Một phần của Đề tài cấp Bộ

PHÁP LUẬT VỀ BẢO ĐẢM AN SINH XÃ HỘI TRONG TRƯỜNG HỢP XẢY RA THIÊN TAI Ở NƯỚC TA HIỆN NAY

Ths. Bùi Đức Hiển

Viện Nhà nước và Pháp luật

1. Khái quát về bảo đảm an sinh xã hội trong trường hợp thiên tai

Đảm bảo an sinh xã hội trong trường hợp thiên tai là sự trợ giúp, bảo vệ của Nhà nước, cộng đồng đối với các thành viên của mình thông qua một loạt các biện pháp công cộng nhằm trợ giúp, khắc phục những khó khăn do thiệt hại về tài sản, sức khỏe, tính mạng hoặc bị giảm sút nguồn thu nhập do sự tàn phá của thiên tai. Có thể nói thiên tai và bảo đảm an sinh xã hội là hai vấn đề có mối quan hệ mật thiết với nhau. Nếu thiên tai là tác nhân gây ra những thiệt hại lớn cho con người cả về tính mạng, sức khỏe, tài sản… thì an sinh xã hội là trách nhiệm mà Nhà nước, cộng đồng và mỗi cá nhân thực hiện nhằm bù đắp những thiệt hại xảy ra với con người do thiên tai gây ra. Hơn nữa, thiệt hại do thiên tai gây ra có thể làm ảnh hưởng đến nhiều vấn đề mang tầm quốc gia, khu vực và quốc tế. Đảm bảo an sinh xã hội trong trường hợp thiên tai là việc làm cần thiết góp phần quan trọng bảo đảm an ninh lương thực, trật tự an toàn xã hội, đến sự phát triển, hội nhập của các quốc gia.

Ở nước ta, hiện nay quan niệm về an sinh xã hội đã được mở rộng hơn, ví dụ: việc tạo dựng một thị trường lao động chủ động…được coi là một phần của bảo đảm an sinh xã hội. Tuy nhiên, pháp luật về an sinh xã hội hiện hành về cơ bản điều chỉnh ba nhóm quan hệ chủ yếu: nhóm các quan hệ bảo hiểm xã hội; nhóm các quan hệ cứu trợ xã hội; nhóm các quan hệ ưu đãi xã hội. Khi nói đến pháp luật về bảo đảm an sinh xã hội trong trường hợp thiên tai thì chúng ta nhắc ngay đến các quy định về cứu trợ xã hội (hay bảo trợ xã hội). Cứu trợ xã hội là sự giúp đỡ của nhà nước, xã hội và cộng đồng bằng những biện pháp và các hình thức khác nhau đối với các đối tượng vì nhiều lý do khác nhau dẫn đến không đủ khả năng tự lo liệu được cuộc sống tối thiểu của bản thân và gia đình (bị lâm vào hoàn cảnh rủi ro, bất hạnh, nghèo đói…) nhằm giúp họ tránh được mối đe dọa của cuộc sống thường nhật hoặc giúp họ vượt qua những khó khăn, ổn định cuộc sống và hòa nhập cộng đồng.

2. Pháp luật và thực trạng đảm bảo an sinh xã hội trong trường hợp xảy ra thiên tai ở nước ta

Những năm vừa qua nhà nước ta đã ban hành nhiều chính sách, pháp luật nhằm đảm bảo an sinh xã hội trong trường hợp xảy ra thiên tai. Bên cạnh việc ban hành các quy định pháp luật về phòng, chống, ngăn chặn thiên tai như: Pháp lệnh Phòng, chống lụt bão; Luật Đê điều; Luật Thủy sản; Luật Bảo vệ Môi trường… Nhà nước ta còn ban hành một loạt các quy định pháp luật về an sinh xã hội, trong đó có pháp luật về cứu trợ xã hội nhằm khắc phục các thiệt hại      có thể xảy ra với con người.

Pháp luật chia cứu trợ thành hai loại là: cứu trợ thường xuyên và cứu trợ đột xuất, với từng loại cứu trợ thì đối tượng và các trường hợp được hưởng cũng khác nhau. Việc thực hiện các chính sách về an sinh xã hội trong trường hợp xảy ra thiên tai chủ yếu tập trung vào các chính sách về cứu trợ đột xuất, bởi cứu trợ thường xuyên thì sự giúp đỡ của xã hội về vật chất và các điều kiện sống khác được thực hiện một cách thường xuyên cho các thành viên của mình khi gặp phải những rủi ro, bất hạnh, rơi vào tình cảnh hết sức khó khăn cuộc sống thường nhật luôn bị đe dọa (đương nhiên khi thiên tai gây hậu quả cho những người thuộc đối tượng cứu trợ thường xuyền thì họ cũng có thể được nhận cùng một lúc cả hai chế độ cứu trợ thường xuyên và đột xuất).

Còn đối tượng của cứu trợ xã hội đột xuất là những người có khả năng lao động (hoặc không có khả năng lao động), có thu nhập (hoặc không có thu nhập), nhưng vì những lý do thiên tai hoặc bất khả kháng mà gặp phải hoạn nạn, khó khăn tạm thời. Khi đó nếu nhận được sự giúp đỡ kịp thời họ có thể nhanh chóng vượt qua hụt hẫng, khó khăn để ổn định cuộc sống, nhanh chóng hòa nhập cộng đồng.

Về nguyên tắc thực hiện, cứu trợ đột xuất được ưu tiên cho những người gặp khó khăn nhất nhằm đảm bảo sự sống với các nhu cầu tối thiểu về ăn, mặc, ở, chữa bệnh và đi lại… trên tinh thần nhanh chóng, kịp thời, trực tiếp và đúng đối tượng. Với đặc thù như vậy, nên các văn bản pháp luật về cứu trợ đột xuất rất đa dạng và phong phú, các quy định được ban hành không chỉ của Chính phủ, các Bộ mà hầu hết các địa phương cũng có những quy định riêng tùy thuộc vào tình hình cụ thể ở địa phương mình.

Từ khi tiến hành sự nghiệp đổi mới, mở cửa đến nay, Nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản pháp luật về cứu trợ xã hội trong trường hợp thiên tai, có thể liệt kê, gồm: Nghị định số 67/2007/NĐ-CP ngày 13 tháng 4 năm 2007 của Chính phủ về chính sách trợ giúp các đối tượng bảo trợ xã hội; Nghị định số 13/2010/NĐ-CP ngày 27 tháng 02 năm 2010 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 67/2007/NĐ-CP của Chính phủ về chính sách trợ giúp các đối tượng bảo trợ xã hội; Thông tư liên tịch số 24/TTLT-BLĐTBXH-BTC hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định số 67/2007/NĐ-CP ngày 13 tháng 4 năm 2007 của Chính phủ về chính sách trợ giúp các đối tượng bảo trợ xã hội và Nghị định số 13/2010/NĐ-CP ngày 27 tháng 02 năm 2010 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 67/2007/NĐ-CP của Chính phủ về chính sách trợ giúp các đối tượng bảo trợ xã hội[1]. Đây là những văn bản chủ đạo hiện hành quy định cụ thể về chính sách bảo đảm an sinh xã hội trong trường hợp xảy ra thiện tai ở nước ta hiện nay. Do những đặc thù riêng của cứu trợ đột xuất, nên các văn bản pháp luật về vấn đề này rất đa dạng và phong phú, các quy định được ban hành không chỉ của Chính phủ, các Bộ mà hầu hết các địa phương cũng có những quy định riêng tùy thuộc vào tình hình thiên tai cụ thể ở địa phương mình. Ví dụ, về mức trợ cấp với các đối tượng được cứu trợ đột xuất theo quy định theo pháp luật hiện hành do Chủ tịch ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc TW quyết định tùy thuộc vào mức độ thiệt hại và khả năng huy động nguồn lực của địa phương. Đây là một quy định khá linh hoạt, Nhà nước chỉ quy định mức tối thiểu, còn các địa phương được tự quyết định mức độ trợ cấp miễn sao không thấp hơn mức tối thiểu Nhà nước quy định[2]. Nhìn chung các văn bản này đã quy định cụ thể nhiều vấn đề, như: các đối tượng được hưởng trợ cấp, mức hưởng trợ cấp cũng như thẩm quyền, trình tự, thủ tục thực hiện việc cứu trợ trong trường hợp xảy ra thiên tai.

Do nằm trong vành đai Thái Bình Dương, phía đông giáp biển Đông nên hàng năm nước ta chịu tác động của nhiều loại thiên tai, bão, lũ lụt, hạn hán, mưa, nước biển dâng… Mặc dù, công tác tổ chức cứu hộ, cứu trợ đã thực hiện tương đối tốt, hạn chế đến mức thấp nhất thiệt hại về người và tài sản của Nhà nước và nhân dân. Tuy nhiên, thiên tai cũng gây ảnh hưởng nặng nề cho tài sản, sức khỏe, tính mạng và làm xáo trộn cuộc sống thường nhật của nhân dân. Điều đó cho thấy quá trình bảo đảm an sinh xã hội trong trường hợp thiên tai vẫn còn những tồn tại, hạn chế nhất định:

  Thứ nhất, khi hậu quả thiên tai xảy ra việc thực hiện công tác cứu trợ còn chậm gây ảnh hưởng đến sức khoẻ, tính mạng và tài sản của nhân dân vùng bị thiên tai do không có biện pháp bảo vệ được kịp thời… Phương tiện cứu trợ như thuyền cứu hộ, phao cứu sinh hay thuốc, trang thiết bị y tế khám, chữa bệnh cho nhân dân… còn thiếu.

Thứ hai, việc thành lập nên các địa chỉ đóng góp tiền hàng cứu trợ của nhân dân trong và ngoài nước cả ở TW lẫn địa phương xét ở một góc độ nhất định sẽ giúp cho địa phương cơ động, nhanh chóng hơn trong việc cứu trợ thiên tai, song do thiếu tập trung và thống nhất trong việc tiếp nhận và triển khai hoạt động cứu trợ nên đã tạo sơ hở cho một số tổ chức, cá nhân lợi dụng hoạt động không đúng mục đích nhân đạo, từ thiện,… gây khó khăn trong việc điều hành, cứu trợ khi thiên tai gây ra thiệt hại.

          – Thứ ba, khi thiệt hại xảy ra cần tính toán những vật tư hàng hoá cần thiết để phục vụ, bảo đảm ổn định cuộc sống cho nhân dân vùng thiên tai, song ít địa phương thực hiện được điều này. Không hiếm trường hợp một số ngành, địa phương dùng tiền vận động để mua những thứ hàng hoá mà nhu cầu của đồng bào vùng lũ lụt chưa thực sự cần thiết dẫn đến làm giảm ýnghĩa của hoạt động cứu trợ cũng như niềm tin của nhân dân.

          – Thứ tư, thực tế cho thấy có những địa phương sử dụng tiền, hàng cứu trợ chưa đúng đối tượng, đúng địa bàn. Có những đối tượng cùng một hoàn cảnh nhưng lại được nhận hỗ trợ người thì quá nhiều, người thì quá ít dẫn tới không công bằng thậm chí có những đối tượng đúng ra được hưởng thì lại bị bỏ sót, lãng quên không nhận được tiền, hàng cứu trợ.

– Thứ năm, việc tổ chức, giám sát hoạt động cứu trợ xã hội trong trường hợp có thiệt hại do thiên tai gây ra vẫn còn thiếu chặt chẽ, hoạt động cứu trợ vẫn bị lợi dụng như một mảnh đất béo bở để các phần tử cơ hội tham ô, chiếm đoạt… thể hiện qua việc vẫn còn nhiều hiện tượng xà xẻo, tham ô tiền cứu trợ, trong khi người dân bị thiệt hại do thiên tai lại không hoặc chậm nhận được hàng cứu trợ. Điển hình như vụ xà xẻo hàng tỷ đồng [3]tiền cứu trợ thiên tai do lũ quét của nhân dân Hà Tĩnh. Một vấn đề nữa làm cho hiệu quả của việc đảm bảo an sinh xã hội vẫn phụ thuộc quá nhiều vào chế độ cứu trợ đột xuất bởi nước ta chưa có loại hình bảo hiểm thiên tai. Điều đó ảnh hưởng rất nhiều đến việc bảo vệ tài sản cho người dân đặc biệt là những tài sản lớn trong trường hợp thiên tai gây ra thiệt hai.

Các giải pháp phòng chống thiên tai như: dự báo, các biện pháp hỗ trợ, ứng cứu ngay tại chỗ đã được thực hiện xong chưa đồng bộ vẫn hình thức và chưa đáp ứng được yêu cầu phòng chống thiên tai lớn hoặc dài ngày, nhiều dự báo về thiên tai không hoặc ít chính xác đồng thời khoảng cách giữa các lần thông tin dự báo cách xa nhau nên dẫn tới người dân thường không tiếp nhận được kịp thời và đầy đủ thông tin về thiên tai. Hơn nữa, một bộ phận không nhỏ người dân do không tin vào kết quả dự báo nên khi thiên tai xảy ra lớn không phòng chống được kịp thời nên gây thiệt hại lớn cả người và của.

          Với những tồn tại và bất cập như trên của pháp luật về an sinh xã hội trong trường hợp thiên tai và pháp luật liên quan ở nước ta đặt ra nhu cầu phải đẩy mạnh hoàn thiện đồng bộ các vấn đề về bảo đảm an sinh xã hội, đặc biệt là các quy định của pháp luật.

3. Giải pháp đảm bảo và hoàn thiện pháp luật an sinh xã hội trong trường hợp xảy ra thiên tai

3.1. Các giải pháp chung

Về chính trị, tăng cường vai trò của cấp ủy Đảng, đặc biệt là cấp ủy ở địa phương nơi có thiên tai xảy ra. Sự quan tâm của cấp ủy được thể hiện thông qua các Nghị quyết của cấp ủy về việc tăng cường phòng chống, ngặn chặn, khắc phục hậu quả của thiên tai điều đó sẽ tạo nên quyết tâm chính trị của địa phương trong việc bảo đảm an sinh xã hội khi có thiên tai xảy ra.

Về kinh tế, đẩy mạnh phát triển kinh tế một cách bền vững[4] sẽ tạo những tiền đề quan trọng về vật chất để góp phần bảo đảm an sinh xã hội, đặc biệt khi có thiệt hại về vật chất xảy ra. Nên một trong những giải pháp lâu dài ổn định vẫn phải Nhà nước được nghiên cứu thực hiện hiệu quả là coi trọng phát triển kinh tế một cách bền vững.

Về tuyên truyền, đẩy mạnh nâng cao nhận thức từ cấp ủy cho đến chính quyền các cấp (đặc biệt là cấp xã), các tổ chức chính trị – xã hội và người dân về tinh thần tương thân, tương ais, một miếng khi đói bằng một gói khi no, giúp đỡ những người lâm vào hoàn cảnh khó khăn do thiên tai gây ra. Về lâu dài, chúng ta nên chọn một ngày trong năm và tháng có ngày đó là tháng hành động giúp đỡ, cứu trợ những người yếu thế trong xã hội, đặc biệt là cứu trợ về thiên tai. Đây sẽ là dịp tốt để  tập hợp sức mạnh của nhân dân cùng tham gia khắc phục những khó khă do thiên tai gây ra.

Bên cạnh đó cần đẩy mạnh xã hội hoá và đa dạng hoá hoạt động cứu trợ xã hội. Thực tiễn cho thấy thiệt hại xảy ra do thiên tai là rất lớn, không chỉ về tài sản, sức khoẻ, thậm chí cướp đi sinh mạng của rất nhiều người. Do vậy cứu trợ xã hội trong trường hợp này chỉ Nhà nước sẽ không thể thực hiện được mà cần phải có sự hỗ trợ, giúp đỡ của nhiều người thậm chí của cả cộng đồng trong và ngoài nước. Mặt khác, thực tiễn thực hiện cứu trợ thiên tai trong những năm vừa qua cho thấy sự tham gia thành lập những Quỹ Cộng đồng ở các địa phương nhằm cứu trợ cho nhân dân trong trường hợp thiên tai xảy ra (trước khi có sự cứu trợ của Nhà nước) hay sự tham gia trợ giúp vùng thiên tai của các tổ chức phi Chính phủ thường rất hiệu quả và hữu ích đối với cư dân vùng lũ; thực hiện xã hội hoá hoạt động cứu trợ thiên tai bên cạnh việc tạo ra nguồn kinh phí đa dạng cho hoạt động khắc phục hậu quả của thiên tai, nó còn giúp tiếp cận hỗ trợ, giúp đỡ đúng đối tượng bị thiệt hại đồng thời tránh được các hiện tượng tiêu cực qua các khâu trung gian… Do đó đây cũng là một phương hướng quan trọng cần được nghiên cứu để đưa vào thực tiễn thực hiện.

3.2. Giải pháp cụ thể

Thứ nhất, về xây pháp luật đẩy rà soát các văn bản pháp luật hiện hành căn cứ vào thực tiễn tình hình thiệt hại do thiên tai gây ra; tình hình tổ chức cứu trợ… để xây dựng, hoàn thiện các quy phạm pháp luật về an sinh xã hội nói chung cũng như các quy định pháp luật về cứu trợ xã hội trong trường hợp có thiên tai nói riêng. Đồng thời cần nghiên cứu xây dựng đề án về đảm bảo an sinh xã hội trong đối với những vùng thường xuyên xảy ra thiên tai để hoạt động này được diễn ra có hiệu lực, hiệu quả hơn. Cần nghiên cứu xây dựng Luật Về cứu trợ xã hội quy định rõ về thẩm quyền, trình tự, thủ tục tổ chức và thực hiện hoạt động cứu trợ của chính quyền các cấp, của các cơ quan liên quan, về Quỹ cứu trợ xã hội,… để hoạt động cứu trợ nói chung, cứu trợ trong trường hợp thiên tai có đầy đủ cơ sở pháp lý và hiệu quả hơn, lâu dài cần tiến tới xây dựng Luật về An sinh xã hội.

  – Thứ hai, xác định rõ đối tượng và điều kiện, mức được hưởng cứu trợ trong các văn bản bản quy phạm pháp luật để tạo nên sự thống nhất trong quá trình thực hiện, tránh xác định không chính xác sẽ dẫn đến sự mất công bằng, gây bất bình trong nhân dân từ những người được cứu trợ cho đến những cá nhân, tổ chức tham gia ủng hộ vào hoạt động cứu trợ. Do vậy để đảm bảo những ủng hộ về vật chất cũng như tinh thần đến với nhân dân bên cạnh nhiều giải pháp thì việc xác định và nắm được một cách chính xác đối tượng bị thiệt hại của chính quyền địa phương ở cơ sở là một trong những giải pháp quan trọng[5].

Thứ ba, hoàn thiện pháp luật về bảo hiểm y tế toàn dân và bảo hiểm thiên tai. Trên cơ sở thực tiễn việc thực hiện cứu trợ xã hội trong trường hợp thiên tai xảy ra cho thấy  chủ yếu nhằm mục đích hỗ trợ phần nào cho người dân vùng  thiên tai nhanh chóng khắc phục được khó khăn ban đầu, tuy nhiên ít có trường hợp người bị thiệt hại do thiên tai có thể được hưởng mức cứu trợ ngang bằng hoặc hơn thiệt hại xảy ra trên thực tế. Do vậy, thiết nghĩ bên cạnh những giải pháp về cứu trợ, cần nhanh chóng thực hiện bảo hiểm y tế toàn dân để giảm thiểu những gánh nặng cho hệ thống an sinh xã hội nước ta[6].

Thứ tư, tăng cường các giải pháp phòng ngừa thiên tai như: đẩy mạnh nghiên cứu xây dựng hoàn chỉnh hệ thống đê biển, đê sông nhằm ngăn chặn sự xâm thực cũng như xâm mặn vào đất liền; trồng cây chắn sóng, chắn cát ven biển; đẩy mạnh phát triển kinh tế nâng cao đời sống cho nhân dân theo hướng bền vững, Nhà nước phối hợp với các tổ chức xã hội, tổ chức phi chính phủ xây dựng các công trình dân sinh bền vững, giúp giảm thiểu được tác hại của thiên tai; đầu tư nhân lực cũng như khoa học cho công tác dự báo thiên tai, bởi; chuẩn bị các phương án đối phó với những vùng có thể xảy ra thiên tai, sơ tán người dần kịp thời nếu thấy cần thiết; tăng cường mối quan hệ gắn bó trong nhân dân ngay tại vùng thiên tai, nhằm tạo nên sự chủ động giúp đỡ lẫn nhau phòng ngừa, giảm nhẹ hậu quả của thiên tai.

Thứ năm, về công tác dự báo, chúng tôi cho rằng rất quan trọng, bởi nếu dự báo không đúng; sẽ làm giảm sự tin tưởng của nhân dân vào công tác dự báo, dẫn tới sự thờ, coi nhẹ hoạt động phòng ngừa thiên tai; dự báo sai có thể gây thiệt hại lớn cho nhân dân về người và của do không kịp trở tay khi có thiên tai, vấn đề nữa là khi dự báo trên một phạm vi quá rộng tức là vùng bị thiên tai có thể bị trong phạm vi một, hai tỉnh nhưng lại dự báo trên phạm vi toàn quốc thì có thể xảy ra những thiệt hại lớn về kinh tế, cũng như đời sống với cư dân vùng thực tế không gánh chịu hậu quả của thiên tai. Do vậy muốn dự báo thật sự chính xác ở mức cao nhất, bên cạnh các vấn đề về nhân lực, kỹ thuật,… thì cần sớm nghiên cứu xây dựng hoàn thiện pháp luật về công tác dự báo.


[1] Thông tư liên tịch này cũng thay thế các Thông tư số 09/2007/TT-BLĐTHXH ngày 13 tháng 7 năm 2007 hướng dẫn một số điều của Nghị định số 67/2007/NĐ-CP ngày 13 tháng 4 năm 2007 của Chính phủ về chính sách trợ giúp các đối tượng bảo trợ xã hội và Thông tư số 26/2008/TT-BLĐTBXH ngày 10 tháng 11 năm 2008 của Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội sửa đổi, bổ sung một số điểm của Thông tư số 09/2007/TT-BLĐTBXH ngày 13 tháng 7 năm 2007 hướng dẫn một số điều của Nghị định số 67/2007/NĐ-CP ngày 13 tháng 4 năm 2007 của Chính phủ về chính sách trợ giúp các đối tượng bảo trợ xã hội.

[2] Xem thêm: Khoản 2, Điều 2 Thông tư liên tịch số 24/TTLT-BLĐTBXH-BTC hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định số 67/2007/NĐ-CP ngày 13 tháng 4 năm 2007 của Chính phủ về chính sách trợ giúp các đối tượng bảo trợ xã hội và Nghị định số 13/2010/NĐ-CP ngày 27 tháng 02 năm 2010 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 67/2007/NĐ-CP của Chính phủ về chính sách trợ giúp các đối tượng bảo trợ xã hội.

[4] Đẩy mạnh phát triển kinh tế gắn với bảo đảm an sinh xã hội.

[5] Trong vấn đề này chúng tôi cho rằng cần xác định đối tượng cần được cứu trợ đột xuất dựa trên những thiệt hại thực tế về tài sản và tính mạng do thiên tai gây ra và khả năng có thể  phục hồi của các đối tượng đó, đồng thời phải nâng cao năng lực chuyên môn và tinh thần, trách nhiệm của cán bộ cấp cơ sở.

[6] Xem thờm: _ HYPERLINK “http://www.luatgiapham.com/phap-luat/hanh-chinh/2711-luat-bao-hiem-y-te-so-252008qh-.html” _Luật Bảo hiểm Y tế số 25/2008/QH ngày 14/11/2008

Post a comment or leave a trackback: Trackback URL.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: