Trích Đề tài dự thi giải thưởng sinh viên nghiên cứu khoa học năm 2006

THỰC TRẠNG HIẾN MÔ, BỘ PHẬN CƠ THỂ NGƯỜI VÀ HIẾN XÁC Ở VIỆT NAM

                             Bùi Đức Hiển 

1. Thực trạng của thực hiện quyền hiến xác, bộ phận cơ thể người  sau khi chết 

1.1. Sơ lược thực trạng về tình hình ghép mô, tạng trên Thế giới

Trên thế giới ngay từ những thập niên đầu thế kỷ XIX việc sử dụng bộ phận cơ thể và tử thi để nghiên cứu khoa học không phải là chuyện hiếm thấy. Thực tế cho thấy đã có nhiều cuộc cấy, ghép thực nghiệm diễn ra thành công. Dấu ấn quan trọng nhất là năm 1880-1905 Bác sĩ Ed WardZirm (Úc) đã tuyên bố thành công ca ghép giác mạc đầu tiên. Sau ca ghép giác mạc đầu tiên này, kỹ thuật về cấy ghép mô, tạng thực sự phát triển mạnh và các ca cấy, ghép tiếp tục diễn ra phổ biến vào cuối thế kỷ XX với việc cấy, ghép các bộ phận đơn giản như giác mạc đến các bộ phận quan trọng như thận, gan… Hiện nay, vấn đề lấy, ghép mô, tạng ở một số nước trên thế giới phát triển mạnh mẽ, bộ phận cơ thể dùng để hiến không chỉ được lấy ở cơ thể người hiến khi sống mà tận dụng ở cả những người hiến xác, bộ phận cơ thể sau khi chết.

 Căn cứ vào biểu đồ UNOS (Mỹ) cung cấp về tình hoạt động lấy tạng ở Mỹ, số ca ghép tạng lấy từ người sống tăng nhanh tới 6499 ca (năm 2001) lớn hơn số ca ghép tạng lấy từ người chết, mặc dù số ca ghép tạng lấy từ người chết cũng tăng. Số liệu thống kê cũng cho thấy ở một số nước châu Âu từ 1996-2001 tỷ lệ lấy tạng ở người hiến khi sống và hiến sau khi chết tăng, giảm tương đối ổn định. Ở Pháp tỷ lệ lấy tạng ở người chết não đã tăng từ 15 đến 20 trường hợp lấy trên 1triệu dân. Với số dân 60 triệu người, tức là có 1200 ca lấy tạng từ người chết não và lấy được trên 2000 giác mạc, 2400 thận, 1500 tim… Còn ở một số nước như Anh, Ý, Tây Ban Nha… tỷ lệ lấy tạng từ người chết não tương đối bằng nhau xấp xỉ 20 ca/ 1triệu dân[1]. Qua đó có thể thấy việc đầu tư vào hoạt động lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể ở phát triển đặc biệt là Mỹ và các nước thuộc châu Âu phát triển mạnh. Bộ phận cơ thể dùng để cấy, ghép ở các nước này không chỉ được lấy từ người hiến đang sống mà cả ở những người hiến sau khi chết, đặc biệt là tỷ lệ lấy từ người hiến sau khi chết có xu hướng tăng nhanh và nhiều hơn từ người hiến khi còn sống góp phần giúp người bệnh vượt qua bệnh hiểm nghèo, kéo dài sự sống. Sở dĩ có được điều này là do: một là, ở các nước này khoa học về giải phẫu học rất phát triển với đội ngũ bá sĩ tài năng, trang thiết bị máy mọc phục vụ lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể hiện đại đã góp phần quan trọng vào hiện thực hóa; hai là, các nước này đã sớm ban hành các quy định pháp luật thừa nhận quyền hiến mô, bộ phận cơ thể người cũng như các quy định về điều kiện, trình tự, thủ tục hiến, lấy ghép mô, bộ phận cơ thể tạo hành lang pháp lý thuận lợi cho thực hiện quyền này; ba là, nhận thức của người dân ở các nước này về hiến, mô, bộ phận cơ thể là rất cao đủ để họ hiểu được ý nghĩa của việc thực hiện quyền hiến mô, bộ phận cơ thể khi còn sống đặc biệt là sau khi chết để cứu chữa người bệnh cũng như nghiên cứu khoa học; bốn là, theo tính toán của các nhà khoa học, chi phí bỏ ra để chạy thận nhân tạo cao hơn so với chi phí bỏ ra để cấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người…

1.2 Thực trạng hiến, ghép mô, bộ phận cơ thể người khi còn sống ở nước ta

          Ở nước ta thực tế cho thấy, nhu cầu được ghép mô, bộ phận cơ thể người ngày càng tăng mạnh. Hiện nay cả nước có khoảng 25000-35000 người suy thận mạn cần được ghép thận[2]. Mặc dù trong những năm qua Nhà nước rất quan tâm đầu tư phát triển xây dựng các cơ sở y tế chạy thận nhân tạo để đáp ứng nhu cầu chạy thận nhân tạo của người bệnh, song nhu cầu chạy thận nhân tạo tăng quá nhanh. Do đó các Trung tâm chạy thận nhân tạo lớn của nước ta hiện nay đang quá tải, những bệnh nhân này luôn có nhu cầu được ghép thận.

          Tình hình cấy ghép mô tạng ở nước ta hiện nay có nhiều tiến bộ, chúng ta có thể tiến hành được hầu hết các loại ghép. Đầu tiên là những ca ghép da được tiến hành từ rất sớm tại một số bệnh viện lớn như bệnh viện Quân y 103, bệnh viện Chợ rẫy, Bệnh viện Nhi TW… đã cứu chữa được cho rất nhiều người bị bỏng nặng mất một mảng da lớn. Trước đây việc ghép da được lấy từ thân thì đến nay việc ghép da được lấy từ da lợn hoặc ếch. Mặc dù khi đó chưa có hành lang pháp lý song các bệnh viện vẫn tiến hành phục hồi chức năng cho người bệnh.

          Loại ghép thứ hai mà các bệnh viện tiến hành là ghép mô trong nhãn khoa mà cụ thể là ghép giác mạc, kết mạc việc ghép này được thực hiện từ rất sớm, từ những năm 1950 tại Viện mắt TW. Hàng năm ở đây thực hiện từ 30 đến 50 ca ghép tỷ lệ thành công từ 50% – 99% rất cao tuỳ theo loại bệnh. Từ năm 1992 bệnh viện Đa khoa TW Huế cũng đã thực hiện được 31 ca ghép giác mạc lấy từ mắt tử thi vô thừa nhận đã cho kết quả tốt. Như vậy kỹ thuật ghép mô, đã có từ trên 50 năm nay nhưng hành lang pháp lý cho vấn đề này có rất ít nếu không muốn nói là chưa có cho đến khi có Luật Luật Bảo vệ sức khỏe nhân dân năm 1989.

 Loại ghép thứ ba được triển khai tại cơ sở y tế Việt Nam là ghép tế bào gốc tạo máu (ghép tuỷ) ca ghép tuỷ đầu tiên là tại Bệnh viện huyết học và truyền máu T.P Hồ chí Minh cho bệnh nhân bị bạch cầu dòng tuỷ. Năm 1996 dùng tế bào gốc tạo máu từ cuống rốn để điều trị bệnh nhân bạch cầu dòng lympo đến năm 2006 đã ghép được tế bào gốc tạo máu cho trên 50 bệnh nhân.

Tiếp đó là kỹ thuật ghép thận, đi đầu là Học viện Quân y đã tiến hành ghép đủ 3 cặp đầu tiên vào ngày 4, 8 và 9/6/1992 với sự trợ giúp của các chuyên gia nước ngoài, đến năm 2007 nước ta đã có trên 160 ca ghép thận thành công. Do số người suy thận mạn giai đoạn cuối đông trong khi đó không đủ nguồn thận để cung cấp cho việc ghép nên tất yếu là bệnh nhân phải tìm đến nước ngoài để ghép, mỗi năm cả nước ta có trên 200 bệnh nhân phải sang Trung Quốc để ghép bộ phận cơ thể người gây rất nhiều tốn kém về chi phí đi lại và những chi phí không cần thiết khác.

Về ghép gan, phải thừa nhận đây là kỹ thuật ghép rất khó, ở các nước phát triển đã triển khai cách đây 20-30 năm. Còn ở Việt Nammặc dù ý tưởng đã có từ lâu xuất phát từ đề nghị của Bệnh viện Chợ Rẫy và người đầu tiên tham gia là Giáo sư Tôn Thất Tùng, việc ghép gan được triển khai thực nghiệm trên lợn. Sau đó đến cuối năm 2003 ca ghép gan đầu tiên được thực hiện tại Học viện Quân y với sự trợ gúp của các chuyên gia y tế Nhật bản đó là ca ghép cho một bé gái được nhận gan từ bố và đã thành công. Đến năm 2007 nước ta đã tiến hành được 7 ca ghép gan, trong đó Bệnh viện Nhi TW đóng góp 4 ca. Đây là một thành công rất lớn cùa ngành ghép mô, tạng Việt Nam trong việc vươn tới chinh phục những đỉnh cao của y học. Qua đó có thể thấy từ năm 1992 đến nay nước ta tiến hành ghép được trên 170 ca ghép gan và thận, nhìn vào số lượng những người được ghép tạng ta cũng suy ra một số lượng người hiến tương tự. Từ năm 1992-2007 cả nước có khoảng trên 160 người tình nguyện hiến mô, tạng để chữa trị cho người bệnh. Một con số không nhiều nếu không muốn nói là quá ít so với nhu cầu chờ được ghép tạng ở nước ta. Chỉ tính tại 5 bệnh viện lớn của Hà Nội hiện có gần 1500 người được chỉ định ghép gan, nhưng chưa có nguồn nên số bệnh nhân này đang trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng[3].

Bên cạnh đó bệnh nhân cần phải được ghép giác mạc ngày càng tăng, đến nay có khoảng trên 5.000 người bệnh đang chờ được ghép giác mạc. Riêng tại Viện mắt TW, mỗi năm nhu cầu ghép giác mạc nên tới 500ca/năm còn ở thành phố Hồ chí Minh, hiện có khoảng 1000 người đang chạy thận nhân tạo. Bệnh viện Chợ Rẫy đứng đầu với 350-400 bệnh nhân, Bệnh viện Nhân dân 115 có 300 bệnh nhân…đây chính là lực lượng chờ ghép, nhưng không có thận để ghép[4]. Qua đó ta thấy được nguồn tạng để thực hiện cứu chữa cho người bệnh còn rất thiếu. Ở đây có thể chỉ ra một số nguyên nhân sau:

 Một là, chưa phát huy được nguồn cung cấp mô, tạng dồi dào trong nhân dân, số người hiến mô, tạng trong các trường hợp trên chủ yếu là những người thân thích trong gia đình hiến cho cha, con, vợ, chồng. Hầu như không có người không thân thích tự nguyện hiến.

Hai là, mặc dù việc cấy, ghép bộ phận cơ thể người đã được quy định trong Luật Bảo vệ sức khoẻ nhân dân song còn quá chung chung, khái quát không cụ thể. Do vậy hành lang pháp lý quy định về vấn đề này vẫn còn rất ít nên thiếu cơ sở pháp lý để thực hiện cấy ghép mô, bộ phận cơ thể người trên thực tế.

Ba là, do trang thiết bị y tế và đội ngũ và đội ngũ cán bộ về cấy ghép tạng ở nước ta trong những năm gần đây được quan tâm đầu tư, đào tạo song vẫn còn thiếu và yếu chưa đủ để đáp ứng nhu cầu của người bệnh.

Bốn là, do việc tuyên truyền cho nhân dân về vấn đề này vẫn còn ít dẫn tới người dân không hiểu ý nghĩa cao đẹp, nhân văn của việc cấy ghép bộ phận cơ thể người mặc dù họ rất muốn làm một điều gì đó để củng cố việc cấy ghép này.

Năm là, do nước ta chưa có một chiến lược về cấy ghép mô, bộ phận cơ thể người đồng thời quy định pháp luật về vấn đề này còn nhiều thiếu xót. Theo tác giả đây là nguyên nhân quan trọng nhất dẫn đến việc thực hiện vấn đề này chậm.

1.3. Thực trạng hiến bộ phận cơ thể, hiến xác sau khi chết ở nước ta

Như ta đã biết số người được ghép tạng ở trên thế giới nói chung và ViệtNamnói riêng ngày càng nhiều. Do đó việc chỉ thừa nhận hiến bộ phận cơ thể người khi còn sống một cách tự nguyện thì sẽ không đáp ứng được nhu cầu về cấy ghép mô, tạng. Do đó Luật cần phải quy định thêm việc hiến bộ phận cơ thể, hiến xác sau khi chết. Đây là một quyền quan trọng đã được nhiều nước trên thế giới thừa nhận như Anh, Pháp, Mỹ, Angiêri… Tuy nhiên, ở Việt Nam vấn đề hiến xác, bộ phận cơ thể người sau khi chết, trước năm 2005 vấn đề chỉ được quy định khá chung chung trong Điều 30, Luật Bảo vệ sức khoẻ nhân dân 1989.

1- Thầy thuốc chỉ được tiến hành lấy mô, bộ phận của cơ thể người chết dùng vào mục đích y tế sau khi đã được sự đồng ý của người cho, của thân nhân người chết hoặc người chết có di chúc để lại.

           Thực tiễn vấn đề này từ năm 2005 trở về trước ít người hiến xác, bộ phận cơ thể người sau khi chết hoặc có trường hợp trước khi chết họ đồng ý hiến, nhưng sau khi chết gia đình họ lại không đồng ý hiến. Chỉ có một số trường hợp xác tử thi vô thừa nhận được sử dụng để giảng dạy hoặc để nghiên cứu khoa học ở tại các Trung tâm lớn, các Trường Đại học như Đại học y Hà Nội, Đại học y Hải Phòng, Đại học Y Huế, Đại học Y Tp. Hồ Chí Minh. Ngoài ra một số bộ phận này cũng được sử dụng để cứu chữa người bệnh. Ví dụ năm 1995, Bệnh viện Đa khoa TW Huế đã lấy giác mạc từ tử thi vô thừa nhận để ghép cho người bệnh đem lại kết quả tốt. Nguyên nhân dẫn đến tình trạng có ít người hiến xác, bộ phận cơ thể người sau khi chết là do:

          – Do pháp luật chưa có quy định cụ thể về vấn đề này nên không có cơ sở pháp lý để thực hiện;

– Do văn hóa truyền thống quan niệm chết là phải toàn thây, nghĩa tử là nghĩa tận… Điều đó chi phối đến ý định thực hiện quyền hiến xác, bộ phận cơ thể cho y học từ người hiến cũng như thân nhân gia đình họ…

          – Do ảnh hưởng của tôn giáo, và do sự hiểu biết của nhân dân về vấn đề này còn mơ hồ. Mặt khác do việc tuyên truyền về vấn đề này vẫn chưa được quan tâm thích đáng nên người dân không nhận thức được đầy đủ ý nghĩa của việc hiến mô, tạng cứu người do đó họ không hiến hoặc tỏ ra thờ ơ không quan tâm.

          Từ khi Bộ luật Dân sự 2005 ra đời và có hiệu lực ngày 1/1/2006 tại Điều 34 lần đầu tiên Luật đã thừa nhận Quyền hiến xác, hiến bộ phận cơ thể  sau khi chết. Đây là một điểm rất tiến bộ của pháp luật nước ta nó phản ánh tư duy của các nhà làm luật trong việc nắm bắt được tình hình và quy luật thực tế. Tuy nhiên, từ khi Bộ luật Dân sự 2005 có hiệu lực và đặc biệt từ khi Luật hiến lấy ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác 2006 ra đời thì ta thấy số người tham gia ghép mô, bộ phận cơ thể người sau khi chết tăng mạnh. Người hiến có thể là nông dân, công nhân, bác sĩ, người cao tuổi, cựu chiến binh… Ví dụ như: Nhạc sĩ, Ca sĩ Ngọc Sơn ngày 19/3/2007 đã làm đơn hiến bộ phận cơ thể người, hiến xác sau khi chết cho mục đích chữa bệnh và giảng dạy, anh quan niệm rằng con người ta chết đi lại trở về với cát bụi nếu đem thân xác đi chôn vùi trong khi các trường y thiếu tiêu bản để nghiên cứu khoa học và thực tập thì thật là phí phạm[5] hay trường hợp của ông, bà Đàm Tiến cán bộ nghỉ hưu Quận Cầu giấy Hà Nội đã làm đơn tình nguyện hiến mô, bộ phận cơ thể người sau khi chết cho khoa học, có rất nhiều thành phần tham gia trong đó có cả các nhà sư đã dành cả đời cho cứu độ chúng sinh cũng làm đơn sau khi chết cũng hiến bộ phận cơ thể, xác của mình cho khoa học. Theo số liệu thông kê cũng cho thấy số người nộp đơn hiến xác, bộ phận cơ thể người ngày càng tăng với nhiều thành phần khác nhau điều này nó được thể hiện qua trên 120 lá đơn tình nguyện hiến gửi về số 108 Tăng Bạt Hổ Hà Nội…[6].

Qua đó ta thấy được tấm lòng cao cả của rất nhiều người ngay cả khi chết họ vẫn muốn làm được điều gì đó cho những người thiếu may mắn, cho đất nước này ngày càng tươi đẹp hơn, mạnh khoẻ hơn…Đó là những tấm gương đáng kính trọng là những người đi đầu trong việc thực hiện quyền hiến xác, bộ phận cơ thể người sau khi chết. Tác giả cũng muốn nói thêm rằng việc quy định Quyền hiến mô, bộ phận cơ thể sau khi chết là quyền lợi của mỗi cá nhân, song không phải ai cũng dám và cũng đủ điều kiện để thực hiện. Thực tế cho thấy từ khi Bộ luật Dân sự 2005 có hiệu lực việc thực hiện quyền này có tăng song không nhiều. Có rất nhiều nguyên nhân nhưng có thể chỉ ra một số, như: do ảnh hưởng của yếu tố văn hoá truyền thống, phong tục ma chay, tôn giáo, do trình độ dân trí cũng như sự hiểu biết của người dân về vấn đề này chưa cao. Mặt khác từ khi quyền này có hiệu lực pháp lý đến nay thời gian chưa nhiều mới khoảng hơn 1 năm. Hơn nữa thời điểm đó  Luật về hiến lấy mô, bộ phận cơ thể người và hiến lấy xác đã ra đời nhưng chưa có hiệu lực[7]. Do đó chưa phản ánh được điều gì, bởi bất cứ một cái gì ra đời cũng cần một khoảng thời gian để thích nghi.

2. Quan điểm sự hiểu biết của người dân trong việc thực hiện và những yếu tố ảnh hưởng; cản trở đến việc thực hiện Quyền này

          Như ta đã biết Quyền hiến xác, bộ phận cơ thể người sau khi chết là một bộ phận của Quyền nhân thân nó gắn liền với mỗi cá nhân và không thể chuyển giao. Đây là quyền của công dân được pháp luật thừa nhận và bảo vệ, việc thực hiện quyền này có hiệu quả hay không phần nhiều dựa vào nhận thức của người dân về vấn đề này như thế nào họ đồng tình hay phản đối. Qua đó tác giả đã tiến hành một cuộc khảo sát trên 600 người thuộc các đối tượng nông dân, công nhân, sinh viên và các đối tượng khác(kỹ sư, bác sĩ, doanh nhân, cán bộ, công chức, nhà sư…) nhằm tìm hiểu sự hiểu biết và quan điểm của người dân về vấn đề này.

Dựa vào các số liệu thống kê qua cuộc khảo sát ta thấy có 72.4% số người được hỏi biết về Quyền hiến xác, hiến bộ phận cơ thể sau khi chết thông qua đài, báo, ti vi. Tuy nhiên, số người chưa bao giờ được nghe về vấn đề này cũng không ít 12,3% , chủ yếu tập trung ở các tầng lớp công nhân và nông dân. Do đó phải có chính sách đẩy mạnh tuyên truyền để nhân dân biết  và hiểu được ý nghĩa của hiến mô, bộ phận khi còn sống cũng như hiến sau khi chết để cứu chữa người bệnh cũng như để nghiên cứu khoa học để họ có thể tham gia thực hiện quyền của mình trên thực tế.

Mặc dù quyền hiến xác, hiến bộ phận cơ thể người lần đầu tiên được Quốc hội thông qua vào năm 2005 và thực tế thực hiện vấn đề này cũng chưa nhiều. Tuy nhiên 91,4% số người được hỏi cho rằng quyền hiến xác, hiến bộ phận cơ thể người sau khi chết vì mục đích chữa bệnh và nghiên cứu khoa học đóng vai trò vô cùng quan trọng, nên có những nghĩa cử cao đẹp hiến để cứu chữa người bệnh và những người hiến để cứu chữa người bệnh luôn được tôn trọng và đề cao vì phù hợp với truyền thống tương thân, tương ái của người Việt ta.

Do mặt trái của sự phát triển kinh tế xã hội nhiều căn bệnh liên quan đến mô, tạng ngày càng nhiều dẫn tới nhu cầu về mô tạng ngày càng tăng. Bên cạch kỹ thuật cấy, ghép mô, tạng ngày càng được hoàn thiện thì nguồn tạng không chỉ được lấy ở người sống mà còn được lấy từ những người chết. Tuy nhiên, để thực hiện quyền này được hiệu quả, thống kê cho thấy trên 90% số người được hỏi cho rằng để thực hiện quyền hiến xác, hiến bộ phận cơ thể người có hiệu quả thì việc hoàn thiện pháp luật cũng như đẩy mạnh tuyên truyền của Nhà nước qua các phương tiện thông tin đại chúng đóng vai trò vô cùng quan trọng.

Hơn nữa trong quá trình khảo sát cũng thấy được rất nhiều phong tục tập quán ở các địa phương ảnh hưởng đến việc thực hiện quyền hiến mô, bộ phận cơ thể người, cụ thể là 52,2% số người được hỏi trả lời ở địa phương họ có những phong tục, tập quán cản trở đến việc thực hiện quyền hiến xác, bộ phận cơ thể người sau khi chết.

Đồ thị thể hiện ý kiến về hiến bộ phận cơ thể cho người thân thích theo tầng lớp dân cư

                             Đơn vị: (%)

          Qua bảng số liệu và đồ thị ta thấy khoảng 60% số người ở các thành phần khác nhau được hỏi sẵn sàng hiến bộ phận cơ thể khi người thân thích của mình cần. Qua đó cho thấy nhận thức của người dân về hiến, lấy ghép mô, bộ phận cơ thể người đã ngày càng được nâng cao, họ hiểu được ý nghĩa cao đẹp  về hành động của mình đối với người bệnh và đối với xã hội.

Tuy nhiên đồ thị trên mới chỉ ra được qua điểm của người dân trong việc hiến mô, tạng cho người thân của mình trong tình trạng hiểm nghèo. Còn đối với người ngoài thì số người đồng ý hiến chắc chắn sẽ không được nhiều như vậy vì số liệu thống kê trên cũng cho thấy có trên 30% người dân khó trả lời hoặc có ý kiến chưa rõ ràng về việc hiến bộ phận cơ thể cho người thân (họ vẫn chưa biết mình có nên hiến hay không). Nguyên nhân có thể là do họ không chắc chắn về sức khoẻ của mình có thể hiến được hoặc người được hiến đó phải là cha, mẹ, anh em ruột của họ tức là về mức độ thân thiết…

Còn về  hiến mô, bộ phận cơ thể, hiến xác sau khi chết. Có thể thấy:

Biều đồ thể hiện việc hiến bộ phận cơ thể người, hiến xác sau khi chết theo tầng lớp dân cư

                                                Đơn vị: (%)

        

          Qua số liệu khảo sát cho thấy trên dưới 30% số người thuộc các đối tượng khác nhau được hỏi đã từng nghĩ sẽ hiến bộ phận cơ thể, hiến xác sau khi chết để cứu chữa người bệnh hoặc nghiên cứu khoa học. Điều này có ý nghĩa vô cùng quan trọng vì nguồn mô, tạng nhằm phục vụ cho chữa bệnh và nghiên cứu khoa học sẽ nhiều hơn đảm bảo cho việc cấy ghép mô, tạng ngày càng tăng trong nhân dân. Nhìn vào bảng số liệu và những biểu đồ trên ta có thể thấy được quan niệm giữa các đối tượng sinh viên, công nhân, nông dân và các đối tượng khác về vấn đề hiến xác, hiến bộ phận cơ thể sau khi chết vẫn có sự khác biệt đôi chút về cách nhìn nhận vấn đề, sinh viên thì có cái nhìn thiên về ủng hộ quyền này hơn các đối tượng khác.

Tuy nhiên, sự khác biệt này đã không còn lớn như trước nữa thậm chí là rất nhỏ. Qua số liệu khảo sát ta cũng thấy 70% người dân được hỏi, chưa bao giờ nghĩ đến việc hiến mô, bộ phận cơ thể người sau khi chết hoặc không muốn trả lời về vấn đề này. Do vậy  có thể thấy đây là một vấn đề rất nhạy cảm do đó phần lớn người dân được hỏi họ ngại đề cập đến vấn đề này. Trong những năm tới nhu cầu về cấy ghép mô, tạng ngày càng nhiều, nếu chỉ dựa vào nguồn mô, tạng từ cơ thể người sống sẽ không đủ do đó nguồn mô sẽ phải lấy từ người chết. Do vậy Nhà nước cần phải có sự nhìn nhận xác đáng về vấn đề này để có biện pháp để thực hiện hiệu quả quyền này.

3. Vấn đề tranh chấp về hiến bộ phận cơ thể người hoặc hiến xác sau khi chết  và biện pháp giải quyết tranh chấp

          Ở một số nước trên Thế giới do sự phát triển của ngành giải phẫu học trong đó việc cấy ghép bộ phận cơ thể người ngày càng phát triển, do đó trong thực tế thực hiện quyền hiến ,cấy ghép bộ phận cơ thể người ở những nước này đôi khi xảy ra tranh chấp về việc người được hiến trước, hiến sau hoặc người ghép trước, ghép sau. Do ở những nước này họ thực hiện cấy ghép tạng theo danh sách, tranh chấp về quyền được hiến bộ phận cơ thể từ người chết, người sống hoặc tranh chấp giữa gia đình người ghép với nhau, mặc dù pháp luật những nước này có quy định rất chặt chẽ song vấn đề này không phải không xảy ra.

          – Ở nước ta việc hiến xác bộ phận cơ thể người trên thực tế chưa được diễn ra nhiều và việc cho, nhận xác để cấy, ghép thường diễn ra ở những người thân trong gia đình đồng thời việc một bệnh viện tiến hành mổ xẻ cấy, ghép bộ phận cơ thể người được tiến hành theo một thủ tục giấy tờ khá chặt chẽ theo Điều lệ khám chữa bệnh và phục hồi chức năng 1991 do đó việc tranh chấp về hiến xác, bộ phận cơ thể người xảy ra rất ít. Có chăng là tranh chấp về việc cho hiến hay không cho hiến giữa gia đình với đơn vị được hiến do khi người chết còn sống họ đã tình nguyện khi chết họ sẽ hiến bộ phận cơ thể mình cho mục đích chữa bệnh hoặc nghiên cứu khoa học, nhưng sau khi chết gia đình họ khăng khăng phản đối dẫn tới đơn vị được hiến hầu như không thể nào thực hiện được việc lấy bộ phận cơ thể người. Mặc dù pháp luật cũng có quy định cho phép lấy xác song thực tế cho thấy nếu gia đình người đó không đồng ý thì cơ sở y tế có thẩm quyền không tiến hành lấy. Ở nước ta đây là một tranh chấp không phải là hiếm.

Trong tương lai khi Luật hiến, lấy ghép mô bộ phận cơ thể ra đời, khi người hiến không biết người nhận bộ phận cơ thể của mình là ai, tất cả phải thông qua Trung tâm điều phối Quốc gia để đưa bộ phận cơ thể người hiến đến với người nhận theo thứ tự ghép. Khi đó có thể xảy ra những tranh chấp, tranh cãi như: một là, sẽ dẫn đến tranh chấp giữa những người được ghép về thứ tự ghép; hai là, nếu không thực hiện được công tác bảo mật thông tin người hiến và người được ghép tốt có thể dẫn đến những tranh chấp, tranh cãi giữa những người còn sống của gia đình có người hiến với người được ghép và gia đình họ…; ba là, tranh chấp về quyền được hiến xác, bộ phận cơ thể của tù nhân khi còn sống và sau khi chết, giữa một bên là người hiến thực hiện quyền hiến khi đang chờ thi hành hình phạt tử hình hoặc hiến sau khi thi hành án và bên nhận hiến với cơ quan thi hành án…

Do đó pháp luật cần phải có quy định cụ thể và minh bạch về thứ tự ưu tiên giữa những người được ghép sao cho hợp lý, hợp tình cũng như quy định về quyền được hiến mô, bộ phận cơ thể hiến xác đối với tù nhân, quy định về bảo mật thông tin của người hiến và cả người được ghép…Việc quy định về nguyên tắc điều phối ghép mô, bộ phận cơ thể người, nguyên tắc giữ bí mật thông tin giữa người hiến và người nhận đã được quy định trong Luật hiến, lấy ghép mô, bộ phận cơ thể người[8], nhưng vấn đề hiến bộ phận cơ thể của tù nhân, vấn đề thực hiện lấy xác người hiến sau khi chết trong trường hợp gia đình người đó phản đối chưa được giải thích và thực thi tới nơi, tới chốn thì lại chưa được pháp luật quy định, giải thích rõ…

Do vậy cần có những nghiên cứu để hoàn thiện pháp luật về vấn đề này để tránh những tranh chấp tiềm tàng có thể xảy ra trong tương lai không xa. Đồng thời đẩy mạnh tuyên truyền ý nghĩa của việc hiến xác, mô, bộ phận cơ thể người cho nhân dân hiểu. Nếu có tranh chấp xảy ra thì phải được tiến hành hoà giải, giải thích… Khi giải thích, hoà giải không thành thì Toà án sẽ giải quyết hoặc có sự can thiệp của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền khác trên cơ sở quy định pháp luật.


[1] Xem Toạ đàm về dự thảo pháp lệnh hiến, lấy ghép mô, bộ phận cơ thể ngưòi và khám nghiện tử thi 2004.

[2] Xem Toạ đàm về dự thảo pháp lệnh hiến, lấy ghép mô, bộ phận cơ thể ngưòi và khám nghiện tử thi 2004. Trang 4

 ([3])  L.H, Nhẫn lại chờ luật, http//wwwlaodong.com.vn ngày 16/5/2005

 ([4])  Học viện chính trị Quốc gia, Trung tâm nghiên cứu quyền con ngưòi(1997), Một số vấn đề quyền sự và chính trị, NXB Chính trị Quốc gia, Hà nội.

 [5] Xem Website http//www.dantri.com.vn, Bài Ngọc Sơn hiến xác cho y học, ngày 21/3/2007

 ([6])  Theo Vietnamnet Bài Tôi sẽ hiến xác ngày 10/3/2005 của Minh Thuỵ

[7] Luật về hiến lấy mô, bộ phận cơ thể người và hiến lấy xác bắt đầu có hiệu lực từ  ngày 1/7/2007.

 ([8])  Xem Điều 37 Luật hiến, lấy ghép mô, bộ phận cơ thể người về nguyên tắc điều phối ghép mô, bộ phận cơ thể người

Post a comment or leave a trackback: Trackback URL.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: