THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ CÁCH THỨC NHÂN DÂN THỰC HIỆN QUYỀN LỰC NHÀ NƯỚC THÔNG QUA BẦU CỬ VÀ ỨNG CỬ Ở NƯỚC TA HIỆN NAY

                                        Bùi Đức Hiển

                                              Viện Nhà nước và Pháp luật

          Nước ta đã và đang hướng tới xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân. Để thực hiện thành công mục tiêu này việc nghiên cứu làm rõ thực trạng pháp luật về cách thức nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước thông qua phương thức bầu cử và ứng cử là rất cần thiết. Bài viết này sẽ góp phần làm sáng tỏ những vấn đề trên, đưa ra những hạn chế, bất cập nhất định trong các quy định pháp luật ; thực tiễn hiện hành và kiến nghị hoàn thiện.

1. Khái quát pháp luật về cách thức nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước thông qua bầu cử và ứng cử ở nước ta

Ở nước ta, ngay từ phiên họp đầu tiên của Hội đồng Chính phủ lâm thời nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ngày 3 tháng 9 năm 1945, Hồ Chủ tịch đã đề nghị Chính phủ sớm tổ chức cuộc tuyển cử và xây dựng Hiến pháp: “trước ta đã bị chế độ quân chủ chuyên chế cai trị, rồi đến chế độ thực dân không kém phần chuyên chế, nên nước ta không có Hiến pháp, nhân dân ta không được hưởng quyền tự do dân chủ. Chúng ta phải có một Hiến pháp dân chủ. Tôi đề nghị Chính phủ phải tổ chức càng sớm càng hay cuộc tuyển cử với chế độ phổ thông đầu phiếu. Tất cả công dân, trai, gái, từ 18 tuổi đều có quyền bầu cử, ứng cử, không phân biệt giàu nghèo, dòng giống”[1]. Qua các bản Hiến pháp 1946, 1959, 1980, và đặc biệt 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) có ghi nhận: “Nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ tri thức” (Điều 2, Hiến pháp 1992 sửa đổi, bổ sung năm 2001), đồng thời coi bầu cử và ứng cử là những quyền cơ bản và hiến định của công dân. Điều 6 Hiến pháp 1992 chỉ rõ: “Nhân dân sử dụng quyền lực nhà nước thông qua Quốc hội và Hội đồng nhân dân là những cơ quan đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân, do nhân dân bầu ra và chịu trách nhiệm trước nhân dân. Quốc hội, Hội đồng nhân dân và các cơ quan khác của nhà nước đều tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ”. Những quy định này đã được cụ thể hóa trong Luật Tổ chức Quốc hội năm 2001, Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 2003, Luật Tổ chức Chính phủ năm 2001; đặc biệt là trong Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều năm 2001 và Luật Bầu cử Đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2003.

Với tính chất quan trọng của hoạt động bầu cử và việc thực hiện quyền lực nhà nước thông qua phương thức bầu cử. Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và Luật Bầu cử Hội đồng nhân dân hiện hành của chúng ta được xây dựng trên các nguyên tắc như: nguyên tắc phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín. Các nguyên tắc này thống nhất với nhau, đảm bảo cho cuộc bầu cử khách quan, dân chủ thể hiện đúng nguyện vọng của cử tri khi lựa chọn đại biểu; quy định quyền và trách nhiệm của cử tri trong bầu cử, trách nhiệm của nhà nước phải đảm bảo những quy định về bầu cử. Các nguyên tắc này có thể được pháp luật quy định bằng một quy phạm nhất định hoặc bằng nhiều quy phạm trong các văn bản pháp luật về bầu cử.

   Thực tiễn, bầu cử, ứng cử ngoài việc được tiến hành để nhân dân bầu ra các cơ quan quyền lực nhà nước thì bầu cử, ứng cử cũng được tiến hành nhằm tổ chức nội bộ các cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội (bầu các chức danh nhà nước, bầu ban lãnh đạo các tổ chức xã hội, cơ quan, xí nghiệp…). Như vậy, bầu cử có thể có nhiều mục đích và dạng thức khác nhau.

  Thực tế đó cho thấy có thể chia bầu cử, ứng cử làm hai loại: các cuộc bầu cử, ứng cử mang tính chính trị thường thấy trong việc bầu để tổ chức ra cơ quan quyền lực nhà nước và các cuộc bầu cử để bầu ra ban lãnh đạo và những người đứng đầu trong một số tổ chức, đoàn thể chính trị, chính trị, xã hội. Điểm khác biệt giữa hai loại bầu cử, ứng cử này ở chỗ, hoạt động bầu cử, ứng cử để thành lập ra các cơ quan nhà nước được điều chỉnh bởi Hiến pháp và các văn bản quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành, còn bầu ra Ban lãnh đạo các tổ chức xã hội dân sự được thực hiện theo Điều lệ của tổ chức đó. Vì vậy dưới phương diện pháp lý chế độ bầu cử, ứng cử là thủ tục thành lập cơ quan nhà nước hay thủ tục trao quyền cho một cá nhân được quy định bởi Hiến pháp và pháp luật mỗi nước, nhưng chúng tôi cho rằng nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước thông qua bầu cử không chỉ là các cuộc bầu ra đại biểu dân cử mà bao hàm cả việc bầu ra những người đứng đầu và những người trong Ban lãnh đạo các tổ chức chính trị, chính trị xã hội (Tổ chức Đảng, Mặt trận tổ quốc, Công đoàn, các Hội xã hội nghề nghiệp… nhân dân thực hiện quyền lực của mình qua đó, tham gia thực hiện quyền lực nhà nước cũng có thể bằng con đường đó). Tuy nhiên, bài viết này sẽ không đi sâu vào bàn những vấn đề đó mà chỉ tập trung vào hoạt động bầu cử các cơ quan quyền lực nhà nước và việc nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước thông qua phương thức bầu cử. Bởi vấn đề cơ bản của chính trị là vấn đề ai là người tạo lên quyền lực nhà nước và thực hiện quyền lực nhà nước.

2. Thực trạng pháp luật về cách thức nhân dân tham gia thực hiện quyền lực nhà nước thông qua phương thức bầu cử và ứng cử

2.1. Quy định về cách thức nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước thông qua bầu cử

  Cần phải hiểu rõ rằng nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước thông qua phương thức bầu cử không chỉ là việc nhân dân tham gia vào việc đi bỏ phiếu mà quá trình đó bao hàm cả việc cơ quan dân cử đó sẽ thay mặt nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước như thế nào… Với suy nghĩ như vậy, chúng tôi cho rằng cách thức nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước qua cách thức bầu cử gồm các vấn đề sau:

– Thứ nhất, nhân dân tham gia trực tiếp bầu các đại biểu vào cơ quan đại diện của nhân dân ở trung ương như Quốc hội hay Hội đồng nhân dân các cấp ở địa phương. Thông qua qua lá phiếu của mình, nhân dân lựa chọn những ứng của viên ưu tú, có trình độ và phẩm chất chính trị, có thể thay mặt và đại diện cho nhân dân thực hiện quyền lực của mình. Đến đây thông qua hoạt động trực tiếp tham gia bầu cử của mình, nhân dân đã tổ chức ra các cơ quan quyền lực nhà nước từ trung ương đến địa phương. ;

 Thứ hai, ở trung ương sau khi bầu xong cơ quan đại diện của mình nhân dân tiếp tục thực hiện quyền lực của mình bằng cách ủy quyền cho các cơ quan đại diện mà cụ thể là các đại biểu được bầu thay mặt nhân dân bầu ra những người có đủ đức, đủ tài, vừa hồng vừa chuyên giữ các chức vụ quan trọng của đất nước để thực hiện có hiệu quả quyền lực mà nhân dân giao phó, cụ thể: một là, Quốc hội cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nhân dân[2] bầu ra Chủ tịch Quốc hội (một trong các đại biểu ưu tú mà nhân dân đã bầu ra) để điều hành các hoạt động của Quốc hội theo quy định của pháp luật; hai là, bầu ra Chủ tịch nước (người đứng đầu nhà nước về đối mội và đối ngoại, thống lĩnh các lực lượng vũ trang); ba là, bầu ra Thủ tướng người đứng đầu cơ quan hành pháp (Chính phủ), các Phó Thủ tướng giúp việc cho Thủ tướng và các Bộ trưởng là tư lệnh các lĩnh vực để quản lý xã hội; Bốn là, bầu ra Chánh án Tòa án nhân dân tối cao (người đứng đầu quyền tư pháp); Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân dân tối cao. Từ đó hình thành lên hệ thống các cơ quan nhà nước ở Trung ương nhằm thực hiện có hiệu quả quyền lực nhân dân. Chính phủ là cơ quan đứng đầu quyền hành pháp thực hiện các hoạt động điều hành và quản lý xã hội; Tòa án nhân dân là cơ quan tư pháp làm nhiệm vụ xét xử; Viện kiểm sát nhân dân là cơ quan thực hiện quyền công tố và giám sát hoạt động của các cơ quan tư pháp. Hoạt động bầu cử này dựa trên nguyên tắc hiến định về tổ chức bộ máy nhà nước là quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa ba quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp.

Thứ ba, Quốc hội sẽ tiến hành hoạt động lập Hiến, lập pháp xây dựng Hiến pháp và các đạo luật về các lĩnh vực khác nhau của đời sống, tạo hành lang pháp lý để thực hiện quyền lực nhân dân có hiệu lực và hiệu quả ;

Thứ tư, Quốc  hội quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước về chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội ;

Thứ năm, ở địa phương nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước thông qua cách thức bầu cử như bầu ra các đại biểu ưu tú vào các cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương (Hội đồng nhân dân các cấp tỉnh, huyện, xã). Tiếp đó Hội đồng nhân dân thay mặt nhân dân bầu ra các chức vụ quan trọng ở địa phương như Chủ tịch, Phó chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp và một số chức vụ quan trong khác như người đứng đầu các sở, Phòng ban. Tuy nhiên, những người này sau khi được bầu cần phải có quyết định đồng ý của các cơ quan hành chính cấp trên trực thuộc (theo nguyên tắc song trùng trực thuộc), nhằm đảm bảo hoạt động quản lý được thông suốt từ trên xuống dưới và giúp thực hiện quyền lực nhà nước hiệu quả và thống nhất. Sau khi được Hội đồng nhân dân cấp bầu và người đứng đầu cơ quan hành chính cấp trên bổ nhiệm thì các cơ quan này sẽ thay mặt nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước ;

– Thứ sáu, sau khi bầu ra các cơ quan hành pháp, tư pháp…và xây dựng cơ sở pháp lý về nhiệm vụ quyền hạn để các cơ quan này tiến hành thực hiện quyền lực nhân dân thì các cơ quan dân cử sẽ giám sát hoạt động của các cơ quan và người đứng đầu các cơ quan này nhằm đảm bảo chắc chắn rằng các cơ quan đó thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của mình như: thông qua các cuộc trả lời chất vấn, các báo cáo, giải trình… trước Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội hoặc bằng gửi tới các đại biểu Quốc hội. Qua hoạt động giám sát đó các cơ quan quyền lực nhà nước sẽ đưa ra các giải pháp để yêu cầu, khắc phục những hạn chế đó…

Thứ bảy, sau khi thực hiện các nhiệm vụ được nhân dân ủy quyền như trình bày trên thì Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp mà cụ thể là các đại biểu Quốc hội, đâị biểu Hội đồng nhân dân các cấp phải báo cáo cho nhân dân biết về những hoạt động của mình như: thông qua truyền hình trực tiếp các cuộc trả lời chất vấn, qua hoạt động tiếp xúc cử tri. Đồng thời trong quá trình tiếp xúc cử tri các đại biểu phải lắng nghe ý kiến, nguyện vọng, đề đạt của nhân dân.

Thứ tám, nhân dân bằng quyền lực của mình trên cơ sở hoạt động của đại biểu sẽ quyết định có tiếp tục bầu đại biểu đó tiếp nhiệm kỳ nữa hay không. Việc bỏ phiếu tiếp hay không thể hiện sự còn hay không còn tín nhiệm của nhân dân với đại biểu đó. Không phải khi đại biểu không thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn của mình gây thiệt hại cho nhân dân, cho đất nước thì không phải chờ đến khi hết nhiệm kỳ rồi nhân dân sẽ quyết định qua lá phiếu mà khi có đầy đủ căn cứ xác định là các đại biểu này vi phạm pháp luật thì bị Quốc hội họp và miễn nhiệm, bãi nhiệm và có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự… tùy theo mức độ.

Điều đó cho thấy bầu cử là cách thức quan trọng để nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước. Bên cạnh đó ứng cử cũng là một cách thức quan trọng để nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước.

2.2. Cách thức nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước thông qua ứng cử

Bầu cử và ứng cử đều là hình thức quan trọng để thực hiện dân chủ, nhưng nếu nếu bầu cử là hình thức dân chủ gián tiếp nhân dân bầu ra cơ quan đại diện để thực hiện quyền lực nhà nước thì ứng cử lại là hình thức dân chủ trực tiếp. Nhân dân đủ điều kiện luật định tự ứng cử vào một chức vụ nhất định trong cơ quan nhà nước để trực tiếp thực hiện quyền lực nhà nước. Thực hiện nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước thông qua phương thức ứng cử qua một số khía cạnh sau:

– Thứ nhất, nhân dân tự ứng cử hoặc được đề cử vào giữ chức vụ nhất định trong cơ quan nhà nước. Những công dân, đại biểu ưu tú hội tụ đủ các điều kiện tốt nhất về trình độ, về đạo đức về phẩm chất chính trị…có thể tự ứng cử vào làm đại biểu ở các cơ quan quyền lực nhà nước (Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp) khi trở thành được bầu vào các cơ quan này họ có thể tự mình tham gia bàn bạc, quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước; tham gia xây dựng luật, pháp lệnh và bầu ra các chức vụ quan trọng khác của bộ máy nhà nước và  giám sát việc thực hiện quyền lực nhà nước…

Thứ hai, những đại biểu đã trúng cử vào các cơ quan đại diện có thể tự ứng cử hoặc được đề cử vào các chức vụ quan trọng của nhà nước như Chủ tịch Quốc hội, Chủ tịch nước, Thủ tướng Chính phủ, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao…và khi được bầu giữ một trong các chức vụ này người đó có thể trực tiếp tham gia thực hiện quyền lực nhà nước thông qua việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của mình.

Bên cạnh những phương thức có thể nói là cơ bản, hiến định trên nhân dân cũng có thể tham gia vào thực hiện quyền lực nhà nước qua hoạt động bầu cử ban lãnh đạo các tổ chức chính trị, xã hội để thực hiện quyền lực nhà nước. Việc nhân dân tham gia vào các tổ chức chính trị – xã hội, xã hội nghề nghiệp và ứng cử vào các chức vụ quan trọng của các cơ quan, tổ chức này càng được coi trọng và đẩy mạnh các thành viên được bầu đã trực tiếp thực hiện quyền lực của nhân dân thông qua nhiệm vụ, quyền hạn của tổ chức mà nhà nước san sẻ và giao cho…

2.3. Thực trạng nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước qua cách thức bầu cử  và ứng cử

Qua hoạt động bầu cử của nhân dân Quốc hội ra đời đã thực hiện ngày càng có hiệu quả chức năng của mình. Về lập pháp mỗi năm Quốc hội thông qua hàng chục đạo luật, nhiều nghị quyết điều chỉnh hầu khắp các vấn đề quan trọng của đất nước cũng như của người dân; Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp thay mặt nhân dân quyết định nhiều vấn đề quan trọng của đất nước ở cả trung ương và địa phương. Ví dụ quyết định về các dự án kinh tế trọng điểm quốc gia như dự án thủy điện Sơn La, dự án nhà máy lọc dầu Dung Quất, dự án xây dựng hai nhà máy điện hạt nhân ở Ninh Thuận mới đây. Cơ quan quyền lực nhà nước còn giám sát hoạt động của các cơ quan chấp hành như Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao,Viện kiểm sát nhân dân tối cao thông qua việc chất vấn và trả lời chất vấn của đại biểu với Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao…, và giám sát việc thực hiện những mục tiêu, nhiệm vụ mà Quốc hội giao cho các cơ quan chấp hành. Nhìn chung Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân góp phần quan trọng cho việc tổ chức tốt các cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân, tạo cơ sở pháp lý cho việc kiện toàn, củng cố tổ chức và hoạt động của chính quyền nhân dân, đề nhân dân tham gia thực hiện có hiệu quả hiệu lực quyền lực nhà nước. Thực tế cho thấy sự tham gia thực hiện quyền lực nhà nước của nhân dân ta thông qua bầu cử và ứng cử từ khi Nhà nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa ra đời đến nay là rất đáng ghi nhận. Những cuộc bầu cử đại biểu quốc hội là những ngày hội của nhân dân ở khắp nơi trên lãnh thổ Việt Nam, người dân từ đủ 18 tuổi trở lên từ khắp nông thôn đến thành thị đều háo hức tham gia bầu cử, ứng cử, các cơ quan quyền lực nhà nước từ trung ương đến địa phương đều thay mặt nhân dân thực hiện thực hiện có hiệu lực, hiệu quả quyền lực nhà nước. Theo các thống kê của nước ta cho thấy các cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội hầu như số lượng cử tri đi bỏ phiếu đều rất cao chiếm trên 90%, có những cuộc bầu cử lượng cử tri đi bầu chiếm đến 99% số số phiếu bâu cho các cử tri cũng rất cao từ trên từ 70% đến 99% [3]. Qua đó thể hiện sự quan tâm của nhân dân với tổ chức bộ máy nhà nước và cũng thể hiện được quyền lực của nhân dân.

Tuy nhiên, qua quy định pháp luật và thực trạng thực hiện quyền lực nhà nước của nhân dân qua cách thức bầu cử và ứng cử bên cạnh những thành công thì vẫn còn những hạn chế nhất định.

2.4. Những hạn chế, bất cập trong việc lực hiện quyền lực nhân dân thông qua phương thức bầu cử  và ứng cử ở  nước ta hiện nay

Thứ nhất, mặc dù Đảng là lực lượng lãnh đạo nhà nước và xã hội (Điều 4 Hiến pháp 1992), Đảng chỉ đưa ra đường lối chứ không bao biện làm thay. Tuy nhiên, nhiều trường hợp sự tác động của Đảng vào hoạt động của các cơ quan quản lý nhà nước cũng ảnh hưởng đến tính khách quan của các cơ quan này trong việc quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước, xây dựng luật hoặc bầu các chức vụ của Nhà nước.

Thứ hai, việc nhân dân thông qua phương thức bầu cử thực hiện quyền lực của mình thực tế vẫn giải quyết được mọi vấn đề. Có những vấn đề các cơ quan dân cử quyết định phù hợp với nguyện vọng của đại đa số nhân dân. Tuy nhiên, cũng không loại trừ có vấn đề các cơ quan dân cử quyết định không được đại đa số nhân dân ủng hộ. Ví dụ việc sáp nhập tỉnh Hà Tây vào Thủ đô Hà Nội đây là một quyết định giải quyết được nhu cầu phát triển mở rộng thủ đô, nhưng liệu nhân dân có ủng hộ nhiều không thì cũng khó xác định, bởi chưa có cuộc điều tra cụ thể nào về vấn đề này, nhưng rõ ràng ở đây việc sáp nhập này thông qua phương thức trưng cầu ý dân thì lại rất hợp lý…

Thứ ba, việc bầu cử vẫn còn mang tính hình thức chưa tạo lên sự ganh đua giữa các ứng cử viên trong việc tham gia tranh cử; số ứng cử viên tham gia tranh cử hoặc tự ứng cử được ghi tên vào danh sách ứng cử viên còn ít. Do vậy nhân dân vẫn không có nhiều cơ hội trong việc lựa chọn đại biểu của mình. Mặt khác, một số đại biểu được nhân dân bầu ra không những không nhận thức được sự vinh dự và trách nhiệm của mình mà không thực hiện hoặc thực hiện mờ nhạt nhiệm vụ, quyền hạn của mình. Hơn nữa các đại biểu Quốc hội được bầu, đại biểu kiêm nhiệm các chức vụ trong các cơ quan hành chính nhà nước là không ít. Do đó tính chuyên nghiệp của đại biểu chưa cao, đại biểu không có nhiều thời gian để thực hiện nhiệm vụ đại biểu của mình trước nhân dân.

Thứ tư, hoạt động tiếp xúc của cử tri của các ứng cử viên với nhân dân tại các đơn vị bầu cử hầu như vẫn chưa được phát triển mạnh mà mới chỉ có tiệp xúc cử tri tại đơn vị người đó ứng cử. Người dân ở đơn vị bầu cử nhất định chỉ biết về ứng cử viên ở đơn vị mình qua bản sơ yếu lý lịch dân ở đơn vị bầu cử, có rất nhiều đơn vị bầu cử người dân chưa được tiếp xúc với ứng cử viên mà mình sẽ bầu bao giờ. Do đó, làm nhân dân thiếu cơ sở để có thể bầu cho một ứng cử viên nào đó, dẫn tới hiện tượng lựa chọn bừa theo cảm tính; thứ hai, người dân vẫn hoài nghi về sự trung thực và khách quan trong hoạt động bầu cử, từ đó tạo tâm lý chán nản, không hứng thú với hoạt động bầu cử hoặc có tham gia thì họ cũng không cho rằng đó là quan trọng mà chủ yếu bỏ cho có. Điều này là rất nguy hiểm cần được khắc phục trong thời gian tới.

Thứ năm, các cơ quan dân cử vẫn còn nhiều khó khăn trong việc thực hiện quyền lực của mình do thiếu những điều kiện pháp lý về thẩm quyền, nhiệm vụ, quyền hạn…trong mối quan hệ với các cơ quan khác.

Sở dĩ có vấn đề này do nguyên nhân như: sự hạn chế của pháp luật bầu cử, pháp luật về tổ chức và hoạt động của các cơ quan dân cử; về quyết tâm chính trị của nhà lãnh đạo, về ý thức của nhân dân; về kinh tế; về tuyên truyền…

Bàn đến quyền lực của nhân dân thông qua bầu ra cơ quan đại diện, chúng ta thấy vừa qua Quốc hội đã ban hành thí điểm về bỏ Hội đồng nhân dân quận, huyện và thí điểm việc bầu chủ tịch xã. Đây là hai quyết định quan trọng liên quan đến quyền bầu cử và quyền bầu cơ quan đại diện của nhân dân. Vậy vấn đề này đã hợp lý chưa? Việc bỏ Hội đồng nhân dân cấp huyện có người cho rằng là đúng vì đây chỉ là cấp trung gian và hoạt động kém hiệu quả; người có quan điểm ngược lại thù cho rằng sở dĩ Hội đồng nhân dân hoạt động chưa hiệu quả là do nó chưa được tạo đẩy đủ các điều kiện để có thể hoạt động hiệu quả. Khoan nói đến kết quả đúng sai của Quyết định này song rõ ràng nhân dân đã mất đi một cơ quan đại diện hay việc thí điểm nhân dân trực tiếp bầu Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã, nó mở rộng dân chủ trực tiếp trong nhân dân. Nhưng vấn đề đặt ra là vai trò của Hội đồng nhân dân xã với Ủy ban và đặc biết với chủ tịch xã sẽ giải quyết như thế nào? Nhân dân có được bầu người không phải là đảng viên hay không và liệu yếu tố dòng họ có ảnh hưởng đến việc bầu cử này không?… Điều này chúng ta cũng cần phải bàn.

Những bất cập, hạn chế trên phần nào đã giảm ý nghĩa tích cực của chế độ bầu cử tiến bộ của nước ta, ảnh  hưởng không nhỏ đến khả năng sử dụng quyền lực nhà nước của nhân dân. Qua đó ảnh hưởng đến chất lượng và hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước. Ciệc có những phương hướng, giải pháp đổi mới chế độ bầu cử, ứng cử và cách thức thực hiện quyền lực nhà nước ở nước ta sẽ có ý nghĩa quan trọng đối với việc phát huy dân chủ, đổi mới nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước ta hiện nay.

3. Giải pháp nâng cao quyền làm chủ của nhân dân qua phương thức bầu cử và ứng cử

3.1. Nhu cầu đổi mới, nâng cao quyền làm chủ của nhân dân qua thực hiện quyền bầu cử, ứng cử ở nước ta hiện nay

– Xuất phát từ yêu cầu phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa. Dân chủ xã hội chủ nghĩa ở nước ta là nhằm xác lập và khẳng định trên thực tế mọi quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân lao động mà thể hiện rõ, trước nhất là dân chủ trong lĩnh vực chính trị, đó là quyền bầu cử và ứng cử. Do vậy nhân dân có thực sự là chủ thể của quyền lực nhà nước không, điều đó thể hiện qua việc các cơ quan quyền lực nhà nước có thực sự do dân bầu ra hay không, các đại biểu trong các cơ quan dân cử có thực sự là đại diện cho đông đảo nhân dân hay không. Do vậy để đảm bảo được nền dân chủ thực sự thì phụ thuộc nhiều vào nguyên tắc, cách thức và pháp luạt về bầu cử.

– Xuất phát từ những đòi hỏi của việc xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nước ta. Chế độ bầu cử phải hướng tới xây dựng nhà nước pháp quyền của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, trên cơ sở đảm bảo: tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân; tính tối thượng của pháp luật; tôn trọng và bảo vệ quyền con người, quyền công dân; đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam; tư pháp độc lập;

– Xuất phát từ bất cập của hệ thống pháp luật bầu cử, ứng cử; pháp luật về tổ chức và hoạt động của các cơ quan dân cử ở nước ta hiện nay như đã trình bày ở phần trên vẫn còn nhiều bất cập và hạn chế ảnh hưởng đến chất lượng của các cuộc bầu cử cũng như chất lượng hoạt động của các cơ quan dân cử. Do vậy  làm giảm lòng tin của nhân dân vào các cơ quan do mình bầu ra.

Việc xây đổi mới chế độ bầu cử và nâng cao vai trò của các cơ quan dân cử cần phải tuân thủ những nguyên tắc và phương hướng nhất định nhằm đảm bảo cho quá trình này phù hợp với hoàn cảnh, điều kiện của đất nước nhằm tăng cường hơn nữa quyền lực của nhân dân. Trong quá trình này cần kiên  trì các phương hướng như:

– Xây dựng chế độ bầu cử, ứng cử thật sự dân chủ trên cơ sở tôn trọng và tuân thủ triệt để các nguyên tắc tiến bộ về bầu cử. Phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín.

– Nâng cao tiêu chuẩn người đại diện đi đôi với nâng cao hiệu quả hoạt động của các cơ quan dân cử.

– Xây dựng một cơ chế bầu cử hữu hiệu đảm bảo bầu được những đại biểu thực sự là những người đại diện cho ý chí và nguyện vọng của cử tri. Trong đó có cơ chế tiếp xúc cử tri rộng rãi không chỉ trước khi bầu cử mà cả sau khi đã được bầu cử. Người được bầu cử phải thực hiện đúng và có hiệu quả chức trách nhiệm vụ của mình trước nhân dân và phải chịu trách nhiệm trước nhân dân.

3.2. Giải pháp nhằm thực hiện hiệu quả quyền lực nhân dân qua phương thức bầu cử

  Thứ nhất, phải có quyết tâm chính trị của nhà lãnh đạo. Để nhân dân thực hiện quyền lực của mình một cách hiệu quả thông qua phương thức bầu cử, bên cạnh việc hoàn thiện những bất cấp về pháp luật về bầu cử, về tổ chức thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan dân cử thì cần phải có quyết tâm chính trị của nhà lãnh đạo một cách toàn diện trong suốt quá trình từ việc đưa ra đường lối đến quy định pháp luật và việc tổ chức thực thi.

Thứ hai, cần phải nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về bầu cử, về tổ chức và hoạt động của các cơ quan dân cử, như: về điều kiện đối cử tri đi bầu, điều kiện đối với ứng cử viên tham gia ứng cử; về số lượng cử tri ứng cử; việc bầu cử thêm, bầu cử lại… Đặc biệt nhấn mạnh là hoàn thiện các quy định pháp luật về hiệp thương, về thẩm quyền, nhiệm vụ quyền hạn của các cơ quan dân cử và nâng cao vai trò của cơ quan dân cử trong việc tổ chức, giám sát thực hiện quyền lực nhà nước.

Thứ ba, hoạt động của các cơ quan quyền lực nhà nước cần phải đảm bảo tính độc lập và khách quan và không chịu sự tác động của bất kỳ cơ quan, tổ chức nào, trong đó có tổ chức Đảng cũng không nên tác động vào hoạt động của các cơ quan quyền lực nhà nước mà sẽ lãnh đạo nhà nước thông qua chủ trương và đường lối. Điều này là hợp lý bởi theo logic và quy định của pháp luật thì Đảng lãnh đạo đưa ra chủ trương, đường lối, chính sách, các quan điểm này sẽ được các cơ quan nhà nước thể chế hóa bằng các quy định pháp luật. Hơn nữa trong nhà nước pháp quyền thì pháp luật là tối thượng, cả nhân dân và nhà nước đều phải tuân thủ pháp luật và thực hiện đúng các quy định pháp luật đó cũng là thực hiện đúng chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng. Do vậy sự tác động của Đảng vào các cơ quan này là không cần thiết.

Thứ tư, các ứng cử viên cần phải đẩy mạnh tiếp xúc cử tri nhiều hơn cả trước và sau bầu cử để nhân dân biết được người mình sẽ bầu là người như thế nào, những công việc ông ta sẽ làm cho mình nếu được bầu và giám sát xem ông ta làm được những gì…Trước những quyết định quan trọng của cơ quan dân cử đối với những đơn vị bầu cử nhất định các đại biểu đại diện cho khu vực đó phải tăng cường tiếp xúc cử tri, lắng nghe ý kiến, tâm tư, nguyện vọng của nhân dân, đặc biệt nhân dân ở khu vực bị ảnh hưởng trực tiếp bởi quyết định đó. Ví dụ. quyết định về việc sáp nhập thủ đô, hay việc thu hồi một diện tích đất đai lớn để làm công trình thủy điện, tiến hành dự án xây dựng nhà máy điện hạt nhân  chẳng hạn thì cử đại biểu phải tiến hành tiếp xúc cử tri ở những nhóm khác nhau, sau đó tổng hợp ý kiến và báo cáo với Quốc hội hoặc hội đồng nhân dân để từ đó có thể đưa ra quyết sách hợp lý.

Thứ năm, muốn khắc phục, hạn chế được những yếu điểm của việc thực hiện quyền lực của nhân dân qua phương thức bầu cử. Chúng tôi cho rằng nên nghiên cứu áp dụng các phương thức dân chủ trực tiếp vào thực hiện quyền lực nhà nước để nhân dân được trực tiếp quyết định một số vấn đề quan trọng của đất nước. Trưng cầu dân ý là một giải pháp không dễ thực hiện và không thể thực hiện trong mọi trường hợp, song sử dụng trong các trường hợp nhất định thì lại góp phần hạn chế những điểm yếu mà phương thức dân chủ gián. Về mặt pháp lý thực sự không còn xa lạ bởi ngay trong Hiến pháp đầu tiên của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đã có những quy định rõ ràng về vấn đề này và hiện nay nước ta đã và đang tiến hành nghiên cứu và xây dựng Luật về Trưng cầu dân ý để cụ thể hóa quyền này. Khi quyền này được thể chế hóa sẽ tạo cơ xở pháp lý thuận lợi hơn cho nhân dân trong việc tham gia thực hiện quyền lực nhà nước.

Thứ sáu, cơ quan dân cử cần phải phát huy mạnh mẽ hơn nữa quyền lực của nhân dân trong việc quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước; chất vấn hoạt động của người đứng đầu các cơ quan hành pháp, tư pháp. Thực hiện xây dựng các văn bản luật, pháp luật, nghị quyết trên cơ sở đề cao sự tham gia đánh tác động của văn bản đến với lĩnh vực và đối tượng mà nó điều chỉnh (RIA) nên bỏ dần lối làm luật theo kế hoạch mà tiến tới xây dựng các đạo luật có chất lượng pháp lý cao. Hơn nữa đồng thời với việc xây dựng luật, pháp lệnh, các văn bản hướng dẫn thi hành cũng phải được xây dựng song song để khi luật có hiệu lực sẽ được đi vào cuộc sống ngay điều đó cũng phù hợp với nguyện vọng của nhân dân. Bên cạnh đó Quốc hội cần nâng cao chất lượng hoạt động giám sát của Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội với các hoạt động của các cơ quan chấp pháp và bảo vệ pháp luật. Báo cáo với nhân dân về những việc Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp đã làm được, những gì chưa làm được và sắp tới sẽ làm gì, trong các cuộc tiếp xúc cử tri. Nâng cao tính chịu trách nhiệm của cử tri. Như vậy sẽ góp phần làm tăng niềm tin của nhân dân vào cơ quan đại diện của mình và làm tăng giá trị của mỗi lá phiếu của cử tri.

  Thứ bảy, đẩy mạnh công tác tuyên truyền phổ biến, giáo dục nâng cao ý thức chính trị của các bộ phận dân cư, tuyên truyền cho nhân dân biết tầm quan trọng của hoạt động bầu cử và ý nghĩa của việc tham gia bầu cử của nhân dân. Biến hoạt động bầu cử thật sự trở thành sinh hoạt chính trị rộng khắp, là ngày hội của nhân dân.

Bên cạnh đó về việc bỏ Hội đồng nhân dân cấp huyện, quận do các cơ quan này chưa hoạt động hiệu quả. Theo chúng tôi dưới góc độ đảm bảo quyền làm chủ của nhân dân thông qua cơ quan đại diện thì việc bỏ đi các cơ quan này sẽ làm giảm đi vai trò của nhân dân trong việc giám sát hoạt động của cơ quan hành chính cấp này. Đồng thời việc Hội đồng nhân dân cấp huyện hoạt động chưa có hiệu quả có thể không hẳn là do tính trung gian của nó mà có thể do chưa cung cấp đủ điều kiện để nó hoạt động hiệu quả. Do vậy chúng tôi cho rằng không lên bỏ cơ quan đại diện của nhân dân ở cấp huyện, bởi cấp huyện vẫn là một cấp hành chính có nhiều hoạt động quản lý điều hành tập trung ở đó. Cùng với thí điểm bỏ Hội đồng nhân dân cấp huyện, quận chúng ta cũng nên thí điểm việc giữ nguyên Hội đồng nhân dân cấp huyện, quận và tạo đẩy đủ điều kiện để nó hoạt động hiệu quả. Đặc biệt là sự độc lập về tài chính so với Ủy ban nhân dân cùng cấp. Điều đó sẽ giúp chúng ta co lựa chọn đúng đắn trong vấn đề này.

Việc bầu chủ tịch xã có lẽ đây cũng là một ý tưởng tốt nhằm làm tăng quyền làm chủ trực tiếp của nhân dân. Nhân dân bầu những người mà họ cho là xứng đáng và giám sát hoạt động của họ. Tuy nhiên, nhiều vấn đề được đặt ra cần phải được giải quyết ở đây về mặt lý luận: thứ nhất, hội đồng nhân dân cấp xã liệu còn có quyền  giám sát hoạt động của Chủ tịch  UBND không? Liệu chủ tịch được bầu không đồng thời là đảng viên thì có được chấp nhận không? Liệu yếu tố tâm lý dòng họ (theo số đông) có bị lợi dụng trong quá trình bầu cử này hay không? Chúng tôi cho rằng việc xây dựng cơ chế nhân dân trực tiếp bầu chủ tịch xã cần được tiếp tục nghiên cứu. Trên cơ sở người ứng cử hoặc được đề cử phải là người có đầy đủ các điều kiện về trình độ chuyên môn và có thể chịu sự giám sát của cả nhân dân cũng như Hội đồng nhân dân xã…


[1] Hồ Chí Minh (toàn tập), Tập 4, tr8, Nxb. Chính trị quốc gia , Hà Nội, 1995.

[2] Quốc hội đại diện cho nhân dân tổ chức và phân công quyền lực đồng thời thay mặt nhân dân giám sát việc thực hiện quyền lực phù hợp với Hiến pháp và pháp luật của mình và nhân dân giám sát quá trình này thông qua việc tiếp xúc cử tri và trả lời câu hỏi của cử tri và từ đó nhân dân xem xét có bầu lại người đó nữa hay không, trong quá trình này Quốc hội cũng tham gia vào giám sát chính bản thân những vấn đề mình thông qua thấy nhân dân và sẽ xử lý kịp thời khi phát hiện ra những sai trái Hiến pháp và pháp luật. Nhân dân cũng thông qua các tổ chức chính trị xã hội để thể hiện quyền làm chủ của mình về tất cả các vấn đề của cuộc sống như : về chính trị, kinh tế, văn hóa, giáo dục…

Post a comment or leave a trackback: Trackback URL.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: