bảo vệ môi trường cũng vậy muốn phòng ngừa được ô nhiễm môi trường, mỗi cá nhân, tổ chức phải nhận thức được hậu quả nếu ô nhiễm, suy thoái, sự cố môi trường xảy ra; phải nhận thức được tầm quan trọng trog các hành vi xử sự của mỗi người đối với môi trường, các biện pháp phòng ngừa bảo vệ môi trường… từ những nhận thức đó con người sẽ ý thức được hành vi của mình trong quá trình tác động vào môi trường cho hợp lý.

          Nhận thức này tùy theo từng cấp độ mà có sự phân loại thành nhận thức của các nhà lãnh đạo các quốc gia, các tổ chức quốc tế và nhận thức của cộng đồng, của mỗi tổ chức, cá nhân trong xã hội.

          – Trong một quốc gia đối với bất kỳ vấn đề gì để giải quyết được hiệu quả thì nhận thức của các nhà lãnh đạo đóng vai trò vô cùng quan trọng (tức là trước tiên phải có quyết tâm chính trị của các nhà lãnh đạo), các quyết tâm này chỉ có thể có được khi các nhà lãnh đạo nhận thức đúng về vấn đề và tầm quan trọng cảu hoạt động phòng ngừa ô nhiễm, suy thoái môi trường sống… từ đó những quyết tâm chính trị đó được thể hiện qua đường lối của Đảng cầm quyền với vấn đề này và qua đó nó được tuyên truyền, được thể chế hóa thành pháp luật để các cộng đồng, tổ chức và mỗi người dân nhận thức cho đúng và thức hiện trên thực tiễn cuộc sống. Chúng ta biêt rằng nước ta là nước đang phát triển để thúc đẩy phát triển kinh tế đất nước, chúng ta cần đẩy mạnh thu hút đầu tư nước ngoài. Tuy nhiên, chúng ta không phải là thu hút bằng moi giá mà không quan tâm đến hoạt động bảo vệ môi trường. Do vậy không chỉ trong đường lối chính sách về môi trường mà đối với những dự án, những công trình đầu tư lớn các nhà lãnh đạo cũng phải xem xét đến vấn đề bảo vệ môi trường hoặc ảnh hưởng của dự án đến môi trường, trước khi cấp phép đầu tư…

          – Nhận thức của các cộng đồng, các tổ chức và mỗi cá nhân đóng vai trò vô cùng quan, bởi xét cho đến cùng thì người gây ra ô nhiễm môi trườnởitực tiếp là do các hành vi của các cá nhân, tổ chức xả thải các chất vượt têu chuẩn cho phép ra môi trường, gây ô nhiễm môi trường hay những hành vi khai thác, tàn phá quá mức các thành phần môi trường gây suy thoái môi trường… Do vậy nhận thức của họ về vấn đề này là vô cùng quan trọng, bởi khi ô nhiễm môi trường xảy ra thảm họa môi trường như: bão, lũ lụt hạn hán, dịch bệnh…sẽ tác động đến mỗi người dân và họ sẽ là nạn nhân của chính những hành vi do mình tác động thái quá vào môi trường.

          Từ những phân tích trên chúng ta thấy để phòng ngừa bảo vệ môi trường từ nhận thức đến hành động cần phải có sự nhận thức thông suốt từ các nhà lãnh đạo cho đến mỗi cộng động, mỗi tổ chức và mỗi người dân, có thể chúng ta mới có thể bảo vệ môi trường được hiệu quả.

2. Xã hội hóa việc thực hiện nguyên tắc phòng ngừa trong hoạt động bảo vệ môi trường

          Bảo vệ môi trường là sự nghiệp của toàn dân. Trong bảo vệ môi trường thì phòng ngừa đóng vai trò quan trọng trong việc giữ gìn cho môi trường luôn trong lành sạch đẹp, ngăn ngừa những tác động xấu của con người cũng như của tự nhiên đến với môi trường. Bảo vệ môi trường có thể được thực hiện với nhiều chủ thể khác nhau, ở nhiều giai đoạn, nhiều cấp độ khác nhau nhưng dù ở giai đoạn hay cấp độ nào thì hoạt động phòng ngừa luôn được đưa lên hàng đầu. Chính xuất phát từ quyền của mỗi người được sống trong môi trường trong lành; xuất phát từ chủ thể gây ô nhiễm môi trường và xuất phát từ thực tiễn chỉ có Nhà nước phòng ngừa ô nhiễm, suy thoái môi trường không thôi thì không hiệu quả. Do vậy để nguyên tắc phòng ngừa trong hoạt động bảo vệ môi trường được tiến hành hiệu quả thì chúng ta phải tiến hành xã hội hóa hoạt động bảo vệ môi trường (trong đó trọng tâm là hoạt động phòng ngừa ô nhiễm, suy thoái môi trường) tức là chuyển giao dần hoạt động bảo vệ môi trường trong đó hoạt động phòng ngừa ô nhiễm suy thoái môi trường từ Nhà nước cho các tổ chức, cá nhân hoạt động trên cơ sở tự hạch toán… mà trước mắt là xã hội hóa các hoạt động mà trong phạm vi khả năng của những tổ chức và của mỗi người dân như: xả thải rác đúng nơi quy định, không khai thác rừng và các tài nguyên khoáng sản khác một cách bừa bãi, các doanh nghiệp, các nhà máy không được thải các chất thải vượt quá tiêu chuẩn cho phép ra ngoài môi trường… đồng thời xã hội hóa hoạt động bảo vệ môi trường càn phải được tiến hành ở hầu hết các công đoạn từ việc thu gom, phân loại rác thải đến việc phân loại xử lý rác thải, từ việc ngăn chặn các hành vi chặt phá khai thác quá mức các thành phần môi trường đến việc bảo tồn, tái tạo đa dạng sinh học đặc biệt là các loài động thực vật quý hiếm có nguy cơ tuyệt chủng cao ví dụ như: hổ, báo hưu, nai…đến gụ, lim, sến, táu, miến… Tuy nhiên, quá trình xã hội hóa các hoạt động bảo vệ môi trường, trong đó có phòng ngừa ô nhiễm môi trường là một quá trình  không đơn giản, bởi thực sự đẻ công tác xã hội hóa hoạt động bảo vệ môi trường có hiệu quả cần phải dựa trên rất nhiều yếu tố như: kinh phí, khoa học công nghệ và đặc biệt là nhận thức của cộng đồng về vấn đề này. Do vậy, trước mắt Nhà nước cần nghiên cứu chuyển giao những công việc trong phòng ngừa ô nhiễm, suy thoái môi trường mà tổ chức, cá nhân có thể thực hiện và thực hiện tốt theo hướng chuyển giao dần dần có sự kiểm tra, giám sát từ phía nhân dân và Nhà nước. Những năm vừa qua việc xã hội hóa công tác bảo vệ mà trọng tâm là công tác phòng ngừa ô nhiễm môi trường ở nước ta mực dù vẫn cònn hiều vấn đề đặt ra cần phải nghiên cứu, giải quyết, nhưng ngày càng được đẩy mạnh đặc biệt là công tác xã hội hóa các dịch vụ vệ sinh môi trường nhằm bảo vệ môi trường luôn trong lành sạch đẹp.

3. Hợp tác quốc tế về phòng ngừa ô nhiễm suy thoái môi trường

3.1.Thực hiện các cam kết quốc tế về phòng ngừa, bảo vệ môi trường  mà Việt Nam đã tham gia

Vấn đề môi trường là vấn đề toàn cầu, không của riêng quốc gia nào, đặc biệt là trong giai đoạn các quốc gia đều trong một thời gian dài đẩy mạnh phát triển kinh tế và đều đang ít, nhiều chịu ảnh hưởng tiêu cực của môi trường đến với sức khỏe nhân dân cũng như nền sản xuất… Tuy nhiên, một quốc gia không thể tự mình đường đầu với những hậu quả do ô nhiễm, suy thoái môi trường gây ra như về tài chính, về khoa học, công nghệ, về trình độ… Do vậy cần có một cơ chế hợp tác quốc tế về vấn đề này.

Trong hoạt động phòng ngừa bảo vệ môi trường những năm vừa qua Việt Nam cũng đã tham gia tích cực vào các công ước quốc tế về bảo vệ môi trường như: Công ước Liên hợp quốc 1982 về Luật Biển (UNCLOS), Công ước Quốc tế 1973 về ngăn ngừa ô nhiễm do tầu biển (MARPOL), Công ước Liên Hiệp Quốc về biến đổi khí hậu, Công ước về vận chuyển qua biên giới các chất thải độc hại và việc loại bỏ chúng (Basel), Công ước về đa dạng sinh học, Công ước về buôn bán quốc tế các giống loài động thực vật có nguy cơ tuyệt chủng (CITES), Công ước về các vùng đất ngập nước có tầm quan trọng quốc tế, đặc biệt như là nơi cư trú của loài chim nước (RAMSAR, 1971)…

3.2. Mở rộng quan hệ quốc tế trong lĩnh vực môi trường

Khẩn trưởng đẩy nhanh các dự án quốc tế trong lĩnh vực bảo vệ môi trường như: dự án cấp thoát nước 1A,1 B, các dự án môi trường VCEP, MEIP, REG-5712, Quy hoạch tổng thể vệ sinh (JICA), Thành phố sinh thái (ECO-CITY)… đã thể hiện mối quan hệ hợp tác ngày càng mở rộng giữa Hải Phòng Việt Nam nói chung với các tổ chức quốc tế.

Hơn nữa, mở rộng hợp tác quốc tế về phòng ngừa ô nhiễm môi trường còn được thể hiện ở một số lĩnh vực cụ thể như: hợp tác về phòng ngừa ô nhiễm môi trường biển; hợp tác về phòng ngừa suy thoái từng và một số loài động thực vật khác…

Những năm qua ViệtNamcũng tăng cường sử dụng đúng mục đích, có hiệu quả những tài trợ đầu tư hiện có. Tăng cường quản lý, giám sát việc thực hiện, có kế hoạch về vốn đối ứng cho phù hợp. Có kế họach đào tạo nhân lực về trình độ chuyên môn, quản lý và ngoại ngữ để tham gia các dự án về bảo vệ môi truờng và phát triển bền vững… Bên cạnh đó nước ta cũng mở rộng quan hệ với các tổ chức quốc tế gồm:

+ Tổ chức Sáng kiến không khí sạch các thành phố Châu Á (CAI-ASIA), mỗi năm họp một lần, trong đó Việt Nam đã cam kết tuân thủ Hiến chương của Tổ chức và thực hiện nhiều nội dung về bảo vệ môi trường.

+ Tổ chức Hội nghị thượng đỉnh môi trường của Thị trưởng các thành phố Châu Á-Thái Bình Dương-MAPES (2 năm họp 1 lần), trong đó tiêu biểu như Tp. Hải Phòng đã cam kết với thế giới đến năm 2005 sẽ hoàn thành: (1) Di chuyển 100% các cơ sở công nghiệp gây ô nhiễm ra khỏi khu vực nội thành; (2) 80% dân cư nông thôn được cấp nước sạch; (3) Cải tạo 9 hồ điều hoà trong thành phố, 10 km kênh tưới tiêu và 30 km cống thoát nước nội thành; (4) Xây dựng kế hoạch quản lý chất thải rắn và lồng ghép vào qui hoạch phát triển tổng thể Thành phố, đóng cửa 02 bãi rác. Hoàn thành và đưa vào hoạt động lò đốt rác y tế; (5) Thay thế 1500 nhà tranh tre bằng nhà xây; (6) Cải thiện chất lượng môi trường tại 02 huyện đảo là Cát Hải và Bạch Long Vỹ về cấp nước, xử lý nước thải và quản lý chất thải rắn[29].

          Thực hiện có hiệu quả những cam kết với quốc tế về bảo vệ môi trường mà Việt Namđã ký kết. Mặc dù đã đạt được một số thành tựu trong hợp tác quốc tế về bảo vệ môi trường, nhưng trong thời gian tới Chính phủ cũng như Uỷ ban nhân dân các cấp cần chỉ đạo các ngành, các cấp liên quan xây dựng kế hoạch thực hiện các nội dung đã cma kết về phòng ngừa ô nhiễm môi trường ngày càng tốt hơn.

4. Ứng dụng khoa học công nghệ vào phòng ngừa ô nhiễm, suy thoái môi trường

          Trong hoạt động phòng ngừa ô nhiễm môi trường, khoa học công nghệ đóng vai trò vô cùng quan trọng đặc biệt trong thời đại khoa học – kỹ thuật phát triển, nhiều loại công nghệ, máy móc sản xuất tiên tiến ra đời, bên cạnh những ưu điểm mà nó mang lại thì hậu quả khôn lường đối với môi trường nhiều khi chúng ta chưa thể nhận thức, dự báo hoặc có thể nhận thức được nhưng thiếu hoặc không có công nghệ để phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn những ỗ nhiễm đó. Ví dụ như tràn dầu ra biển sẽ gây hậu quả nặng nề với môi trường biển, nếu chúng ta không có công nghệ hiện đại để phòng ngừa, năng chặn, khắc phục thì khó có thể giải quyết được. Tuy nhiên, trong vấn đề này cũng phải nói thêm rằng ứng dụng khoa học công nghệ vào phòng ngừa ô nhiễm, sự cố môi trường tức là thực tế ô nhiễm, suy thoái môi trường chưa xảy ra và chúng ta ứng dụng khoa học công nghệ để phòng ngừa nó. Do vậy ở đây chúng ta cần phải làm rõ những vấn đề sau:

          Thứ nhất, cần nghiên cứu, xây dựng một tiêu chuẩn môi trường đầy đủ và phù hợp, trong phạm vi tiêu chuẩn đó không ảnh hưởng đên sức khỏe cũng như môi trường sống của con người cũng như động thực vật và phù hợp với tiêu chuẩn thế giới (tức là được thế giới thừa nhận), cụ thể như: tiêu chuẩn môi trường về nguồn nước, tiêu chuẩn môi trường về không khí, về tiếng ồn, về độ bụi,…[30].

          Thứ hai, đầu tư các máy móc, trang thiết bị đáp ứng được các tiêu chuẩn môi trường đề ra đồng thời xây dựng ứng dụng khoa học công nghệ nghiên cứu, đầu tư xây dựng các công trình xử lý các chất thải vượt quá tiêu chuẩn môi trường cho phép và đầu tư các công nghệ để giám sát các thành phần môi trường như: theo dõi những biến động về diện tích rừng: rừng nguyên sinh, khu bảo tồn thiên nhiên, rừng phòng hộ, rừng sản xuất…từ đó có những biện pháp để phòng ngừa ô nhiễm, suy thoái môi trường.

          Thứ ba, bên cạnh việc ứng dụng khoa học công nghệ vào phòng ngừa ô nhiễm môi trường, chúng ta cần kết hợp nghiên cứu, đầu tư các trang thiết bị nhằm chống, ngăn chặn khi ô nhiễm, sự cố môi trường xảy ra (tức là kết hợp giữa phòng ngừa với hoạt động chống, ngăn chặn, khắc phục ô nhiễm, suy thoái môi trường).

          Do vậy qua những nhận định và phân tích trên có thể thấy rằng để vận dụng nguyên tắc phòng ngừa trong hoạt động bảo vệ môi trường nhằm ngăn ngừa ô nhiễm, suy thoái môi trường, chúng ta cần phải cần phải lưu ý đến nhiều vấn đề như phải nhận thức được tầm quan trọng của việc phòng ngừa ô nhiễm môi trường từ các nhà lãnh đạo đến mỗi người dân; trong quá trình bảo vệ môi trường nói chung và phòng ngừa ô nhiễm, suy thoái môi trường nói riêng chúng ta cần phải đẩy mạnh công tác xã hội hóa hoạt động này đồng thời phải đẩy mạnh hợp tác quốc tế và ứng dụng khoa họ công nghệ vào quá trình bảo vệ môi trường… Như vậy chúng ta sẽ phòng chống ô nhiễm, suy thoái môi trường ngày càng hiệu quả hơn.

IV. Biện pháp thúc đẩy thực hiện và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về phòng ngừa trong hoạt động bảo vệ môi trường

1. Một số giải pháp thúc đẩy việc thực hiện nguyên tắc phòng ngừa trong hoạt động bảo vệ môi trường

          Để phòng ngừa ô nhiễm, suy thoái môi trường có hiệu quả trong phạm vi cả nước, trước tiên chúng ta cần phải xác định thực hiện một số biện pháp sau:

Về chiến lược bảo vệ môi trường quốc gia . Nghiên cứu đưa các quan điểm, chính sách, định hướng và giải pháp phòng ngừa, ngăn chặn ô nhiễm, suy thoái môi trường vào Chiến lược quốc gia về môi trường. Trong chiến lược bảo vệ môi trường này chúng ta phải vạch rõ các kế hoạch ngắn hạn bảo vệ môi trường cũng như trên cơ sở các tư liệu nghiên cứu tổng thể quá trình phát triển kinh tế-xã hội nủa nước ta trong 5, 10 năm tới hoặc dài hơi hơn, cũng như ảnh hưởng của văn hóa, trình độ dân trí…đến hoạt động phòng ngừa ô nhiễm, suy thoái môi trường. Từ đó xây dựng hoàn thiện chiến lược bảo vệ môi trường quốc gia trên cơ sở phát triển kinh tế bền vững, với mục tiêu ngăn, phòng không cho ô nhiễm, suy thoái môi trường xảy ra. Chiến lược phòng ngừa ô nhiễm môi trường quốc gia không chỉ phòng ngừa bảo vệ môi trường theo kiểu cơ học tức chỉ có đầu tư các công cụ, trang thiết bị phòng, chống ô nhiễm mà còn đẩy mạnh tái tạo phát triển xây dựng môi trường mới trong lành hơn như: đến năm 2020 diện tích che phủ của rừng đạt là bao nhiêu? Về vấn đề xử lý nước, rác thải sẽ được thu gom, giải quyết như thế nào…[31].

          Căn cứ vào hoàn cảnh thực tiễn nước ta, nghiên cứu xác định những nguyên nhân gây ra ô nhiễm môi trường từ đó đưa ra những giải pháp triệt tiêu những nguyên nhân đó, vận dụng nghiên cứu những nguyên nhân mà phòng ngừa ô nhiễm, suy thoái môi trường chưa hiệu quả chúng ta dễ dàng thấy rằng do rất nhiều nguyên nhân gây ra như: do nhận thức các cấp chính quyền và mỗi người dân về vấn đề này chưa cao; do nền kinh tế nước ta còn kém phát triển nên chưa có nhiều điều kiện để chăm lo đến hoạt động bảo vệ môi trường; do lợi ích thu được từ việc không tham gia phòng ngừa ô nhiễm môi trường lớn; do pháp luật quy định cũng như thực thi còn chưa nghiêm; do văn hóa… Do vậy để phòng ngừa ô nhiễm suy thoái môi trường có hiệu quả chúng ta không thể chỉ ngăn chặn một nguyên nhân riêng lẻ nào đó mà cần phải tồng hợp các giải pháp triệt để về vấn đề này:

Về kinh tế, đẩy mạnh đầu tư xây dựng các nhà máy, các dây chuyền sản xuất đạt tiêu chuẩn môi trường; xây dựng các khu vực xử lý chất thải công nghiệp cũng như rác thải của các hộ gia đình, đồng thời rằng, đầu tư đào tạo đội ngũ cán bộ vừa giỏi chuyên môn và am hiểu và có ý thức trong hoạt động bảo vệ môi trường, quá rình này kết hợp với đầu tư các công nghệ hiện đại để hạn chế, khắc phục khi có ô nhiễm, suy thoái môi trường gây ra… đầu tư trồng rừng, bảo tồn, cấm săn bắn các loài động, thực vật

Về lợi ích, sử dụng mạnh mẽ các công cụ pháp luật áp dụng chế tài nghiêm khắc đối với các đơn vị cố ý gây ô nhiễm, suy thoái môi trường, yêu cầu bồi thường các thiệt hại cho nhân dân do hành vi của cá nhân, tổ chức gây ra đồng thời tạo nên dư luận xã hội mạnh mẽ nên án những hành vi gây tác động xấu đối với môi trường như tẩy chay hàng hóa của công ty sản xuất gây ô nhiễm môi trường; công khai các tổ chức, công ty, cá nhân có hành vi gây ô nhiễm môi trường nên các phương tiện thông tin đại chúng như: đài, báo, tivi… điều này sẽ gây ảnh hưởng trực tiếp cũng như gián tiếp đến các tổ chứcm cá nhân có hành vi này.

– Về văn hóa, đẩy mạnh tuyên truyền, nâng cao ý thức của mỗi cá nhân, tô chức, cơ quan trong hoạt động phòng ngừa, ngăn chặn ô nhiễm, suy thoái môi trường, xây dựng môi trường sống ở mỗi khu dân cư trong lành đẹp bằng các biện pháp cụ thể như: không vứt rác thải sinh hoạt bừa bãi, tổ chức các buổi dọn dẹp vệ sinh tập thể trong khu dân cư để nâng cao ý thức bảo vệ môi trường sống,… Bên cạnh đó:

Đẩy mạnh công tác xã hội hóa hoạt động bảo vệ môi trường, trong đó có phòng ngừa ô nhiễm môi trường, công nhận các danh nghiệp đạt chất lượng môi trường và tiêu chuẩn môi trường, đồng thời công khai niêm yết các doanh nghiệp xả thải các chất thải vượt tiêu chuẩn cho phép, chưa xử lý ra ngoài môi trường, mặt khác áp dụng các bên pháp xử phạt hành chính nghiêm minh thậm chí là tạm đình chỉ, đình chỉ sản xuất đối với nhà máy xí nghiệp đó, người đứng đầu những doanh nghiệp đó có thể bị khởi tố các tội hình sự về ô nhiễm môi trường, áp dụng các biện pháp nhằm ngăn chặn không cho lưu hành, buôn bán các hàng hóa gây ô nhiễm môi trường…

2. Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về phòng ngừa ô nhiễm, suy thoái môi trường

          Trong hoạt động phòng ngừa ô nhiễm, suy thoái môi trường Nhà nước ta đã ban hành rất nhiều quy định pháp luật về vấn đề này như: Luật Bảo vệ môi trường 2005; Luật Thủy sản, Luật Khoáng sản 2005; Luật Du lịch 2005; Luật Bảo vệ và phát triển rừng 2004; Luật Tài nguyên nước 1998; Bộ luật Hàng hải… Tuy nhiên, đi vào từng quy định cụ thể trong Luật Bảo vệ môi trường và các Luật chuyên ngành trong tình lĩnh vực vẫn còn có những thiếu sót, bất cập nhất định, đòi hỏi cần sửa đổi bổ sung như:

– Các quy định pháp Luật về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường trong thời gian qua cho thấy còn quá thấp, chưa đủ sức răn đe đối với những tổ chức, cá nhân vi phạm… Do đó họ chấp chịu phạt để tiếp tục thải các chất gây ô nhiễm ra môi trường. Vì vậy cần phải nâng mức chế tài xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường bằng cách nâng mức xử phạt tối đa của Pháp lệnh xử phạt vi phạm hành chính nên trên 500 triệu đồng. Từ cơ sở đó tiến hành sửa đối các quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong pháp luật về bảo vệ môi trương ở mức cao hơn. Đồng thời với quá trình này là phải áp dụng các biện pháp bắt buộc với các cơ sở gây ô nhiễm môi trường là thu hồi phí xả thải chưa đóng trong suốt thời gian gây ô nhiễm, trốn nộp nghĩa vụ bảo vệ môi trường cho Nhà nước.

– Cần quy định áp dụng trách nhiệm hình sự đối tổ chức gây ô nhiễm môi trường như: phạt tiền, đình chỉ hoạt động hoặc chấm dứt hoàn toàn hoạt động của doanh nghiệp gây ô nhiễm, suy thoái môi trường. Vấn đề này hiện vẫn có hai quan điểm, quan điểm thứ nhất cho rằng, chỉ cần áp dụng trách nhiệm hình sự đối với cá nhân là đủ, tức là khi doanh nghiệp nào đó gây ô nhiệm môi trường thì người đứng đầu pháp nhân đó phải chịu trách nhiệm hình sự là đủ. Nhưng thực tế cho thấy việc xả thải các chất gây ô nhiễm ra ngoài môi trường chủ yếu là do các doanh nghiệp gây ra mà việc không chịu áp dụng các biện pháp phòng ngừa ô nhiễm môi trường thì doanh nghiệp đó không phải mất tiền đầu tư công nghệ, mặt khác khi khai thác các thành phần môi trường quá mức thì lợi nhuận thu được lại vẫn thuộc về doanh nghiệp đó, mặt khác đối với các công ty trách nhiệm hữu hạn họ có tài sản riêng và chịu trách nhiệm trong giới hạn tài sản của mình mà khi họ kinh doanh thua lỗ mức nợ có thể cao hơn cả vốn đăng ký, nhưng họ chỉ phải chịu trách nhiệm trong phạm vi số vốn đăng ký mà không phải chịu hơn, đây là một ưu đãi của xã hội đối với loại hình doanh nghiệp này. Do đó khi họ không áp dụng các biện pháp phòng ngừa ô nhiễm môi trường, thậm chí lại còn xả thải các chất gây ô nhiễm hay khai thác quá mức các thành phần môi trường, gây suy thoái môi trường thì càng phải áp dụng trách nhiệm pháp lý kể cả trách nhiệm hình sự đối với những doanh nghiệp, tổ chức này.

          Bên cạnh việc thực hiện đầy đủ, nghiêm chỉnh các quy định pháp luật vè phòng ngừa ô nhiễm, suy thoái môi trường thep pháp luật về bảo vệ môi trường hiện hành và pháp luật liên quan về vấn đề này như: không được thực hiện những hành vi mà pháp luật bảo vệ môi trường cấm; thực hiện báo cáo đánh giá tác động môi trường (ĐTM) đối với các cơ sở, doanh nghiệp trước khi đầu tư sản xuất và báo cáo đánh giá tác động môi trường chiến lược (ĐMC) đối với các chiến lược quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế xã hội của quốc gia cũng như trong phạm vi tỉnh, thành phố… Bên cạnh đó chúng ta cần phải đẩy mạnh giám sát hoạt động bảo vệ môi trường từ phía các cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội cũng như mỗi người dân có như vậy pháp luật về phòng ngừa ô nhiễm, suy thoái môi trường mới được thực thi có hiệu quả trên thực tiễn, đáp ứng nhu cầu bảo vệ môi trường ngày càng cao ở nước ta đặc biệt khi nước ta đang trong quá trình tiến hành sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.


[1]  Xem: Giáo trình Luật Môi trường Khoa Luật – Đại học Huế, Ths. Nguyễn Văn Phương (chủ biên).

[2] Xem: Từ điển Tiếng Việt, Nxb. Đà Nẵng, 1997, tr. 618.

 ([3]) Xem Luật Bảo vệ môi trường 1993, Lời nói đầu, tr3.

 ([4]) Xem Toạ đàm  So sánh về quản lý rác thải ở Mỹ và châu Âu và kinh nghiệm với ViệtNam. GS Milanda Shie, Đại học Tổng hợp Beclin.

 ([5]) Xem Điều 1, Công ước Viên về bảo vệ tầng ôzôn.

([7]) Xem thêm Báo cáo hiện trạng môi trường quốc gia 2005, Bộ Tài nguyên và Môi trường, tr19, 24, 30,33.

 ([8]) Xem Khoản 3, Điều 3 Luật Bảo vệ môi trường 2005.

 ([9]) Xem Từ điển Tiếng Việt, NXB.. Từ điển bách Khoa – 2007, tr 535.

 [10]   Xem Bách khoa toàn thư ViệtNam.

 ([11])Đây là một câu nói nổi tiếng của nhà kinh điển Enghen.

 ([12]) Xem Bảo vệ môi trường và hiệu quả kinh tế xã hội của nó – Viện Kinh tế, Viện hàn lâm khoa học Liên Xô. Người dịch Đặng Như Toàn và Nguyễn Quang Thái. Phần lời nó đầu và tr.30 đã khẳng định Lênin đã từng nhấn mạnh ảnh hưởng của môi trường tự nhiên tới sự phát triển của xã hôi được biểu hiện thông qua sự phát triển của lực lượng sản xuất. đồng thời chế độ sở hữu xã hội đối với các tư liệu sản xuất bảo đảm những khả năng và điều kiện thuận lợi cho việc sử dụng tự nhiên hợp lý.

Xem M«i tr­êng sinh th¸i VÊn ®Ò vµ Gi¶i ph¸p, PGS.PTS. Ph¹m ThÞ Ngäc TrÇm, Nxb. ChÝnh trÞ quèc gia, Hµ Néi 1997, tr31-82.

([13]) Xem Văn kiện đại hội Đảng IX, Nxb. Chính trị quốc gia  trang 301, 302

([14]) Xen văn kiện đại hội X, trang 190, Nxb… Chính trị quốc gia – 2006.

 ([15]) Xem Giáo trình Luật bảo vệ môi trường, đại học luật Hà Nội, NXB.. Công an nhân dân 2005.

  ([16]) Quan điểm về hình thái kinh tế xã hội của nhà kinh điển học C.Mác.

[17] Xem Lê Hải Sơn – Những vấn đề pháp lý của việc đánh giá tác động môi trường, Luận án Thạc sỹ, Người hướng dẫn khoa học PTS. Phạm Hữu Nghị – Viện nhà nước và pháp luật – 1999.

 [18] Xem kinh điển Mác-Lênin.

 ([19]) Xem Bảo vệ môi trường và hiệu quả kinh tế xã hội của nó – Viện hàn lâm khoa học Liên Xô – Viện Kinh tế. Người dịch: Đặng Như Toàn và Nguyễn Quang Thái, Hà Nội – 1985.

([20]) Xem Lê Hải Sơn – Những vấn đề pháp lý của việc đánh giá tác động môi trường, Luận án Thạc sỹ, Người hướng dẫn khoa học PTS. Phạm Hữu Nghị – Viện nhà nước và pháp luật – 1999, tr15.

 [21] Xem Toạ đàm  So sánh về quản lý rác thải ở Mỹ và châu Âu và kinh nghiệm với ViệtNam. GS Milanda Shie, Đại học Tổng hợp Beclin.  Vào năm 1984 tại Ấn Độ một nhà máy hoá chất của Mỹ bị nổ, 2000 người chết tại chỗ và vài năm sau  số người chết tăng lên là 8000 người. Sau đó ở Mỹ đã thông qua Luật Quyền cộng đồng được biết Lập kế hoạch. Luật này quy định tại mỗi bang cũng như các đia phương có quyền yêu cầu các công ty Mỹ có hoạt động gây ô nhiễm môi trường phải thông báo cho Chính phủ và được đăng trên một trang Web quen thuôc về môi trường để tất cả mọi người đều có thể biết nhaf máy nào có thể gây ô nhiễm môi trường…

[22] Chúng ta có thể tìm hiểu những vấn đề này qua các tác phẩm văn thơ của nhà thơ Tố Hữu.

[23] Xem khoản 4, Điều 3 Luật Bảo vệ môi trường 2005.

[24] Xem Tuyên ngôn dân quyền Pháp, Tuyên ngôn độc lập của Mỹ và Tuyên ngôn độc lập Hồ Chí Minh.

[25] Xem: Tuyên bố của Hội nghị Liên hợp quốc về môi trường con người, Nguyên tắc 1, tr11, Sách  Các Công ước quốc tế về bảo vệ môi trường. NXB… chính trị quốc gia, Hà Nội 1995.

 ([26]) Xem: Tuyên bố của Hội nghị Liên hợp quốc về môi trường con người, Nguyên tắc 18, tr15, Sách  Các Công ước quốc tế về bảo vệ môi trường. Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội 1995.

  ([27]) Xem: Tuyên bố của Hội nghị Liên hợp quốc về môi trường con người, Nguyên tắc 19, tr.16, sách  Các Công ước quốc tế về bảo vệ môi trường. Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội 1995.

[28] Xem Điều 6 LBVMT 1993.

[31] Để phòng ngừa bảo vệ môi trường Văn kiện Đại hội Đảng X đã đưa ra chỉ tiêu phấn đấu cải tạo, bảo vệ môi trường đến năm 2010 là: “đưa tỷ lệ che phủ rừng lên 42-43%. 95% dân cư thành thị và 75% dân cư ở nông thôn được sử dụng nước sạch. 100% các cơ sở sản xuất mới xây dựng phải áp dụng công nghệ sạch hoặc được trag bị các thiết bị giảm ô nhiễm, xử lý chất thải; trên 50% các cơ sở sản xuất kinh doanh đạt tiêu chuẩn về môi trường; 100% số dô thị loại 3 trở lên, 50% số đô thị loại 4 và tất cả các khu công nghiệp, khu chế xuất có hệ thống xử lý nước thải; 90% chất thải rắn thông thường, 80% chất thải nguy hại, 100% chất thải y tế đwocj thu gom và xử lý đạt tiêu chuẩn môi trường. – Xem Văn kiện Đại hội Đảng X, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội – 2006, tr.190..

Post a comment or leave a trackback: Trackback URL.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: