Diễn đàn Giáo dục quyền con người

VỀ QUYỀN THAM GIA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC CỦA NHÂN DÂN Ở VIỆT NAM

                                                                  Ths. Bùi Đức Hiển

                                                          Viện Nhà nước và Pháp luật

1. Khái quát về quyền tham gia quản lý nhà nước của nhân dân

Quyền tham gia quản lý nhà nước là một quyền chính trị quan trọng của nhân dân. Quyền này được thể hiện trong mối quan hệ gắn bó giữa nhân dân với nhà nước, trong đó nhân dân là gốc của quyền lực nhà nước, là chủ thể tạo lập nên quyền lực nhà nước. Để hiểu được quyền tham gia quản lý nhà nước, chúng ta cần bắt đầu từ thuật ngữ quản lý nhà nước. Theo nghĩa hiểu thông dụng nhất, quản lý nhà nước là hoạt động của Nhà nước trên các lĩnh vực lập pháp, hành pháp và tư pháp nhằm thực hiện chức năng đối nội và đối ngoại của nhà nước[1]. Còn về quyền tham gia quản lý nhà nước, hiện nay có nhiều cách để định nghĩa về quyền này tùy theo cách tiếp cận và phân loại vấn đề của nhà nghiên cứu. Còn xuất phát từ hình thức của dân chủ và phân nhóm quyền lực nhà nước, chúng tôi cho rằng: “quyền tham gia quản lý nhà nước của nhân dân là việc nhân dân trực tiếp hoặc thông qua các đại diện (đã được tự do lựa chọn của mình) sử dụng các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp nhằm quản lý mọi lĩnh vực của đời sống xã hội”.

Việc thừa nhận quyền tham gia quản lý nhà nước của nhân dân không chỉ ở nước ta và các nước trên thế giới có nhiều ý nghĩa: một là, tạo cơ sở pháp lý quan trọng để nhân dân có thể trực tiếp bằng hành động của mình hoặc gián tiếp thông qua cácđại diện (được bầu cử tự do) tham gia vào quản lý nhà nước và xã hội…; hai là, thể hiện tính chính đáng và ưu việt là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân; ba là, góp phần phát huy sức mạnh và trí tuệ của toàn dân xây dựng bộ máy nhà nước trong sạch và thực thi công vụ có hiệu quả, tiến tới xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế;…

Quyền tham gia quản lý nhà nước của nhân dân là một quyền chính trị của con người và mang tính lịch sử sâu sắc. Nó chỉ xuất hiện khi xã hội có Nhà nước[2]. Dưới góc độ khoa học, quyền tham gia quản lý Nhà nước của nhân dân ra đời xuất phát từ quan niệm về dân chủ. Dân chủ nguyên gốc của từ này bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp là demockratia là “cai trị bởi nhân dân”. Điều đó cho thấy quyền tham gia quản lý nhà nước của nhân dân không phải là độc lập, tách rời mà luôn đặt trong mối quan hệ với nhà nước, trong đó nhân dân là người tạo dựng lên quyền lực nhà nước. Xét từ cơ sở này trên thế giới, có thể thấy ở kiểu nhà nước chủ nô[3] và kiểu nhà nước phong kiến[4] quyền tham gia quản lý nhà nước của nhân dân đã manh nha hình thành và từng bước phát triển. Tuy nhiên, do bản chất của các kiểu nhà nước chủ nô và phong kiến nên việc tham gia vào quản lý nhà nước của người dân còn rất hạn chế[5]. Cùng với sự phát triển của xã hội loài người qua các kiểu nhà nước quyền này ngày càng được thừa nhận rộng rãi, đặc biệt từ khi các nhà nước dân chủ tư sản hiện đại và nhà nước xã hội chủ nghĩa. Bởi cả hai kiểu nhà nước này nhân dân đều là gốc của quyền lực nhà nước. Cơ sở hình thành, phát triển của quyền lực nhà nước là từ nhân dân và mục đích của thực hiện quyền lực nhà nước đều vì lợi ích của nhân dân.

Qua đó có thể thấy cũng với sự phát triển của xã hội loài người qua các kiểu nhà nước vị thế của con người ngày càng được nâng cao từ địa vị nô lệ thấp hèn trong nhà nước chủ nô, thần dân trong nhà nước phong kiến trở thành công dân trong nhà nước tư sản và công dân thực sự trong nhà nước xã hội chủ nghĩa. Với sự dịch chuyển về địa vị đó quyền tham gia quản lý nhà nước của nhân dân ngày càng được thừa nhận rộng rãi và thực chất hơn. Nếu chỉ là manh nha hình thành trong kiểu nhà nước chủ, nhà nước phong kiến thì đến nhà nước dân chủ tư sản hiện đại và đặc biệt là nhà nước xã hội chủ nghĩa, nhân dân đã trở thành chủ thể thực sự là gốc của quyền lực nhà nước. Bên cạnh đó quyền tham gia quản lý nhà nước của nhân dân, ban đầu Nhà nước là chủ thể đóng vai trò chủ đạo trong quản lý nhà nước và xã hội dần dần tiến tới cả nhân dân và nhà nước cùng tham gia quản lý xã hội (nhân dân vừa trực tiếp tham gia quản lý nhà nước, vừa ủy quyền cho nhà nước quản lý những lĩnh vực nhất định của đời sống xã hội).

Trong xã hội dân chủ, có nhiều cách thức để nhân dân thực hiện quyền tham gia quản lý nhà nước, tùy theo cách phân loại:

Căn cứ theo phân loại quyền lực nhà nước, có thể chia quyền tham gia quản lý nhà nước thành quyền tham gia quản lý nhà nước đối với quyền lập pháp; quyền được tham gia quản lý nhà nước đối với quyền tư pháp, quyền được tham gia quản lý nhà nước đối với quyền hành pháp.

Dựa vào việc liệt kê các quyền thì quyền tham gia quản lý nhà nước của nhân dân, bao gồm: quyền tham gia bầu cử, ứng cứ vào đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp; quyền góp ý cho việc xây dựng các dự án Luật, pháp lệnh…; tham gia ứng cử, thi tuyển vào chức vụ nhất định ở trung ương hoặc địa phương để trực tiếp thực hiện quyền tham gia quản lý nhà nước; quyền giám sát các cơ quan nhà nước trong thực hiện quyền lực nhà nước; quyền được trưng cầu dân ý quyết định các vấn đề trọng đại của đất nước, tham gia bàn bạc các vấn đề của đất nước, của địa phương.

Còn dựa vào các hình thức dân chủ và các quy định pháp luật hiện hành có thể chia quyền tham gia quản lý nhà nước của nhân dân thành: quyền được tham gia quản lý nhà nước trực tiếp và quyền được tham gia quản lý nhà nước gián tiếp. Hình thức thực hiện quyền tham gia quản lý trực tiếp tiếp, gồm: được tham gia góp ý, xây dựng các dự án luật, pháp lệnh; bổ nhiệm, thi tuyển vào chức vụ nhất định; tham gia trưng cầu ý dân, tham gia bàn bạc các vấn đề của đất nước và địa phương; tham gia kiểm tra, giám sát, đánh giá hoạt động của các cơ quan nhà nước, khiếu nại tố cáo khi cơ quan nhà nước có những việc làm trái pháp luật;… Hình thức tham gia thực hiện quyền tham gia quản lý nhà nước gián tiếp, như nhân dân thông qua các cơ quan đại diện; các tổ chức chính trị, chính trị – xã hội, xã hội nghề nghiệp mà mình là thành viên để thực hiện quyền tham gia quản lý nhà nước.

Dưới góc độ pháp lý quốc tế, quyền tham gia quản lý nhà nước đã được ghi nhận tại Điều 21.1. Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền năm 1948, cụ thể: “Mọi người đều có quyền tham gia vào việc quản lý đất nước mình, trực tiếp hoặc thông qua các đại diện đã được tự do lựa chọn”. Tiếp đó, Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị năm 1966 tại Điều 25 cũng khẳng định: “mọi công dân, không có bất kỳ sự phân biệt nào như đã nêu ở Điều 2 và không có sự hạn chế bất hợp lý nào, đều có quyền và cơ hội để tham gia vào việc điều hành các công việc xã hội một cách trực tiếp hoặc thông qua những đại diện được họ tự lựa chọn”. Qua đó cho thấy việc thừa nhận quyền tham gia quản lý nhà nước của nhân dân đã có những bước tiến quan trọng. Từ chỗ là quyền mang tính chính trị, ít có dàn buộc pháp lý với các quốc gia trong Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền. Quyền này đã được cụ thể hóa và mang tính dàn buộc pháp lý hơn trong Công ước quốc tế về quyền dân sự, chính trị năm 1966. Không chỉ ghi nhận chung chung quyền tham gia quản lý nhà nước là một quyền chính trị quan trọng của con người, Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền và Công ước về quyền dân sự, chính trị còn chỉ ra cách thức để nhân dân có thể thực hiện quyền tham gia quản lý nhà nước trực tiếp hoặc thông qua các cơ quan đại diện do nhân dân bầu. Sự thừa nhận, ghi nhận quyền này trong các Công ước quốc tế là cơ sở pháp lý quan trọng để các quốc gia cụ thể hóa quyền này trong Hiến pháp, pháp luật quốc gia mình.

Ở Việt Nam, từ khi Nhà nước Việt Namdân chủ cộng hòa ra đời đến nay. Ngay từ khi soạn thảo Hiến pháp đầu tiên của Nhà nước Việt Namkiểu mới, Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: Nhà nước phải phát huy quyền làm chủ, phát huy tính tích cực và sáng tạo của nhân dân, “làm cho mọi người công dân Việt Nam thực sự tham gia quản lý công việc nhà nước… [6]”.

Tiếp đó quyền này đã tiếp tục được ghi nhận Trong các bản Hiến pháp năm 1946[7], Hiến pháp năm 1959, Hiến pháp năm 1980 và Hiến pháp năm 1992, sửa đổi, bổ sung năm 2011 cũng như các Luật và văn bản dưới Luật.

Dù ở từng thời kỳ và mức độ ghi nhận khác nhau[8], nhưng sự ghi nhận này cho thấy quyền tham gia quản lý nhà nước là một quyền chính trị, hiến định của công dân, thể hiện quyền làm chủ của nhân dân.

2. Nội dung và thực tiễn thực hiện quyền tham gia quản lý nhà nước ở Việt Nam

          2.1. Pháp luật hiện hành về quyền tham gia quản lý nhà nước của nhân dân

Nội dung quyền tham gia quản lý nhà nước thể hiện trong các quy định pháp luật. Từ khi tiến hành sự nghiệp đổi mới mở cửa tiến tới xây dựng thiện Nhà nước pháp quyền ở nước ta đến nay, quyền tham gia quản lý nhà nước của nhân dân ngày càng được thừa nhận rộng rãi và được ghi nhận trong pháp luật.

Điều 2, Hiến pháp năm 1992 sửa đổi, bổ sung năm 2001 khẳng định: “Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức”. Quy định này là nguồn gốc, cơ sở của hình thành quyền tham gia quản lý nhà nước của nhân dân. Điều 53, Hiến pháp này cũng ghi nhận: công dân có quyền tham gia quản lý Nhà nước và xã hội, tham gia thảo luận các vấn đề chung của cả nước và địa phương, kiến nghị với cơ quan Nhà nước, biểu quyết khi Nhà nước tổ chức trưng cầu ý dân”. Có thể thấy quyền tham gia quản lý nhà nước là quyền Hiến định của công dân. Đây là cơ sở pháp lý quan trọng để các cơ quan có thẩm quyền xây dựng và hoàn thiện pháp luật về vấn đề này. Để cụ thể hóa quyền tham gia quản lý nhà nước của nhân dân, Nhà nước ta đã ban hành rất nhiều Luật cũng như văn bản dưới Luật, có thể liệt kê: Luật Bầu cử Quốc hội năm 1997 (sửa đổi, bổ sung năm 2002), Luật Bầu cử Hội đồng nhân dân 2003, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật bầu cử Đại biểu Quốc hội và Luật Bầu cử Đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2010, Luật Tổ chức Quốc năm 2002 sửa đổi, bổ sung năm 2007, Luật Tổ chức Chính phủ năm 2002, Luật Cán bộ, công chức năm 2008, Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 2003, Luật Hoạt động Giám sát của Quốc hội năm 2003, Luật Thanh tra 2010, Luật Khiếu nại, tố cáo năm 1998 sửa đổi, bổ sung năm 2004, 2005, Luật Luật phòng chống tham nhũng năm 2005 sửa đổi, bổ sung năm 2007… và hàng trăm Nghị định cũng như các văn bản dưới luật khác quy định về vấn đề này. Các văn bản pháp luật này quy định cụ thể về quyền tham gia quản lý nhà nước của nhân dân. Nhân dân có thể thông qua các đại diện do mình bầu nên tham gia quản lý nhà nước hoặc trực tiếp thực hiện việc quản lý nhà nước:

Một là, nhân dân thông qua đại diện của mình để thực hiện quyền tham gia quản lý nhà nước. Ở trung ương sau khi bầu xong cơ quan đại diện của mình, nhân dân tiếp tục thực hiện quyền tham gia quản lý nhà nước bằng cách ủy quyền cho các cơ quan đại diện bầu ra những người có đủ đức, đủ tài, vừa hồng vừa chuyên giữ các chức vụ quan trọng của đất nước để thực hiện quản lý nhà nước, cụ thể: một là, Quốc hội cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nhân dân bầu ra Chủ tịch Quốc hội (một trong các đại biểu ưu tú mà nhân dân đã bầu ra) để điều hành các hoạt động của Quốc hội theo quy định của pháp luật; hai là, bầu ra Chủ tịch nước (người đứng đầu nhà nước về đối mội và đối ngoại, thống lĩnh các lực lượng vũ trang); ba là, bầu ra Thủ tướng người đứng đầu cơ quan hành pháp (Chính phủ), các Phó Thủ tướng giúp việc cho Thủ tướng và các Bộ trưởng là tư lệnh các lĩnh vực để quản lý xã hội; bốn là, bầu ra Chánh án Tòa án nhân dân tối cao (người đứng đầu quyền tư pháp); Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân dân tối cao. Từ đó hình thành lên hệ thống các cơ quan nhà nước ở Trung ương nhằm thực hiện có hiệu quả quyền lực nhân dân.

Ở địa phương cũng như ở trung ương sau khi bầu xong các cơ quan đại diện của mình (Hội đồng nhân dân các cấp tỉnh, huyện, xã). Hội đồng nhân dân thay mặt nhân dân bầu ra các chức vụ quan trọng ở địa phương như Chủ tịch, Phó chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp và một số chức vụ quan trọng khác như người đứng đầu các sở, Phòng ban. Tuy nhiên, những người này sau khi được bầu cần phải có quyết định bổ nhiệm của các người đứng đầu cơ quan hành chính cấp trên trực thuộc (theo nguyên tắc song trùng trực thuộc), nhằm đảm bảo hoạt động quản lý được có hiệu quả  thông suốt từ trên xuống dưới.

Hai là, nhân dân trực tiếp tham gia quản lý nhà nước khi được bầu, bổ nhiệm, thi tuyển vào chức vụ nhất định. Ví dụ: được Quốc hội bầu làm Chủ tịch nước, Thủ tướng Chính phủ, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Bộ trưởng, được bổ nhiệm vào chức thứ thứ trưởng hay công dân trực tiếp tham gia thi tuyển vào các vị trí nhất định của cơ quan nhà nước để tham gia quản lý nhà nước. Ở nước ta theo số liệu thống kê năm 2007 thì tổng số cán bộ, công chức, viên chức trên cả nước là 1.670.000 người, với gần 60% có trình độ đại học, trên địa học, trên 40% có trình độ trung cấp lý luận trở lên[9]. Còn theo thống kê của Vụ Tổ chức – Biên chế, Bộ Nội vụ chỉ tính số biên chế công chức hành chính của cả nước đã khoảng 260 nghìn người[10]. Qua đó có thể thấy số lượng người dân trực tiếp tham gia quản lý nhà nước ở nước ta những năm vừa qua không ngừng tăng về cả số lượng và chất lượng góp phần quan trọng vào tăng cường quyền tham gia quản lý nhà nước của nhân dân.

Ba là, về hoạt động tham gia thảo luận, góp ý, xây dựng Hiến pháp, pháp luật. Nhân dân có thể gián tiếp thông qua các đại biểu Quốc hội tiến hành hoạt động xây dựng Hiến pháp và các đạo luật về các lĩnh vực khác nhau của đời sống, tạo hành lang pháp lý để thực hiện quyền lực nhân dân có hiệu lực và hiệu quả. Bên cạnh đó nhân dân có thể trực tiếp thực hiện quyền tham gia vào thảo luận, xây dựng các dự án Luật, dự án Pháp lệnh. Vấn đề này đã được quy định trong Điều 39 và Điều 40, Luật Ban hành các văn bản quy phạm pháp luật như một công đoạn trong quy trình xây dựng pháp luật. Thực tiễn xây dựng các dự án luật, dự án pháp lệnh, Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho thấy, nhân dân có thể góp ý kiến về dự án luật, dự án pháp lệnh thông qua cơ quan, tổ chức của mình, trực tiếp hoặc gửi thư góp ý tới Văn phòng Quốc hội, các cơ quan, tổ chức soạn thảo dự án hoặc thông qua các phương tiện thông tin đại chúng; Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên, cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân có trách nhiệm tổ chức, tạo điều kiện để công dân thuộc đơn vị mình tham gia góp ý kiến vào dự án luật, dự án pháp lệnh. Mục đích cuối cùng là để xây dựng được văn bản pháp luật tốt nhất, có vòng đời lâu nhất.

Bốn là, tham gia quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước. Hiến pháp và pháp luật ghi nhận nhân dân có thể gián tiếp thực hiện quyết định các vấn đề quan trọng về kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh quốc phòng của thông qua Quốc  hội đại diện cho nhân dân. Mặt khác nhân dân cũng có thể trực tiếp thực hiện quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước về chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội và an ninh quốc phòng, đối ngoại trực tiếp thông qua việc trưng cầu ý dân khi nhà nước tổ chức. Nhưng vấn đề ở chỗ từ khi ra đời Hiến pháp 1992 đến nay Nhà nước hầu như chưa một lần trưng cầu ý kiến nhân dân về các vấn đề quan trọng của đất nước và thực tế cũng chưa có sự lý giải rõ thế nào là các vấn đề quan trọng của đất nước và cơ quan nào có quyền đứng ra tổ chức. Do vậy rất khó khăn cho nhân dân trong thực hiện quyền tham gia quản lý nhà nước của mình.

Về phản biện đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước. Nhân dân có thể trực tiếp tham gia góp ý, phản biện bằng các bài viết hoặc góp ý trong các buổi tiếp xúc nhân dân… Bên cạnh đó nhân dân gián tiếp thông qua các tổ chức chính trị xã hội như Mặt trận Tổ quốc… tham gia phản biện các đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước; thảo luận các vấn đề từ nhỏ đến lớn ở địa phương và trên phạm vi cả nước,…. Ví dụ: góp ý hoàn thiện văn kiện Đại hội Đảng hay nhân dân tham gia bàn công việc liên quan đến thôn, bản, tổ dân phố, xây dựng cầu, đường, bàn bạc các chính sách; …

Năm là, về kiểm tra, giám sát việc thực hiện quyền lực nhà nước. Theo quy định của pháp luật hiện hành nhân dân có thể thông qua Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp thay mặt nhân dân giám sát việc thực hiện quyền lực nhà nước phù hợp với Hiến pháp và pháp luật và nhân dân giám sát quá trình này thông qua việc tiếp xúc cử tri và trả lời câu hỏi của cử tri và từ đó nhân dân xem xét có bầu lại người đó nữa hay không. Bên cạnh đó nhân dân cũng có thể trực tiếp tham gia vào việc này, như giám sát, đánh giá hoạt động của các cơ quan nhà nước, kiến nghị, khiếu nại, tố cáo khi phát hiện cơ quan nhà nước, các chủ thể có thẩm quyền có hành vi vi phạm pháp luật.

2.2. Thực trạng thực hiện quyền tham gia quản lý nhà nước của nhân dân

Sự tham gia của nhân dân vào quản lý nhà nước những năm vừa qua đã tạo nên nền tảng nhất định về kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng, đối ngoại, ổn định chính trị cho đất nước, bước đầu nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân. Tuy nhiên, nếu nhìn vào từng lĩnh vực quản lý nhà nước có thể thấy không chỗ nào không có vấn đề, như:

Về kinh tế, tốc độ tăng trưởng chậm, lạm phát gia tăng, giá cả xăng, dầu, điện cho đến các mặt hàng tiêu dùng thiết yếu đều tăng chóng mặt, sản xuất đình đốn, nhiều doanh nghiệp, tập đoàn lớn phá sản, ví dụ: tập đoàn vinashin…, nhập siêu không có xu hướng giảm, các dự án đầu tư từ xây dựng cơ bản đến các dự án cụ thể, như các dự án bất động sản đều gặp những vấn đề nan giải…; về giao thông thì hỗn loạn chưa tìm ra hướng giải quyết lâu dài, đặc biệt tại các đô thị lớn, như Hà Nội và Tp. Hồ Chí Minh; về quy hoạch thiếu tầm nhìn, quy hoạch sau mâu thuẫn, chồng chéo với quy hoạch trước, thiếu tính khả thi… Ví dụ theo quy hoạch phát triển giao thông ở Hà Nội thì sẽ có nhiều cây cầu vượt mới chỉ được xây dựng xong vài năm bị dỡ bỏ,…; về y tế bên cạnh thiếu cơ sở vật chất phục vụ khám, chữa bệnh thì giá thuốc tăng, chi phí khám chữa, điều trị bệnh tốn kém, thủ tục hành chính nhiêu khê, phiền hà làm cho hành trình khám chữa bệnh của nhân dân gặp nhiều khó khăn; về giáo dục chương trình đào tạo tiểu học đến đại học thậm chí là sau đại học bế tắc, chưa xác định được chiến lược giáo dục rõ ràng…; về văn hóa tồn tại nhiều vấn đề từ bất cập trong quản lý thể thao đến quy trình vinh danh các ca sĩ, nghệ sĩ với các giải thưởng nhà nước, văn hóa đang bị xuống cấp trầm trọng… dẫn tới đời sống của nhân dân thì ngày càng khó khăn, phát triển xã hội thiếu bền vững. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến vấn đề này trong đó có quyền tham gia quản lý nhà nước của nhân dân chưa được bảo đảm. Bên cạnh những tồn tại của quản lý nhà nước về vĩ mô thì quyền tham gia quản lý nhà nước của nhân dân ở góc độ cụ thể việc nhận thức và thực tiễn thực hiện quyền này cũng còn không ít hạn chế:

Một là, về nhân dân gián tiếp thực hiện quyền tham gia quản lý nhà nước. Vẫn chưa xác định được rõ giới hạn quyền tham gia quản lý nhà nước của các cơ quan đại diện của nhân dân. Do vậy nhân dân ủy quyền nhưng có xu hướng nhân dân không thể kiểm soát được việc thực hiện quyền tham gia quản lý nhà nước của các cơ quan này…;

Hai là, việc tiếp cận các thông tin về các lĩnh vực quản lý nhà nước vẫn còn nhiều khó khăn… Quyền được tiếp cận thông tin của người dân vẫn chưa được ghi nhận trong Hiến pháp và chưa được cụ thể hóa… ảnh hưởng đến quyền tham gia quản lý nhà nước của nhân dân.

Ba là, về việc tham gia quản lý nhà nước thông qua thi tuyển vào những vị trí nhất định. Về nguyên tắc tương đối rõ ràng, nhưng thực tiễn cũng còn nhiều vấn đề phải bàn. Ví dụ: tuyển dụng vẫn chưa tuân theo quy luật cung cầu hay người được tuyển xếp công việc không đúng với chuyên môn của họ. Do vậy sẽ làm cho sức cống hiến giảm đi rõ rệt.

Ba là, việc phản biện đương lối, chính sách của Đảng và Nhà nước cũng như tổ chức lấy ý kiến của nhân dân về dự án luật, dự án pháp lệnh vẫn chưa được thực hiện một cách đồng bộ, có hệ thống và còn mang tính hình thức… Ví dụ lấy ý kiến của nhân, nhưng không xem xét, tiếp thu và cũng không có trả lời góp ý nếu không tiếp thu…

Bốn là, Nhà nước một mặt kêu gọi nhân dân tham gia vào kiểm tra, giám sát việc thực hiện quyền lực nhà nước, như phòng chống tham nhũng, lãng phí,… Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy chưa có cơ chế để bảo vệ những người tham gia vào quá trình này. Do vậy họ thường hay bị trù dập, đe dọa, nếu làm việc trong cơ quan nhà nước thì khó tiến thân…

Năm là, nhân dân chưa thực hiện được quyền tham gia quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước do thiếu cơ sở pháp lý. Ví dụ: Hiến pháp quy định nhân dân được tham gia biểu quyết khi nhà nước tổ chức trưng cầu dân ý, nhưng lại chưa quy định rõ những trường hợp nào Nhà nước phải tổ chức trưng cầu ý dân và nếu Nhà nước không tổ chức thì người dân cũng không được biểu quyết và thực tiễn Nhà nước cũng chưa từng một lần trưng cầu ý dân.

Những tồn tại cả về vĩ mô và vi mô đó cho thấy vẫn chưa phát huy được vai trò quan trọng của nhân dân trong tham gia quản lý nhà nước. Sở dĩ còn những tồn tại trên theo chúng tôi là do nhiều nguyên nhân: từ nhận thức của các cấp lãnh đạo và người dân về quyền tham gia quản lý nhà nước còn hạn chế; văn hóa hành chính cũ (quan liêu, mệnh lệnh hành chính còn nặng nề); nhiều quy định pháp luật về quyền tham gia quản lý nhà nước vẫn còn thiếu thống nhất, thiếu đồng bộ, thậm chí có những quy định còn chống chéo lẫn nhau; chưa giới hạn được rõ ràng mức độ ủy quyền tham gia quản lý nhà nước của nhân dân cho các cơ quan đại diện dẫn tới nhân dân khó giám sát được việc thực hiện quyền của các cơ quan này. Hơn nữa, thực tiễn hoạt động quản lý nhà nước ở nước ta cho thấy tính minh bạch, công khai trong các hoạt động của cơ quan quản lý nhà nước còn chưa cao, văn hóa hành chính cũ còn khá nặng nề. Do vậy có hiện tượng lợi dụng việc bưng bít thông tin để tư lợi, trong khi quyền được tham gia tiếp cận thông tin của nhân dân vẫn chậm, nhiều thông tin quan trọng từ đường lối, chính sách, cho đến các dự án cụ thể nhân dân không tiếp cận được. Một vấn đề nữa là cách thức tổ chức thực hiện quyền tham gia quản lý nhà nước của nhân dân vẫn còn nhiều tồn tại từ các quy định pháp luật đến tổ chức thực hiện…

3. Kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện quyền tham gia quản lý nhà nước ở Việt Nam

Có thể khẳng định mục đích tham gia quản lý nhà nước của nhân dân là nhằm xây dựng một xã hội dân chủ, bảo đảm quyền con người, thúc đẩy kinh tế, văn hóa, xã hội, giáo dục, y tế,… phát triển nhằm mang lại cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho nhân dân, tất cả do dân, vì dân. Để làm được điều đó chúng ta phải lưu ý những vấn đề sau:

Thứ nhất, về thuật ngữ quyền tham gia quản lý nhà nước. Hiện nay, đa phần trong các văn kiện pháp lý quốc tế cũng như Hiến pháp và pháp luật nước ta đều sử dụng thuật ngữ “quyền tham gia quản lý nhà nước”. Tuy nhiên, theo chúng tôi trong bối cảnh tiến tới xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay, quyền tham gia quản lý nhà nước của nhân dân ngày càng được thừa nhận rộng rãi và mang tính tất yếu vì nhân dân là gốc của quyền lực. Nên nếu vẫn sử dụng từ “tham gia” vào nhóm thuật ngữ quyền tham gia quản lý, sẽ thể hiện tính bị động của quyền này, chậm/không đáp ứng được xu thế phát triển của đất nước và quyền con người. Do vậy chúng tôi đồng ý với quan điểm của một số nhà khoa học cho  rằng nên bỏ từ “tham gia” thống nhất nhận thức và gọi là Quyền quản lý nhà nước của nhân dân.

Thứ hai, về nhận thức. Đối với cán bộ lãnh đạo và các cơ quản lý nhà nước cần phải nhận thức thực hiện quyền tham gia quản lý nhà nước của nhân dân sẽ góp phần quan trọng xây dựng một nhà nước pháp quyền hoạt động có hiệu lực và hiệu quả. Đồng thời với nhận thức này là quyết tâm chính trị của nhà lãnh đạo từ việc đưa ra đường lối đến quy định pháp luật và việc tổ chức thực thi đều cần có sự tham gia của nhân dân vào quá trình này, phải thực sự lấy dân làm gốc, tất cả vì lợi ích của nhân dân. Bên cạnh đó cần nâng cao khả năng nhận thức cho nhân dân về quyền được tham gia quản lý nhà nước của mình đặc biệt là các quyền cụ thể. Bởi nhân dân sẽ không thể tham gia quản lý nhà nước được nếu họ không biết được quyền của họ là gì.

Thứ ba, về pháp luật. Cần nghiên cứu sửa đổi Hiến pháp và cụ thể hóa các quyền quản lý nhà nước của nhân dân trong quá trình xây dựng và hoàn thiện các đạo luật như: Luật Bầu cử Quốc hội, Luật Bầu cử Hội đồng nhân dân, Luật Tổ chức Quốc hội, Chính phủ, Luật Phòng Chống tham nhũng, lãng phí, Luật Trưng cầu ý dân, Luật về Hội, Luật Tiếp cận thông tin… nhằm tạo sự linh hoạt cho nhân dân trong quá trình thực hiện quyền quản lý nhà nước, đặc biệt là quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước. Giới hạn rõ việc ủy quyền cho các cơ quan nhà nước trong thực hiện quyền quản lý nhà nước đảm bảo quyền lực nhà nước là của nhân dân thực sự.

Tuy nhiên, quyền tham gia quản lý nhà nước của nhân dân cũng cần có những giới hạn nhất định. Dưới góc độ lý luận chúng tôi cho rằng mặc dù nhân dân là chủ thể của quyền lực nhà nước, nhưng quyền tham gia quản lý Nhà nước của nhân dân không phải là quyền vô hạn mà nó bị giới hạn bởi các quy định pháp luật. Pháp luật không chỉ giới hạn quyền lực của Nhà nước mà còn giới hạn quyền quản lý nhà nước của công dân. Không phải có quyền quản lý nhà nước là tự do vô chính phủ mà tất cả các hoạt động này phải được thực hiện theo quy định của pháp luật trên cơ sở đảm bảo quyền con người, lợi ích quốc gia, trật tự an toàn xã hội cũng như quyền và lợi ích hợp pháp của người khác.

Thứ tư, cần đảm bảo các điều kiện cần thiết để nhân dân thực hiện quyền quản lý nhà nước. Đặc biệt là phải đảm bảo sự công khai, minh bạch trong hoạt động quản lý nhà nước ngay từ khi bắt đầu hoạch định đường lối, chính sách, các dự án cho đến các công việc cụ thể trước toàn thể nhân dân. Hơn nữa, cần có những biện pháp cụ thể đảm bảo cho nhân dân có thể tiếp cận với các thông tin được nhanh nhất, dễ dàng, thuận lợi với chi phí rẻ nhất. Từ đó tạo cơ sở để nhân dân tham gia quản lý nhà nước ngày càng hiệu quả.

Thứ năm, cần dân chủ hóa, minh bạch hóa hoạt động xây dựng pháp luật, thu hút nhân dân tham gia sâu rộng vào quá trình soạn thảo các dự án luật, pháp lệnh… để đưa pháp luật đưa cuộc sống vào pháp luật. Việc tổ chức cho người dân tham gia đóng góp ý kiến cần đi vào thực chất, tránh phô trương hình thức theo góc độ tuyên truyền. Cần tạo điều kiện để người dân tự giác, chủ động tham gia đóng góp ý kiến và sau đó cần tiếp thu một cách kỹ lưỡng ý kiến của nhân dân. Cần nhận thức sâu sắc rằng, nhân dân là chủ thể sáng tạo pháp luật. Từ đó tạo ra môi trường thuận lợi để nhân dân thực hiện năng lực chủ thể sáng tạo luật: đóng góp ý kiến không chỉ thông qua các cơ quan, tổ chức đại diện mà tăng cường hình thức trực tiếp tham gia đóng góp ý kiến xây dựng các dự án luật hoặc trực tiếp tham gia vào quá trình soạn thảo luật.

Thứ sáu, nâng cao vai trò của các phương tiện truyền thông trong bảo đảm quyền tham gia quản lý nhà nước của nhân dân. Với ưu thế đặc biệt của mình phương tiện truyền thông đóng vai trò là cầu nối chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước đến với nhân dân và phản ánh tâm tư, nguyện vọng hiệu quả của các đường lối, chính sách, pháp luật của nhân dân trở lại đối với các cơ quan quản lý nhà nước. Phương tiện truyền thông góp phần tuyên truyền cho nhân dân hiểu hơn về quyền tham gia quản lý nhà nước, trong đó có các quyền cụ thể nhất. Đồng thời phương tiện truyền thông với tư cách là quyền lực thứ tư cũng góp phần quan trọng vào phát hiện các sai trái, vi phạm của cơ quan nhà nước trong việc hạn chế quyền tham gia quản lý nhà nước của nhân dân góp phần thực hiện quyền này được hiệu quả hơn.

Thứ bảy, về cách thức thực hiện quyền tham gia quản lý nhà nước của nhân dân. Cần phải đa dạng hóa các hình thức thực hiện quyền này. Hơn nữa bên cạnh việc giới hạn rõ quyền tham gia quản lý nhà nước của nhân dân thì cũng cần có những chế tài để xử lý các hành vi cản trở việc thực hiện quyền này của nhân dân trong khuôn khổ pháp luật. Bên cạnh đó cần xây dựng những tiêu chí nhất định, như: các vấn đề, lĩnh vực mà nhân dân được tham gia vào quản lý nhà nước; số lượng nhân dân tham gia; hiệu quả của các lĩnh vực quản lý nhà nước và lợi ích của nhân dân… để đánh giá mức độ hiệu quả của việc thực hiện quyền tham gia quản lý nhà nước.

 


[1] Xem 900 thuật ngữ pháp lý ViệtNam, Nhà xuất bản Tp. Hồ Chí Minh năm 1996.

[2] Trước khi có Nhà nước, con người có thể tham gia vào hoạt động quản lý nhất định của bộ tộc, xong dưới góc độ lý thuyết đó không phải là tham gia quản lý nhà nước.

[3] Ví dụ ở Nhà nước Xpac có Hội nghị công dân là cơ quan quyền lực cao nhất bao gồm tất cả những người Xpac từ 30 tuổi tuổi trở lên. Còn ở Nhà nước cộng hòa quý tộc Aten người dân tham gia vào quản lý nhà nước còn rộng hơn, nhà nước này căn cứ vào tài sản để chia dân cư thành 4 đẳng cấp và tùy theo những đẳng cấp này để được bầu vào chức vụ nhất định để tham gia quản lý nhà nước. Đẳng cấp thấp nhất không được bầu vào giữ các chức vụ nhất định tuy nhiên cũng được tham dự Hội nghị công dân (mọi quyền lực tối cao của nhà nước đều tập trung vào Hội nghị công dân). Xem thêm: Giáo trình Lịch sử Nhà nước và Pháp luật thế giới, Nhà xuất bản Đại học quốc gia Hà Nội, tr 52-63).

[4] Thời kỳ này sự tham gia quản lý nhà nước của nhân dân được thể hiện rộng rãi hơn ở chỗ người dân có thể tham gia thi cử, được bổ nhiệm làm quan để trực tiếp quản lý nhà nước. Bên cạnh đó còn nhiều kênh để nhân dân tham gia vào quản lý nhà nước như khi nhà nước cần tham khảo ý kiến của nhân dân về những vấn đề quan trọng của đất nước. Ví dụ Hội nghị Diên Hồng vào thời Trần ở ViệtNam…

[5] Nhà nước chủ nô là công cụ thống trị của giai cấp chủ nô đối với giai cấp nô lệ (nô lệ là công cụ biết nói, là một thứ tài sản không được coi là con người). Còn xã hội phong kiến người dân bị con là thần dân, dưới sự cai trị của thiên tử (vua). Vua thay mặt trời để quản lý, ban phát cho nhân dân… thậm chí thời kỳ này cũng có những quan điểm coi dân làm gốc, như trong Tứ Thư của Mạnh Tử có nói “dân vi quýxã tắc thứ chiquân vi khinh” nghĩa lấy dân làm gốc, được lòng dân là thuận thiên lý ,là đươc tất cả .Ai ngộ chân lỳ này người ấy làm chủ thiên hạ ,vì dân thay trời hành đạo. Tuy nhiên, gốc ở đây không phải là gốc của quyền lực nhà nước như xã hội dân chủ hiện đại mà là gốc để quản lý, theo nghĩa nếu không có dân thì quản lý ai…

[6] Hồ Chí Minh toàn tập, t.9, tr.590.

[7] Do hoàn cảnh thực tiễn thời đó mà Hiến pháp năm 1946 vẫn chưa được đưa vào ứng dụng thực tiễn.

[8] Hiến pháp 1946 thừa nhận quyền tham gia quản lý nhà nước của nhân dân (Điều thứ 7). Nhân dân nhân dân có quyền phúc quyết về Hiến pháp khi hai phần ba tổng số nghị viên yêu cầu và được trưng cầu những việc quan hệ đến vận mệnh quốc gia khi được hai phần ba tổng số nghị viên đồng ý (Điều thứ 21). Đến Hiến pháp năm 1959 quy định tất cả quyền lực trong nước Việt Nam dân chủ cộng hoà đều thuộc về nhân dân. Nhân dân sử dụng quyền lực của mình thống qua Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp do nhân dân bầu ra và chịu trách nhiệm trước nhân dân. Nhân dân có quyền giám sát hoạt động quản lý nhà nước và có quyền khiếu nại, tố cáo khi có vi phạm pháp luật. Tuy nhiên, Hiến pháp này lại không quy định quyền tham gia quản lý nhà nước trực tiếp của nhân dân. Đến Hiến pháp năm 1980 lại quy định công dân có quyền tham gia quản lý công việc của Nhà nước và của xã hội.

 [9] Xem bài: Công đoàn viên chức Việt Nam tích cực tham gia giám sát và phản biện xã hội. Theo TTXVN. Nguồn:http://www.dostquangtri.gov.vn/chuyenmuc/ldld/include/defaultasp?option=2&Menu=241& sub= 344&chitiet=925.

[10]Xem bài: Cuối 2011 sẽ dừng tinh giản biên chế Nhà nước, Nguồn: http://www.baomoi.com/Home  /ThoiSu/vtc.vn/Cuoi-2011-se-dung-tinh-gian-bien-che-Nha-nuoc/7024611.epi.


Post a comment or leave a trackback: Trackback URL.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: