RÀ SOÁT PHÁP LUẬT BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG

RÀ SOÁT VĂN BẢN PHÁP LUẬT – LUẬT BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG 2005

                                         TS. Nguyễn Văn Phương,  Đại học Luật Hà nội

                                         Dương Quang Long, Công ty Luật LEDCO

                PGS. TS. Phạm Văn Lợi, Viện Khoa học Quản lý Môi trường

                                                                                                 

Danh mục văn bản pháp luật rà soát:

  1. Luật BVMT
  2. Luật thương mại (2005)
  3. Luật Hải quan (2001) được sửa đổi bổ xung năm 2006
  4. Luật Tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật 2006
  5. Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật
  6. Luật Hoá chất
  7. Luật dầu khí
  8. Luật doanh nghiệp 2005
  9. Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính
  10. Nghị định 154/2005/NĐ-CP ngày 15/12/2005 quy định chi tiết một số điều của Luật Hải quan về thủ tục hải quan, kiểm tra, giám sát hải quan
  11.  Nghị định 149/2005/NĐ- CP ngày 08/12/2005 quy định chi tiết thi hành Luật Thuế xuất khẩu, Thuế nhập khẩu
  12. Nghị định 21/2006/NĐ-CP ngày 28/2/2008 về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 80/2006/NĐ-CP ngày 9/8/2006 về việc quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật bảo vệ môi trường
  13. Nghị định 12/2006/NĐ-CP ngày 23/1/2006 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật Thương mại về hoạt động mua bán hàng hoá quốc tế và các hoạt động đại lý mua, bán, gia công và quá cảnh hàng hoá với nước ngoài
  14. Nghị định 29/2011/NĐ-CP ngày 18/4/2011 quy định về đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường, cam kết bảo vệ môi trường
  15. Nghị định 59/2007/NĐ-CP ngày 9/4/2007 về quản lý chất thải rắn
  16. Nghị định 108/2008/NĐ-CP ngày 7/10/2008 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật hoá chất
  17. Nghị định 63/2008/NĐ-CP ngày 13/5/2008 về phí bảo vệ môi trường đối với hoạt động khai thác khoáng sản
  18. Nghị định số 67/2003/NĐ-CP ngày 13/6/2003 về phí bảo vệ môi trường đối với nước thải
  19. Nghị định số 04/2007/NĐ-CP ngày 08/01/2007 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 67/2003/NĐ-CP; Nghị định số 26/2010/NĐ-CP ngày 22/3/2010 sửa đổi, bổ sung Khoản 2 Điều 8 Nghị định số 67/2003/NĐ-CP
  20. Nghị định 117/2009/NĐ-CP ngày 31/12/2009 về xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực bảo vệ môi trường
  21. Thông tư 43/2010/TT-BTNMT,  ngày 29 tháng 12 năm 2010 Quy định Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường
  22. Quyết định 12/2006/QĐ – BTNMT ngày 8/9/2006 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường về việc ban hành Danh mục các phế liệu được phép nhập khẩu làm nguyên liệu
  23. Thông tư  02/2007/TTLT – BCT – BTNMT ngày 30/8/2007 hướng dẫn thực hiện Điều 43 Luật BVMT về tiêu chuẩn, điều kiện kinh doanh nhập khẩu phế liệu
  24. Quyết định 19/2007/QĐ-BTNMT ngày 26  tháng 11 năm 2007  Về việc ban hành Quy định về điều kiện và hoạt động dịch vụ thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường
  25.  Thông tư  05/2008 ngày 8/12/2008 của Bộ tài nguyên và môi trường  Hướng dẫn về đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường và cam kết bảo vệ môi trường
  26. Thông tư  06/2007 ngày 27/8/2007 của Bộ kế hoạch và đầu tư  hướng dẫn việc thực hiện Nghị định số 140/2006/NĐ-CP của Chính phủ quy định việc bảo vệ môi trường trong các khâu lập, thẩm định, phê duyệt và tổ chức thực hiện các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch  và dự án phát triển
  27. Thông tư liên tịch số 107/2010/TTLT-BTC ngày 26/07/2010 sửa đổi bổ sung Thông tư liên tịch số 125/2003/TTLT-BTC-BTNMT ngày 18/12/2003 và Thông tư liên tịch số 106/2007/TTLT-BTC-BTNMT ngày 6/9/2007 hướng dẫn về phí bảo vệ môi trường đối với nước thải

 

TIÊU CHÍ RÀ SOÁT

 

STT

Tiêu chí

Các nội dung cụ thể

1 Tính minh bạch – Rõ ràng về hình thức:+ Ngôn ngữ sử dụng có chính xác, dễ hiểu không?+ Diễn đạt có rõ ràng không? Có thể bị hiểu theo nhiều cách khác nhau không?- Rõ ràng trong các quy định áp dụng cho doanh nghiệp:+ Rõ ràng về quyền và nghĩa vụ không?

+ Rõ ràng về các trình tự, thủ tục, chi phí (thời gian, phí, lệ phí) không?

– Có nguy cơ cho nhũng nhiễu, tham nhũng không?

2 Tính thống nhất – Có tuân thủ với các văn bản pháp luật có giá trị pháp lý cao hơn không?- Có mâu thuẫn giữa các quy định trong bản thân văn bản đó không? Có mâu thuẫn với các văn bản pháp luật khác không?- Có tương thích với các cam kết quốc tế mà ViệtNamtham gia không?
3 Tính hợp lý – Có đơn giản hóa được các điều kiện kinh doanh, thủ tục hành chính, giảm chi phí cho doanh nghiệp không?-  Có đưa ra những quy định bất hợp lý, cản trở quyền tự do kinh doanh của doanh nghiệp không?-  Có phù hợp với sự phát triển bền vững (về trách nhiệm của doanh nghiệp, về lợi ích của người tiêu dùng, về nguyên tắc cung-cầu và cạnh tranh bình đẳng…) không?-  Có phân biệt đối xử không?
4 Tính khả thi – Có khả năng doanh nghiệp thực hiện được trên thực tế không?- Có khả năng cơ quan Nhà nước thực hiện trên thực tế được không? (điều kiện về tổ chức, nhân lực, vật lực).

 


A- RÀ SOÁT, ĐÁNH GIÁ VÀ KHUYẾN NGHỊ CỤ THỂ VÀO TỪNG VẤN ĐỀ, THEO CÁC TIÊU CHÍ THỐNG NHẤT

 

1. Vấn đề 1: Quy chuẩn kỹ thuật môi trường

 

STT Vấn đề Quy định liên quan Tiêu chí vi phạm Phân tích vấn đề

1

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Quy chuẩn kỹ thuật môi trường    

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Điều 3 khoản 5, Điều 10, 42, 43  Luật BVMTĐiều 1 Nghị định 21/2006/NĐ-CP ngày 28/2/2008 về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 80/2006/NĐ-CP ngày 9/8/2006 về việc quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật bảo vệ môi trường và Điều 28 khoản 3 Luật Tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật 2006; Thông tư 43/2010/TT-BTNMT,  ngày 29 tháng 12 năm 2010 Quy định Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường   

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Tính thống nhất Sau khi chuyển đổi “Tiêu chuẩn môi trường” thành Quy chuẩn kỹ thuật môi trường theo Luật Tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật  thì Quy chuẩn kỹ thuật môi trường gồm hai loạiquy chuẩn kỹ thuật về chất lượng môi trường xung quanh và quy chuẩn kỹ thuật về chất thảiĐiều 42 khoản 2 Luật bảo vệ môi trường 2005 quy định: máy móc, thiết bị, phương tiện, nguyên liệu, nhiên liệu, hoá chất, hàng hoá nhập khẩu phải đáp ứng tiêu chuẩn môi trường. Như vậy, đáp ứng tiêu chuẩn môi trường là điều kiện để hàng hoá được phép nhập khẩu vào ViệtNam.Quy định này dẫn đến những cách hiểu khác nhau về loại quy chuẩn mà máy móc, thiết bị, phương tiện, nguyên liệu, nhiên liệu, hoá chất, hàng hoá nhập khẩu phải đáp ứng.– Thứ nhất,có thể hiểu đáp ứng “tiêu chuẩn môi trường” là việc tuân thủ “quy chuẩn kỹ thuật môi trường”. Theo quy định tại Điều 10 khoản 1 Luật bảo vệ môi trường 2005, Điều 1 Nghị định 21/2006/NĐ-CP ngày 28/2/2008 về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 80/2006/NĐ-CP ngày 9/8/2006 về việc quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật bảo vệ môi trường và Điều 28 khoản 3 Luật Tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật 2006 thì “Tiêu chuẩn môi trường” theo Luật bảo vệ môi trường được chuyển đổi thành “Quy chuẩn kỹ thuật môi trường”, gồm hai loại quy chuẩn kỹ thuật về chất lượng môi trường xung quanh và quy chuẩn kỹ thuật về chất thải. Theo cách hiểu này, ‘tiêu chuẩn môi trường” mà máy móc, thiết bị, phương tiện, nguyên liệu, nhiên liệu, hoá chất, hàng hoá nhập khẩu phải đáp ứng là quy chuẩn kỹ thuật về chất lượng môi trường xung quanh hoặc quy chuẩn kỹ thuật về chất thải. Với nội dung của quy chuẩn kỹ thuật về chất lượng môi trường xung quanh và quy chuẩn kỹ thuật về chất thải  không thể đánh giá được các loại máy móc, thiết bị, phương tiện, nguyên liệu, nhiên liệu, hoá chất, hàng hoá nhập khẩu có đáp ứng được các quy chuẩn này hay không.- Thứ hai, “tiêu chuẩn” mà hàng hoá nhập khẩu phải tuân thủ là các quy chuẩn chung theo Điều 28 khoản 1 Luật Tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật 2006 bao gồm: quy chuẩn an toàn liên quan đến an toàn sinh học, an toàn vệ sinh thực phẩm, an toàn dược phẩm, mỹ phẩm đối với sức khoẻ con người; đến vệ sinh, an toàn thức ăn chăn nuôi, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, thuốc thú y, chế phẩm sinh học và hoá chất dùng cho động vật, thực vật; thuật quá trình quy định yêu cầu về vệ sinh, an toàn trong quá trình sản xuất, khai thác, chế biến, bảo quản, vận hành, vận chuyển, sử dụng, bảo trì sản phẩm, hàng hóa. Nếu hiểu theo cách này, có thể đánh giá được tính hợp quy của hàng hoá nhập khẩu so với quy chuẩn này. Tuy nhiên, những quy chuẩn này không thuộc loại “tiêu chuẩn môi trường” sau khi dược chuyển đổi thành quy chuẩn kỹ thuật môi trường.

Bất cứ hiểu theo cách nào thì quy định này cũng tạo ra mâu thuẫn trong hệ thống pháp luật và khó khăn trong quá trình áp dụng.

Thiếu quy định về cơ sở pháp lý, thiếu quy định để thực thi 1. Điều 43 Luật bảo vệ môi trường không quy định về yêu cầu của phế liệu nhập khẩu liên quan đến việc tuân thủ quy chuẩn kỹ thuật môi trường.  Những loại quy chuẩn kỹ thuật môi trường được liệt kê tại Điều 10 khoản 2 và khoản 3 Luật BVMT cũng không hề đề cập tới quy chuẩn kỹ thuật môi trường đối với “phế liệu”. Như vậy, chúng ta không có cơ sở pháp lý để ban hành quy chuẩn kỹ thuật môi trường đối với phế liệu nói chung và phế liệu nhập khẩu nói riêng.2. Mặc dù vậy, Bộ TNMT đã ban hành Thông tư 43/2010/TT-BTNMT,  ngày 29 tháng 12 năm 2010 Quy định về Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường đối với 03 loại phế liệu được phép nhập khẩu: Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường đối với phế liệu sắt, thép nhập khẩu, mã số QCVN 31:2010/BTNMT; Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường đối với phế liệu nhựa nhập khẩu, mã số QCVN 32:2010/BTNMT; Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường đối với phế liệu giấy nhập khẩu, mã số QCVN 33:2010/BTNMT. Cho tới thời điểm này, trong 20 loại phế liệu được phép nhập khẩu theo QĐ 12/2006/QĐ – BTNMT ngày 8/9/2006 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường về việc ban hành Danh mục các phế liệu được phép nhập khẩu làm nguyên liệu, Bộ TNMT mới chỉ ban hành 03 quy chuẩn kỹ thuật môi trường đối với phế liệu được phép nhập khẩu nêu trênQuy chuẩn kỹ thuật môi trường đối với phế liệu nhập khẩu giúp cho tổ chức, cá nhân có nhu cầu nhập khẩu biết được phạm vi, giới hạn tối đa cho phép các tạp chất được phép lẫn trong phế liệu nhập khẩu và các vấn đề có liên quan đến chất lượng phế liệu nhập khẩu. Quy chuẩn kỹ thuật môi trường đối với phế liệu nhập khẩu cũng là căn cứ quan trọng cho quá trình kiểm soát của cơ quan quản lý nhà nướcThực trạng thiếu vắng những Quy chuẩn kỹ thuật môi trường, là căn cứ pháp lý để phân biệt phế liệu được phép nhập khẩu và chất thải không được phép nhập khẩu, là nguyên nhân gây ra những khó khăn cho cả chủ thể nhập khẩu phế liệu và cho cả cơ quan quản lý kiểm soát hoạt động nhập khẩu phế liệu trong quá trình thực thi pháp luậtVấn đề tương tự cũng phát sinh với việc thiếu vắng Quy chuẩn kỹ thuật môi trường đối với hàng hoá nhập khẩu
Tính khả thi Quy chuẩn kỹ thuật môi trường về chất thải, đặc biệt là nước thải và khí thải, áp dụng cho cả các doanh nghiệp và các cơ sở sản xuất quy mô nhỏ và quy mô hộ gia đình. Quy định như vậy chỉ phù hợp với các doanh nghiệp mà không phù hợp với thực tế sản xuất của cơ sở sản xuất quy mô nhỏ và quy mô hộ gia đình trong các làng nghề hoặc nằm xen kẽ trong khu dân cư. Trong thời gian qua, các quy chuẩn này trên không thể áp dụng được trên thực tế đối với khu vực làng nghề. Nếu áp dụng một cách triệt để sẽ có thể gây ra những tác động về kinh tế – xã hội với những hậu quả không thể lường trước.
Khuyến nghị 1: sửa đổi Điều 10 Luật bảo vệ môi trường theo hướng liệt kê thêm các loại quy chuẩn kỹ thuật môi trường đối với hàng hoá nhập khẩu, quy chuẩn kỹ thuật môi trường đối với phế liệu  
Khuyến nghị 2. Sủa đổi việc sử dụng thuật ngữ  “Tiêu chuẩn môi trường” trong tất cả các Điều khoản có sử dụng thuật ngữ này của Luật bảo vệ môi trường thành thuật ngữ  Quy chuẩn kỹ thuật môi trường và phải chỉ rõ trong đó phải tuân thủ quy chuẩn kỹ thuật nào trong các quy chuẩn kỹ thuật môi trường
Khuyến nghị 3. Sưả đổi điều 43 Luật BVMT theo hướng quy định thêm điều kiện của “phế liệu nhập khẩu phải bảo đảm quy chuẩn kỹ thuật môi trường đối với phế liệu”
Khuyến nghị 4.  Nhanh chóng xây dựng và ban hành quy chuẩn kỹ thuật môi trường đối với hàng hoá nhập khẩu và những quy chuẩn kỹ thuật môi trường đối với phế liệu nhập khẩu còn thiếu
 Khuyến nghị 5. xây dựng những quy chuẩn kỹ thuật môi trường về chất thải áp dụng riêng cho nhóm sản xuất kinh doanh quy mô nhỏ và quy mô hộ gia đình

 

Vấn đề 2: Bảo vệ môi trường trong hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu

 

STT  Vấn đề Quy định liên quan Tiêu chí vi phạm Phân tích vấn đề

2

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Chưa có khái niệm xuất khẩu,  nhập khẩu theo pháp luật môi trườngdẫn tới mâu thuẫn, không bảo đảm tính hợp lý trong các quy định về bảo vệ môi trường trong hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu   

 

 

 

 

Điều 7 khoản 9 Luật BVMT,Điều 28 khoản 2 Luật thương mại (2005) Điều 4 khoản 1 Luật Hải quan (2001) được sửa đổi bổ xung năm 2006, Điều 21 khoản 2 Nghị định 154/2005/NĐ-CP ngày 15/12/2005 quy định chi tiết một số điều của Luật Hải quan về thủ tục hải quan, kiểm tra, giám sát hải quan, Điều 2 khoản 2 Nghị định 149/2005/NĐ- CP ngày 08/12/2005 quy định chi tiết thi hành Luật Thuế xuất khẩu, Thuế nhập khẩu Thiếu quy định Luật bảo vệ môi trường không đưa ra khái niệm xuất khẩu, nhập khẩu. Do đó, phải áp dụng khái niệm xuất khẩu, nhập khẩu trong các lĩnh vực pháp luật khác.Điều 28 khoản 2 Luật thương mại (2005) xác định: “Nhập khẩu hàng hoá là việc hàng hoá được đưa vào lãnh thổ ViệtNamtừ nước ngoài hoặc từ khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ ViệtNamđược coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật”. Các quy định của Luật Hải quan, Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu quy đinh “khu vực hải quan riêng bao gồm khu chế xuất, doanh nghiệp chế xuất, kho bảo thuế, kho ngoại quan, khu kinh tế thương mại đặc biệt, khu thương mại – công nghiệp và khu vực kinh tế khác được thành lập theo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ, có quan hệ mua bán trao đổi hàng hoá giữa khu này với bên ngoài là quan hệ xuất khẩu, nhập khẩu”Khi các doanh nghiệp trong khu vực này không có nhu cầu sử dụng phế liệu hoặc các doanh nghiệp trong các khu vực này phát sinh chất thải mà không có hệ thống xử lý chất thải thì chất thải và phế liệu có thể được đưa ra ngoài khu vực này để tái chế, tái sử dụng và xử lý. Dưới giác độ của luật thương mại, hoạt động này là hoạt động nhập khẩu chất thải, phế liệu vào Việt Nam. Hoạt động nhập khẩu này có đặc thù là chất thải, phế liệu được sản sinh ra trên lãnh thổ Việt Nam nhưng trong một khu vực có quy chế riêng về kinh tế. Trong trường hợp không có quy định riêng, hành vi vận chuyển chất thải không có trong danh mục phế liệu được phép nhập khẩu từ các khu vực kinh tế đặc biệt ra ngoài khu vực này là hành vi vi phạm pháp luật. Điều 7 khoản 9 Luật BVMT cấm nhập khẩu chất thải dưới mọi hình thứcNhưng nếu không vận chuyển ra ngoài khu vực này để tái chế hoặc xử lý thì các chất thải, các phế liệu này sẽ gây ảnh hưởng xấu tới môi trường Việt Nam, không bảo đảm phát triển bền vững
Khuyến nghị 1: Luật bảo vệ môi trường cần quy định khái niệm xuất khẩu, nhập khẩu theo cách hiểu của pháp luật môi trường theo hướng: hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu chỉ bao hàm hoạt động đưa hàng hoá vào lãnh thổ ViệtNam từ nước ngoài hoặc đưa hàng hoá ra khỏi lãnh thổ ViệtNam.
Khuyến nghị 2. Cần xây dựng những quy định riêng đối với hoạt động nhập khẩu chất thải và phế liệu từ các khu vực có quy chế kinh tế đặc biệt nhằm mục đích nâng cao hiệu quả của công tác bảo vệ môi trường và bảo đảm tính phù hợp với đặc thù của hoạt động động này. Nên quy định theo hướng áp dụng các quy định vận chuyển chất thải và phế liệu sản sinh ở trong nước đối với các hoạt động đưa chất thải và phế liệu từ các khu vực có quy chế đặc biệt về kinh tế ra ngoài khu vực này.

3

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Nhập khẩu phế liệu: Loại phế liệu được phép nhập khẩu, điều kiện chủ thể được phép nhập khẩu phế liệu Điều 43 Luật BVMT, Quyết định 12/2006/QĐ – BTNMT ngày 8/9/2006 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường về việc ban hành Danh mục các phế liệu được phép nhập khẩu làm nguyên liệu, Thông tư  02/2007/TTLT – BCT – BTNMT ngày 30/8/2007 hướng dẫn thực hiện Điều 43 Luật BVMT về tiêu chuẩn, điều kiện kinh doanh nhập khẩu phế liệu, Nghị định 12/2006/NĐ-CP ngày 23/1/2006 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật Thương mại về hoạt động mua bán hàng hoá quốc tế và các hoạt động đại lý mua, bán, gia công và quá cảnh hàng hoá với nước ngoài Tính minh bạch Điều 43 khoản 1 điểm a Luật BVMT quy định phế liệu nhập khẩu phải đã được phân loại, làm sạch… Tiêu chí đã được làm sạch là tiêu chí định tính và do đó không rõ ràng trong quy định. Đây là nguy cơ xảy xung đột giữa cơ quan quản lý nhà nước và người nhập khẩu; là nguy cơ tạo ra tham nhũng, nhũng nhiều 
Tính thống nhất Trong khi Điều 43 khoản 1 mục a Luật BVMT (2005) đã xác định điều kiện phế liệu được phép nhập khẩu là đã được phân loại, làm sạch thì tại Điều 43 khoản 1 mục b lại cho phép phế liệu có chứa những tạp chất không nguy hại. Điều 43 khoản 1 mục b quy định: “không chứa chất thải, các tạp chất nguy hại, trừ tạp chất không nguy hại bị rời ra trong quá trình bốc xếp, vận chuyển”. Như vậy, có thể hiểu rằng, trước khi “bị rời ra trong quá trình bốc xếp, vận chuyển” thì các tạp chất này lẫn trong phế liệu và như vậy các phế liệu nhập khẩu được phép chứa một số những tạp chất không nguy hại. Khẳng định này còn được củng cố bởi quy định tại Điều 43 khoản 2 mục b về điều kiện của tổ chức, cá nhân nhập khẩu phế liệu là: “có đủ năng lực xử lý các tạp chất đi kèm với phế liệu nhập khẩu”. Nếu phế liệu đáp ứng đầy đủ yêu cầu là được làm sạch thì việc pháp luật quy định bắt buộc đối với tổ chức, cá nhân nhập khẩu phế liệu phải có năng lực xử lý tạp chất là không cần thiết. Và nếu điều này là cần thiết nhằm bảo vệ môi trường chung thì rõ ràng pháp luật đã cho phép phế liệu chứa những tạp chất không nguy hại, ít nhất được hiểu là chứa một tỉ lệ nhất định những tạp chất này. Mặc dù trong quy định về điều kiện đối với phế liệu nhập khẩu không khẳng định rõ sự cho phép nhập khẩu những phế liệu có lẫn những tạp chất không nguy hại nhưng với những phân tích ở trên chúng ta thấy rõ sự cho phép đó. Như vậy, các quy định nêu trên có tính chất loại trừ lẫn nhau. Theo bất cứ cách hiểu nào thì cũng tạo ra sự mâu thuẫn giữa các quy định này và sẽ là nguyên nhân gây ra những khó khăn trong qua trình áp dụng pháp luật.Tại Phụ lục I Nghị định 12/2006/NĐ-CP quy định cấm nhập khẩu hàng tiêu dùng đã qua sử dụng gồm thuỷ tinh, kim loại, nhựa. Trong khi đó, Quyết định 12/2006/QĐ – BTNMT xác định các loại phế liệu gồm kim loại, thuỷ tinh, nhựa được phép nhập khẩu được phát sinh từ các nguồn khác nhau, trong đó có thể phát sinh từ các loại sản phẩm “đã qua sử dụng”. Căn cứ để cho phép nhập khẩu hoặc không cho phép nhập khẩu phế liệu phụ thuộc vào khả năng gây ảnh hưởng tới môi trường chứ không căn cứ vào nguồn phát sinh là hoạt động sản xuất hay hoạt động tiêu dùng.
Tính hợp lý, tính khả thi Tại mục 18 Danh mục các phế liệu được phép nhập khẩu làm nguyên liệu ban hành kèm theo QĐ 12/2006/QĐ – BTNMT xác định các loại bao bì nhựa đựng nước khoáng, nước tinh khiết đã qua sử dụng là loại phế liệu được phép nhập khẩu. Như vậy, theo quy định này, chỉ các loại bao bì đựng nước khoáng hoặc nước tinh khiết đã qua sử dụng mới được phép nhập khẩu còn các bao bì nhựa đã đựng nước giải khát các loại như  Coca cola, Pepsi, 7 up…, hoặc đựng các sản phẩm khác sẽ không được phép nhập khẩu, kể cả trong trường hợp đáp ứng những điều kiện khác của các quy định về điều kiện đối với phế liệu nhập khẩu. Muốn được phép nhập khẩu, các loại chai nhựa này đã phải được băm, cắt với kích thước mỗi chiều của mẩu vụn không quá 5 cm.Một điều hiển nhiên là nếu các chai nhựa đựng Coca cola, Pepsi, 7 up… nếu đã được làm sạch thì tính chất lý, hoá và nguy cơ gây ảnh hưởng tới môi trường không có sự khác biệt với chai nhựa đựng nước khoáng, nước tinh khiết. Trong trường hợp này, mặc dù không xuất hiện những nguy cơ gây ảnh hưởng xấu tới môi trường nhưng nếu cho phép nhập khẩu sẽ vi phạm Điều 43 khoản 1 mục c Luật BVMT và QĐ 12/2006/QĐ – BTNMT. Hậu quả là doanh nghiệp nhập khẩu sẽ gánh chịu những thiệt hại về kinh tế phát sinh từ hoạt động nhập khẩu phế liệuViệc quy định mang tính chất liệt kê các loại phế liệu được phép nhập khẩu (Điều 43 khoản 1 điểm c và 12/2006/QĐ – BTNMT) có thể tránh được sự tranh luận giữa cơ quan quản lý nhà nước và doanh nghiệp nhập khẩu về loại phế liệu nhập khẩu có được phép hay không. Mặc dù vậy, với xu hướng quy định: “chỉ được thực hiện những hành vi mà pháp luật cho phép”, những nhu cầu chính đáng trong việc sử dụng phế liệu làm nguyên liệu có thể sẽ không được đáp ứng, mặc dù hoạt động nhập khẩu này không có nguy cơ gây ảnh hưởng xấu tới môi trường. Ví dụ, có một số cơ sở sử dụng các loại phế liệu như lông vũ, vỏ bắp ngô, gỗ phế liệu, da lông cừu đã thuộc, mảnh da cừu vụn, vải vụn, sợi rối… làm nguyên liệu và có nhu cầu nhập khẩu để đáp ứng nhu cầu sản xuất nhưng do Danh mục các phế liệu được phép nhập khẩu không liệt kê nên các doanh nghiệp không được phép nhập khẩu. 
Khuyến nghị 1.  Cùng với việc thực hiện khuyến nghị 3 của vấn đề Quy chuẩn kỹ thuật môi trường, nên bỏ yêu cầu đối với phế liệu được phép nhập khẩu được quy định tại điều 43 khoản 1 điểm a về nội dung: đã được phân loại, làm sạch  
Khuyến nghị 2. Đổi mới hoạt động ban hành danh mục phế liệu được phép nhập khẩu theo hướng sử dụng tiêu chí những vấn đề bảo vệ môi trường cần đáp ứng chứ không dựa vào nguồn gốc phát sinh phế liệu và mở rộng loại phế liệu đuợc phép nhập khẩu sau đó hướng tới ban hành danh mục chất thải thông thường để sử dụng nó như danh mục phế liệu được phép nhập khẩu
Khuyến nghị 3: Bỏ quy định cấm nhập khẩu hàng tiêu dùng đã qua sử dụng gồm thuỷ tinh, kim loại, nhựa được quy định tại Phụ lục I Nghị định 12/2006/NĐ-CP

 

4

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Chưa có các quy định liên quan đến xuất khẩu chất thải

 

Luật BVMT

Thiếu quy định

Điều 7 khoản 9 Luật bảo vệ môi trường và các quy định khác chỉ cấm nhập khẩu, quá cảnh chất thải.Do đó có thể khẳng định rằng, pháp luật Việt nam cho phép xuất khẩu chất thải. Tuy nhiên, cho tới thời điểm này, pháp luật môi trường chưa có những quy định hướng dẫn về hồ sơ, trình tự, thủ tục xuất khẩu chất thải. Theo nguyên lý chung, nếu chưa có quy định hướng dẫn – và kể cả trong trường hợp đã có quy định hướng dẫn, các nhà xuất khẩu chất thải của Việt nam phải tuân thủ các quy định của Công ước Basel về vận chuyển chất thải xuyên biên giới và việc tiêu huỷ chúng. Tuy nhiên, có những quy định của Công ướcBaseluỷ quyền cho các quốc gia thành viên quy định cụ thể về những vấn đề nhất định. Do đó, cần có những quy định về vấn đề này mới có thể thực thi những nội dung này của công ước.Việc thiếu những quy định này gây ra sự lúng túng cho cơ quan quản lý nhà nước và doanh nghiệp khi doanh nghiệp có nhu cầu xuất khẩu chất thải.
Khuyến nghị: Sửa đổi Luật bảo vệ môi trường theo hướng quy định rõ quyền được xuất khẩu chất thải của các chủ thể khác nhau và uỷ quyền cho Chính phủ ban hành văn bản chi tiết hướng dẫn trình tự, thủ tục xuất khẩu chất thải. Trên cơ sở đó, Chính phủ ban hành quy định này.

Trong trường hợp không sủa đổi Luật BVMT, căn cứ  Điều 14 khoản 4 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật, Chính phủ có thể ban hành nghị định về vấn đề này mà không cần sủa đổi Luật bảo vệ môi trường  

 

5

 

 

quy định cấm nhập khẩu phương tiện giao thông vận tải để phá dỡ không bảo đảm phát triển bền vững Điều 42 khoản 2 điểm b Luật BVMT

Tính hợp lý

Điều 42 khoản 2 mục b Luật bảo vệ môi trường 2005 quy định cấm nhập khẩu máy móc, thiết bị, phương tiện giao thông vận tải đã qua sử dụng để phá dỡ.Với quan điểm cho rằng: hoạt động nhập khẩu các phương tiện giao thông vận tải về để phá dỡ và hoạt động phá dỡ là nguyên nhân gây ảnh hưởng nghiêm trọng tới môi trường và từ đó cho rằng quy định cấm này là cần thiết.Xét về mặt lý luận thì có một số vấn đề cần xem xét lại:– Thứ nhất, phải thấy rằng, pháp luật môi trường trong hoạt động nhập khẩu là “màng lọc” các ảnh hưởng xấu tới môi trường và sức khoẻ con người. Do đó, theo nguyên lý này, những hàng hoá có ảnh hưởng lớn tới môi trường sẽ không được phép nhập khẩu vào Việt Nam và ngược lại, những hàng hoá không có ảnh hưởng hoặc có ảnh hưởng nhưng không lớn tới môi trường sẽ được phép nhập khẩu. Các phương tiện giao thông vận tài, trong đó có tàu biển, xét về lượng chất thải phát sinh trong và sau khi phá dỡ cũng có nhiều loại, với những tỉ lệ phát sinh chất thải khác nhau, có loại phương tiện phát sinh nhiều chất thải, trong đó có chất thải nguy hại nhưng cũng có những loại phương tiện phát sinh chất thải không lớn. Bên cạnh đó, nếu so sánh việc phát sinh chất thải của một số loại hình sản xuất hiện nay thì có phương tiện giao thông vận tải, một số tàu biển đã qua sử dụng sẽ không làm phát sinh nhiều chất thải hơn so với ngành sản xuất đó. Do đó, về mặt lý luận thì có thể không nên cấm hoàn toàn việc nhập khẩu phương tiện giao thông, tàu cũ để phá dỡ mà chỉ nên cấm một số loại có khả năng làm phát sinh nhiều chất thải, trong đó có chất thải nguy hại và cho phép nhập khẩu những loại phương tiện giao thông vận tải, tàu cũ chứa ít chất thải với mục đích phá dỡ.– Thứ hai, không thể lấy lý do các doanh nghiệp phá dỡ, phương tiện giao thông vận tài, tàu cũ vi phạm pháp luật môi trường để cấm nhập khẩu. Hành vi nhập khẩu phương tiện giao thông vận tải, tàu cũ và phá dỡ làm phát sinh những nghĩa vụ pháp lý khác nhau. Do đó, không thể vì những vi phạm nghĩa vụ từ hành vi này mà cấm việc thực hiện hành vi khác. Bên cạnh đó, trong trường hợp chủ thể có hành vi vi phạm pháp luật môi trường (như không thực hiện nghĩa vụ đánh giá tác động môi trường, nghĩa vụ quản lý chất thải…) thì Nhà nước có thể áp dụng trách nhiệm pháp lý theo quy định, tương ứng với hành vi vi phạm.

– Thứ ba, quy định cấm này thể hiện xu hướng: không quản lý được thì cấm của pháp luật

Các doanh nghiệp, các hiệp hội, đặc biệt là hiệp hội thép thì cho rằng quy định cấm này đã “khai tử” một lĩnh vực sản xuất, kinh doanh: nhập khẩu, phá dỡ tàu cũ và không bảo đảm phát triển bền vững.

 

 

Khuyến nghị: Sửa đổi Điều 42 khoản 2 điểm b theo hướng: Cấm nhập khẩu phương tiện giao thông vận tải đã qua sử dụng không bảo đảm quy chuẩn kỹ thuật môi trường để phá dỡ. (khuyến nghị cần được thực hiện với khuyến nghị 4 về quy chuẩn kỹ thuật môi trường)  
 3. Vấn đề 3: Đánh giá tác động môi trường

STT

Vấn đề

Quy định liên quan

Tiêu chí vi phạm

Phân tích vấn đề

6

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Đối tượng phải thực hiện đánh giá tác động môi trường,Camkết bảo vệ môi trường Điều 18, Điều 19; Đỉều 65 khoản 1 điểm a, Điều 24 Luật bảo vệ môi trường, Điều 8 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật, Nghị định 29/2011/NĐ-CP ngày 18/4/2011 quy định về đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường, cam kết bảo vệ môi trường Tính thống nhất Điều 18 khoản 1 Luật bảo vệ môi trường liệt kê7 nhóm dự án phải đánh giá tác động môi trường và tại Điều 18 khoản 2 xác định Chính phủ quy định danh mục các dự án phải lập Báo cáo đánh giá tác động môi trường.Tuy nhiên, Điều 65 khoản 1 Luật BVMT lại quy định “dự án khai thác nước dưới đất có công suất từ 10.000 mét khối trong mội ngày đêm phải lập Báo cáo đánh giá tác động môi trường”.Do đó, mục 53 phụ lục II Nghị định 29/2011/NĐ-CP ngày 18/4/2011 quy định về đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường, cam kết bảo vệ môi trường trái với Điều 65 khoản 1 Luật BVMT khi quy định: Dự án khai thác nước để làm nguồn nước cho hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và sinh hoạt có công suất khai thác từ 5.000 m3nước/ngày đêm trở lên đối với nước dưới đất phải thực hiện đánh giá tác động môi trườngĐiều 19 khoản 4 Luật BVMT quy định những trường hợp phải lập báo cáo đánh giá tác động môi trường bổ sung (trong trường hợp cần thiết)  thì cũng với những trường hợp này, Điều 13 khoản 3 Nghị định 29/2011/NĐ-CP ngày 18/4/2011 quy định về đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường, cam kết bảo vệ môi trường  lại quy định  phải lập lại báo cáo đánh giá tác động môi trường. Lập lại và bổ sung báo cáo đánh giá tác động môi trường có những yêu cầu khác nhau. Do đó, Điều 13 khoản 3 Nghị định hướng dẫn đã mâu thuẫn với Điều 19 khoản 4 Luật BVMT.Mục 146 Phụ lục II Nghị định 29/2011/NĐ-CP ngày 18/4/2011 tiếp tục uỷ quyền cho Bộ trưởng Bộ TNMT xem xét, quyết định những trường hợp phải thực hiện ĐTM. Quy định này mâu thuẫn với Điều 8 khoản 1 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Điều 8 khoản 1 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật quy định: Cơ quan được giao ban hành văn bản quy định chi tiết không được ủy quyền tiếp.
Tính minh bạch Mục 146 Phụ lục II Nghị định 29/2011/NĐ-CP ngày 18/4/2011 quy định về đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường, cam kết bảo vệ môi trường quy định: Các dự án tiềm ẩn nguy cơ gây ô nhiễm, suy thoái môi trường phát sinh ngoài Phụ lục này do Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường xem xét, quyết định. Quy định này không rõ ràng trong quy định và từ đó không rõ ràng về nghĩa vụ đánh giá tác động môi trường của chủ đầu tư. Có thể bất cứ dự án đầu tư nào cũng có thể rơi vào trường hợp này vì đã đầu tư sây dựng mới là có thể “tiềm ẩn nguy cơ gây ô nhiễm, suy thoái môi trường”. Do đó, có thể có nguy cơ gây nhũng nhiễu, tham nhũng trên thực tế.Quy định này còn mâu thuẫn với Điều 18 khoản 2 Luật BVMTvì thẩm quyền danh mục các dự án phải lập báo cáo đánh giá tác động môi trường do Chính phủ quy định
Tính khả thi Theo Điều 24 Luật BVMT, tất cả những dự án không phải thực hiện đánh giá tác động môi trường và cơ sở sản xuất quy mô hộ gia đình phải thực hiện cam kết bảo vệ môi trường. Tuy nhiên, tác động tới môi trường và chất thải phát sinh của nhiều cơ sở sản xuất nhỏ và quy mô hộ gia đình trong các làng nghề hoặc lẫn trong khu dân cư có tính chất không khác gì tác động tới môi trường và chất thải phát sinh do hoạt động sinh hoạt của nguời dân. Do đó, yêu cầu các chủ cơ sở này phải thực hiện cam kết bảo vệ môi trường là không phù hợp và khó khả thi.
Khuyến nghị 1: Để bảo đảm các quy định không tản mạn, tránh mâu thuẫn và linh hoạt nhằm bảo đảm quan điểm phát triển bền vũng, cần bãi bỏ quy định tại Điều 65 khoản 1 Luật BVMT
Khuyến nghị 2: Phương án 1: Sửa Điều 13 khoản 3 Nghị định 29/2011/NĐ-CP ngày 18/4/2011 quy định về đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường, cam kết bảo vệ môi trường theo hướng chỉ bắt buộc các đối tượng quy định tại điều khoản này phải đánh giá tác động môi trường bổ sung nhằm bảo đảm tính thống nhất với Điều 19 khoản 4 Luật BVMT. Phương án 2: Sẽ là tốt hơn cho môi trường và an toàn về mặt pháp lý cho chủ dự án khi xác định những trường hợp được quy định tại Điều 19 khoản 4 thực hiện lại báo cáo đánh giá tác động môi trường. Do đó, sửa đổi Điều 19 khoản 4 theo hướng thay thế báo các đánh giá tác động môi trường bổ sung bằng lập lại báo cáo đánh giá tác động môi trường.
Khuyến nghị 3: Bãi bỏ Mục 146 Phụ lục II Nghị định 29/2011/NĐ-CP ngày 18/4/2011 quy định về đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường, cam kết bảo vệ môi trường
Khuyến nghị 4: Cần xác định những chủ thể sản xuất quy mô nhỏ và quy mô hộ gia đình không phải thực hiệnCam kết bảo vệ môi trường.

7

 

 

 

 

 

 

Điều kiện của chủ thể được phép lập Báo cáo đánh giá tác động môi trường Điều 19 khoản 3, 5 Luật Bảo vệ môi trường, Điều 16 Nghị định 29/2011/NĐ-CP ngày 18/4/2011 quy định về đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường, cam kết bảo vệ môi trường Tính thống nhất Điều 19 khoản 5 Luật bảo vệ môi trường chỉ quy định về điều kiện của Tổ chức dịch vụ tư vấn lập báo cáo đánh giá tác động môi trường chứ không yêu cầu về điều kiện của chủ dự án khi lập báo cáo đánh giá tác động môi trường. Trong khi đó Điều 16 khoản 1 Nghị định 29/2011/NĐ-CP ngày 18/4/2011 quy định về đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường, cam kết bảo vệ môi trường quy định điều kiện của cả Tổ chức dịch vụ tư vấn lập báo cáo đánh giá tác động môi trường và chủ dự án. Đối tượng quy định tại Điều 16 Nghị định 29/2011/NĐ-CP vượt ra ngoài phạm vi của Điều 19 khoản 5 Luật bảo vệ môi trường
Tính hợp lý Quy định về điều kiện của chủ dự án để được phép  lập báo cáo đánh giá tác động môi trường tại Điều 16 khoản 1 Nghị định 29/2011/NĐ-CP ngày 18/4/2011 quy định về đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường, cam kết bảo vệ môi trường đã ràng buộc phương thức thực hiện nghĩa vụ của chủ dự án, cản trở tính tự quyết của chủ dự án. Việc quyết định tự mình thực hiện hoặc thuê người khác thực hiện nghĩa vụ là quyền của chủ dự án.(điều này bất hợp lý tương tự như việc phải có quy định: Bị cáo hoặc nguyên đơn, bị đơn trong các vụ án phải có trình độ nhất định về pháp luật, có thẻ Luật sư mới được tự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình)
Tính khả thi Với yêu cầu được quy định tại Điều Điều 16 khoản 1 Nghị định 29/2011/NĐ-CP ngày 18/4/2011 quy định về đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường, cam kết bảo vệ môi trường, tuyệt đại bộ phận các chủ dự án sẽ không đủ điều kiện để tự mình lập báo báo đánh giá tác động môi trường.
Khuyến nghị: Sửa đổi Điều 16 khoản 1Nghị định 29/2011/NĐ-CP ngày 18/4/2011 theo hướng điều kiện này chỉ áp dụng cho Tổ chức dịch vụ tư vấn lập báo cáo đánh giá tác động môi trường

8

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Hoạt động thẩm định thông qua Tổ chức dich vụ thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường Điều 19 khoản 7 Luật BVMT, Điều 19 khoản 3 Nghị định 29/2011/NĐ-CP ngày 18/4/2011, Quyết định19/2007/QĐ-BTNMT ngày 26  tháng 11 năm 2007  Về việc ban hành Quy định về điều kiện và hoạt độngdịch vụ thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường Tính hợp lý Mặc dù các quy định này không quy định rõ ràng, cụ thể nhưng có thể thấy Tổ chức dịch vụ thẩm định báo cáo ĐTM được tổ chức và hoạt động theo Luật doanh nghiệp khi đủ năng lực theo yêu cầu của Quyết định số 19/2007/QĐ-BTNMT về việc ban hành Quy định về điều kiện và hoạt động của dịch vụ thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường.Tuy nhiên, với quy định “cơ quan có thẩm quyền thẩm định quyết định việc tuyển chọntổ chức dịch vụ thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường” theo quy định tại Điều 21khoản 7 Luật BVMT, Điều 19 khoản 3 Nghị định 29/2011/NĐ-CP ngày 18/4/2011, Quyết định 19/2007/QĐ-BTNMT đã tạo ra “cơ chế xin – cho”, mặc dù Quyết định 19/2007/QĐ-BTNMT đã quy định về nguyên tắc, điều kiện, trình tự, thủ tục tuyển chọn tổ chức dịch vụ thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường.Hoạt động của “Doanh nghiệp – Tổ chức dịch vụ báo cáo đánh giá tác động môi trường” hoàn toàn phụ thuộc vào việc “quyết định tuyển chọn” của cơ quan nhà nước có thẩm quyền thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường không chỉ cản trở quyền tự quyết của chủ dự án có nghĩa vụ đánh giá tác động môi trường, cản trở quiyền tự do kinh doanh của doanh nghiệp mà còn có thể là nguyên nhân tạo ra nguy cơ nhũng nhiễu, tham nhũng hoặc Tổ chức dịch vu thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường là “doanh nghiệp sân sau” của cơ quan có thẩm quyền thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường.Trình tự thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường bằng hình thức Tổ chức dịch vụ thẩm định phức tạp. Mọi giao dịch về giấy tờ, thủ tục… giữa chủ dự án và Tổ chức dịch vụ thẩm định đều phải thông qua cơ quan có thẩm quyền thẩm định.
Khuyến nghị: Sửa đổi các quy định này theo hướng xã hội hoá hoạt động thẩm định như sau:

  1. Xác định các loại dự án thẩm định thông qua tổ chức dịch vụ thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường (như quy định tại Điều 5 Quyết định 19/2007/QĐ-BTNMT).
  2. Trao cho chủ dự án có quyền lựa chọn Tổ chức dịch vụ thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường.
  3. Trình tự thực hiện (mới) như sau: Chủ dự án tự lựa chọn Tổ chức dịch vụ thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường và ký hợp đồng dịch vụ thẩm định với tổ chức này. Tổ chức dịch vụ tiến hành thẩm định. Trong trường chất lượng báo cáo bảo đảm thì đưa ra kết luận, trong trường hợp chưa bảo đảm thì yêu cầu chủ dự án bổ sung, sửa chữa và tiếp tục thẩm định lại sau khi chủ dự án đã sủa chữa, bổ sung. Sau đó, báo cáo đánh giá tác động môi trường và kết luận của Tổ chức dịch vụ thẩm định được nộp cho cơ quan có thẩm quyền thẩm định.

9

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Chưa có quy định về trách nhiệm của Hội đồng thẩm định và Tổ chức thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường đối với kết luận thẩm định Điều 19 khoản 7 Luật BVMT, Điều 19 khoản 3 Nghị định 29/2011/NĐ-CP ngày 18/4/2011, Quyết định19/2007/QĐ-BTNMT ngày 26  tháng 11 năm 2007  Về việc ban hành Quy định về điều kiện và hoạt độngdịch vụ thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường thiếu quy định và quy định hướng dẫn Mặc dù cả Hội đồng thẩm định và Tổ chức dịch vụ thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường là cơ quan tư vấn cho cơ quan có thẩm quyền thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường nhưng pháp luật chỉ quy định trách nhiệm của tổ chức dịch vụ thẩm định đối với kết luận thẩm định (Điều 7 Quyết định 19/2007/QĐ-BTNMT ngày 26  tháng 11 năm 2007), không có quy định về trách nhiệm của Hội đồng thẩm định. Nhưng trách nhiệm của Tổ chức dịch vụ thẩm định cũng chỉ dừng lại là chịu trách nhiệm trước pháp luật và  trước cơ quan tuyển chọn dịch vụ thẩm định về kết quả thẩm định của mình mà không có quy định việc chịu trách nhiệm như thế nào?.Nếu Báo cáo đánh giá tác động môi trường được phê duyệt và chủ dự án tuân thủ đầy đủ các yêu cầu của quyết định phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường nhưng hoạt động của dự án vẫn vi phạm pháp luật (ví dụ như vi phạm quy chuẩn kỹ thuật môi trường về chất thải), gây tổn hại tới môi trường gây thiệt hại thì chủ thể nào sẽ chịu trách nhiệm về hậu quả này?Với quy định hiện hành thì chỉ có cơ quan có thẩm quyền thẩm định chịu trách nhiệm. Xu hướng quy định này phù hợp với vai trò, vị trí của cơ quan có thẩm quyền thẩm định và tổ chức tư vấn cho cơ quan có thẩm quyền thẩm định (Hội đồng thẩm định và Tổ chức dịch vụ thẩm định), nhưng làm phát sinh những vấn đề sau:Thứ nhất, cùng là tổ chức tư vấn nhưng pháp luật không quy định thống nhất về trách nhiệm với kết quản thẩm định giữa Hội động thẩm định và tổ chức dịch vụ thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trườngThứ hai, pháp luật không gắn trách nhiệm của Hội đồng thẩm định với kết luận của mình.

Thứ ba, mặc dù Điều 7 Quyết định 19/2007/QĐ-BTNMT ngày 26  tháng 11 năm 2007 có quy định tổ chức dịnh vụ thẩm chịu trách nhiệm trước pháp luật về kết quả thẩm định của mình nhưng lại không quy định chịu trách nhiệm như thế nào.

Do đó, pháp luật chưa gắn trách nhiệm của hội đồng thẩm định và tổ chức dịch vụ thẩm định với kết luận thẩm định của mình.

Khuyến nghị: Bổ sung các quy định về trách nhiệm của Hội đồng thẩm định và tổ chức dịch vụ thẩm định đối với kết luận của mình theo hướng: trong trường hợp báo cáo đánh giá tác động môi trường đã được phê duyệt mà dự án vẫn làm tổn hại đến môi trường xuất phát từ chất lượng của báo cáo ĐTM thì Hội đồng thẩm định hoặc tổ chức dịch vụ thẩm định phải chịu trách nhiệm về hậu quả này như là cơ quan có thẩm quyền thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường.
4. Vấn đề 4: Thẩm quyền quản lý của các cơ quan quản lý nhà nước

STT

Vấn đề

Quy định liên quan

Tiêu chí vi phạm

Phân tích vấn đề

10

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Có quá nhiều cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện pháp luật bảo vệ môi trường (trong đó có hướng dẫn đánh giá tác động môi trường) Điều 121, 126, Điều 44 khoản 5 Luật bảo vệ môi trường, Thông tư  05/2008 ngày 8/12/2008 của Bộ tài nguyên và môi trường  Hướng dẫn về đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường và cam kết bảo vệ môi trường, Thông tư  06/2007 ngày 27/8/2007 của Bộ kế hoạch và đầu tư  hướng dẫn việc thực hiện Nghị định số 140/2006/NĐ-CP của Chính phủ quy định việc bảo vệ môi trường trong các khâu lập, thẩm định, phê duyệt và tổ chức thực hiện các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch  và dự án phát triển Tính minh bạch Theo Luật VBM, có nhiều cơ quan có trách nhiệm hướng dẫn thực hiện Luật BVMT nên trong cùng một thời điểm tồn tại nhiều văn bản hướng dẫn đối với cùng một vấn đề với nội dung khác nhau:Theo Điều 121 Luật bảo vệ môi trường, có quá nhiều bộ chủ quản chuyên ngành thực hiện hoặc phối hợp thực hiện hướng dẫn việc thực hiện pháp luật bảo vệ môi trường. Mặc dù là lĩnh vực bảo vệ môi trường có đặc thù là lĩnh vực mang tính đa ngành, liên ngành cao nhưng việc quy định quá nhiều cơ quan chủ trì, phối hợp nhưng không quy định sự phối hợp đó như thế nào dẫn tới việc về cùng một vấn đề (hướng dẫn đánh giá tác động môi trường và cam kết bảo vệ môi trường của chủ dự án phát triển cụ thể) tồn tại hai văn bản hướng dẫn của hai bộ khác nhau (Thông tư  05/2008 ngày 8/12/2008 của Bộ tài nguyên và môi trường  và Thông tư  06/2007 ngày 27/8/2007 của Bộ kế hoạch và đầu tư ). Có thể thấy rằng, Thông tư  05/2008 ngày 8/12/2008 của Bộ TN&MT chi tiết, cụ thể hơn Thông tư  06/2007 ngày 27/8/2007 của Bộ KH&ĐT. Tuy nhiên, về cùng một vấn đề tồn tại hai văn bản hướng dẫn cũng gây khó khăn, lúng túng cho cơ quan quản lý và chủ dự án khi thực hiện nghĩa vụ của mình.Có nhiều cơ quan cùng có thẩm quyền kiểm tra về một vấn đề:Cũng theo Điều 121 Luật bảo vệ môi trường và Điều 126, nhiều bộ cùng có chức năng  kiểm tra việc thực hiện pháp luật bảo vệ môi trường của các tổ chức, cá nhân. Quy định này tạo ra cơ chế không rõ ràng về thẩm quyền kiểm tra của cơ quan nhà nước, có thể tạo ra những khó khăn không đáng có cho doanh nghiệp
Tính thống nhất Điều 44 khoản 5 Luật bảo vệ môi trường có sự chồng chéo về thẩm quyền kiểm tra, thành tra… việc thực hiện pháp luật bảo vệ môi trường của Bộ TN&MT được quy định tại Điều 121 khoản 2 điểm h Luật bảo vệ môi trường
Tính hợp lý Lãng phí chi phí xã hội:Chi phí  cho hoạt động xây dựng hướng dẫn thi hành và cho hoạt động kiểm tra của cơ quan quản lý nhà nước tăng do những hoạt động trùng lặp không cần thiết.Bên cạnh đó, chi phí tuân thủ việc kiểm tra của doanh nghiệp cũng tăng theo tương ứng.
Thiếu quy định Khó quy trách nhiệm trong trường hợp không cơ quan nào thực hiện trách nhiệm:Vì quy định nhiều cơ quan cùng thực hiện một, một số trách nhiệm quản lý nên khi xảy ra trường hợp không thực hiện được nhiệm vụ theo quy định của pháp luật, sẽ khó xác định cơ quan nào phải chịu trách nhiệm về tình trạng đó.Điều 44 khoản 5 Luật bảo vệ môi trường quy định: Bộ Công thương có trách nhiệm chủ trì phối hợp với các bộ, ngành thuộc Chính phủ, UBND cấp tỉnh có liên quan tổ chức kiểm tra việc thực hiện pháp luật bảo vệ môi trường của các cơ sở khai thác, chế biến khoáng sản. Trong khi đó, hoạt động khoáng sản theo Luật khoáng sản bao gồm cả hoạt động khảo sát, thăm dò. Như vậy, cơ quan nào sẽ thực hiện kiểm tra việc thực hiện pháp luật bảo vệ môi trường đối với cơ sở khảo sát, thăm dò khoáng sản
Khuyến nghị: Sửa đổi các quy định về thẩm quyền hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện pháp luật bảo vệ môi trường theo hướng:

  1. Bộ TNMT có trách nhiệm ban hành các quy định hướng dẫn, các quy chuẩn kỹ thuật môi trường và thực hiện hoạt động kiểm tra việc thực hiện pháp luật bảo vệ môi trường của các chủ thể. Trong trường hợp nội dung có liên quan đến các lĩnh vực  như xây dựng, y tế, nông nghiệp…, Bộ TNMT có trách nhiệm chủ trì, phối hợp với các bộ có liên quan xây dựng hướng dẫn và Bộ TNMT ban hành văn bản hướng dẫn. Đối với hoạt động kiểm tra, trong trường hợp hoạt động kiểm tra các chủ thể hoạt động trong những lĩnh vực như xây dựng, y tế, nông nghiệp…, Bộ TNMT có thể yêu cầu bộ chuyên ngành phối hợp cùng thực hiện (Đoàn kiểm tra liên ngành).
  2. Các Bộ quản lý ngành có trách nhiệm hướng dẫn kỹ thuật việc thực thi pháp luật bảo vệ môi trường của các chủ thể, doanh nghiệp thuộc ngành quản lý
  1. Vấn đề 5: Bảo vệ môi trường trong hoạt động sản xuất và quản lý chất thải

STT

Vấn đề

Quy định liên quan

Tiêu chí vi phạm

Phân tích vấn đề

11

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Chưa có quy định nhằm xác định khoảng các an toàn từ khu công nghiệp, khu công nghệ cao, cụm công nghiệp, cơ sở sản xuất tới khu dân cư… Điều 36 khoản 2, Điều 37 khoản 2, Điều 74 khoản 1 điểm d, Điều 75 khoản 1 điểm a, Điều 79 khoản 1 điểm b Luật BVMT, Nghị định 59/2007/NĐ-CP ngày 9/4/2007 về quản lý chất thải rắn, Điều 22 Luật Hoá chất, Điều 13, 14, 15 Nghị định 108/2008/NĐ-CP ngày 7/10/2008 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật hoá chất Thiếu quy định thi hành Điều 36 khoản 2, Điều 37 khoản 2, Điều 74 khoản 1 điểm d, Điều 75 khoản 1 điểm a, Điều 79 khoản 1 điểm b Luật BVMT quy định các khu công nghiệp, khu công nghệ cao, cụm công nghiệp và cơ sở sản xuất trong những ngành nghề, lĩnh vực được liệt kê tại các quy định này “phải có khoảng cách an toàn về môi trường đối với khu dân cư, khu bảo tồn thiên nhiên….”.Tuy nhiên, pháp luật hiện hành mới chỉ có quy định về phương pháp xác định khoảng cách an toàn đối với cơ sở sản xuất, cất giữ một số loại hoá chất nguy hiểm (quy định tại Điều 22 Luật Hoá chất và Điều 13, 14, 15 Nghị định 108/2008/NĐ-CP ngày 7/10/2008 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật hoá chất).Nghị định 59/2007/NĐ-CP ngày 9/4/2007 về quản lý chất thải rắn mới chỉ quy định trong nội dung quy hoạch quản lý chất thải rắn phải xác định vị trí cơ sở thu gom và xử lý chất thải rắn (Điều 7 khoản 2 điểm c). Có thể hiểu rằng, khi xác định vị trí cơ sở thu gom và xử lý chất thải rắn, cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải xác định khoảng cách an toàn đối với khu dân cư….Pháp luật chưa quy định về phương pháp xác định hoặc khoảng cách cụ thể áp dụng cho những trường hợp còn lại.
Khuyến nghị: ban hành các hướng dẫn kỹ thuật về khoảng cách an toàn từ khu công nghiệp, khu công nghệ cao, cụm công nghiệp, cơ sở sản xuất (được liệt kê tại Điều 36 khoản 2, Điều 37 khoản 2, Điều 74 khoản 1 điểm d, Điều 75 khoản 1 điểm a, Điều 79 khoản 1 điểm b Luật BVMT)  tới khu dân cư, khu bảo tồn thiên nhiên, vùng được bảo vệ.

12

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Chưa có tiêu chí nhằm đánh giá “cơ sở có nguy cơ gây sự cố môi trường” Điều 41 khoản 5, Điều 86 khoản 1 Luật BVMT, Điều 38 Luật hoá chất, Điều 5 Nghị định 108/2008/NĐ-CP ngày 7/10/2008 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật hoá chất, Luật dầu khí và các văn bản hướng dẫn Thiếu quy định hướng dẫn Điều 41 khoản 5, Điều 86 khoản 1 Luật BVMT xác định nghĩa vụ của các chủ cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, phương tiện vận tải có nguy cơ gây sự cố môi trường phải áp thực hiện các biện pháp phòng ngừa theo quy định tại điều 41 khoản 5 và Điều 86.Hiện nay, mới chỉ có những quy định sau đây xác định cơ sở có nghĩa vụ phòng ngừa, ứng phó sự cố môi trường:Điều 38 Luật hoá chất, Điều 5 Nghị định 108/2008/NĐ-CP ngày 7/10/2008 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật hoá chất có quy định danh mục các cơ sở có hoạt động liên quan đến một số loại hoá chất nhất định phải phải xây dựng kế hoạch phòng ngừa, ứng phó sự cố hóa chất và xác định các biện pháp phòng ngừa tương tự như quy định tại Luật BVMTĐiều 5 Luật dầu khí quy định về nguyên tắc và Quyết định 11103/2005/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 12/5/2005 về việc ban hành Quy chế hoạt động ứng phó sự cố tràn dầu, Quyết định 395/1998/QĐ – BKHCNMT ngày10/4/1998 về việc ban hành quy chế bảo vệ môi trường trong hoạt động dầu khí quy định những trường hợp hoạt động dầu khí là có nguy cơ gây sự cố môi trường và từ đó xác định các biện pháp phòng ngừa tương tự như quy định tại Luật BVMT.Ngoài các quy định trên, hiện nay chưa có các quy định nhằm xác  định cơ sở hoạt động trong các lĩnh vực, ngành nghề khác là các cơ sở “có nguy cơ gây sự cố môi trường”.
Khuyến nghị: Ban hành quy định hướng dẫn Luật BVMT theo hướng: Xác định tiêu chí (hoặc liệt kê các lĩnh vực sản xuất kinh doanh) “có nguy cơ gây sự cố môi trường” và cụ thể hoá những nghĩa vụ được được quy định tại Điều 86 Luật BVMT.
13    

 

 

 

 

 

Chưa có quy định hướng dẫn việc thu hồi xử lý các sản phẩm hết hạn sử dụng hoặc thải bỏ. Điều 67 Luật BVMT Thiếu quy định hướng dẫn Đỉều 67 Luật BVMT quy định về trách nhiệm thu hồi một số loại sản phẩm đã hết hạn sử dụng hoặc thải bỏ  nhưng cho tới nay Nhà nước vẫn chưa có những quy định hướng dẫn để thực hiện và do đó các quy định vẫn chưa đi vào cuộc sống.
Khuyến nghị    Bộ TNMT hoàn thiện dự thảo, trình Thủ tướng Chính phủ ban hành quy định hướng dẫn về việc thu hồi các sản phẩm đã hết hạn sử dụng hoặc thải bỏ.
14    

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Quy đinh về phí bảo vệ môi trường còn chưa rõ ràng; Phí bảo vệ môi trường đối với hoạt động khai thác khoáng sản chưa phù hợp với cơ sở tính phí BVMT tại Điều 113 Luật BVMT Điều 113 Luật BVMT, Nghị định 63/2008/NĐ-CP ngày 13/5/2008 về phí bảo vệ môi trường đối với hoạt động khai thác khoáng sản, Nghị định số 67/2003/NĐ-CP ngày 13/6/2003 về phí bảo vệ môi trường đối với nước thải; Nghị định số 04/2007/NĐ-CP ngày 08/01/2007 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 67/2003/NĐ-CP; Nghị định số 26/2010/NĐ-CP ngày 22/3/2010 sửa đổi, bổ sung Khoản 2 Điều 8 Nghị định số 67/2003/NĐ-CP; Thông tư liên tịch số 107/2010/TTLT-BTC ngày 26/07/2010 sửa đổi bổ sung Thông tư liên tịch số 125/2003/TTLT-BTC-BTNMT ngày 18/12/2003 và Thông tư liên tịch số 106/2007/TTLT-BTC-BTNMT ngày 6/9/2007 hướng dẫn về phí bảo vệ môi trường đối với nước thải… Tính minh bạch Có cách hiểu khác nhau về việc thu phí bảo vệ môi trường đối với nước thải:

  1. Các doanh nghiệp nộp phí BVMT đối với nước thải thì cho rằng họ không phải xử lý nước thải, trách nhiệm này thuộc về cơ quan thu phí. Cách hiểu này giống như cách hiểu đối với phí bảo vệ môi trường đối với chất thải rắn.
  2. Quy điểm thứ hai cho rằng, việc xử lý nước thải bảo đảm quy chuẩn kỹ thuật môi trường và việc nộp phí BVMT trường là 2 nghĩa vụ độc lập

Trong khi đó, cơ quan môi trường lại cho rằng, mức thu phí BVMT đối với nước thải  quá thấp, chỉ là phí quản lý không đủ đề đầu tư thiết bị, công nghệ xử lý nước thải.

Trên thực tế, từ sự thiếu nhất quán trong cách hiểu và thực hiện tại nhiều địa phương đang làm giảm đáng kể hiệu quả triển khai giải pháp thu phí BVMT đối với nước thải..

Tính thống nhất Cơ sở để quy định mức phí BVMT được quy định tại quy định tại Điều 113 khoản 2 như sau:Mức phí bảo vệ môi trường được quy định trên cơ sở sau đây:a) Khối lượng chất thải ra môi trường, quy mô ảnh hưởng tác động xấu đối với môi trường;b) Mức độ độc hại của chất thải, mức độ gây hại đối với môi trường;c) Sức chịu tải của môi trường tiếp nhận chất thải.

Trong khi đó, Nghị định 63/2008/NĐ-CP ngày 13/5/2008 về phí bảo vệ môi trường đối với hoạt động khai thác khoáng sản quy định mức phí BVMT đối với hoạt động khai thác khoáng sản theo số lượng khoáng sản thực tế đã khai thác. Như vậy, Nghị định 63/2008/NĐ-CP ngày 13/5/2008 không tuân thủ Điều 113 khoản 2 Luật bảo vệ môi trường, mặc dù cách thu này được đánh giá  là đơn giản, dễ thực hiện.

Tính hợp lý Mặc dù mức phí BVMT đối với nước thải dựa trên số lượng các chất gây ô nhiễm. Tuy nhiên, các chất gây ô nhiễm này không tồn tại độc lập trong nước thải nên tác hại và chi phí xử lý chúng trong các ngành khác nhau cũng khác nhau. Do đó, là bất hợp lý khi mức phí phải nộp giống nhau giữa các ngành khác nhau (ví dụ: Mức phí BVMT đối với ngành giấy, ngành hóa chất cũng bằng mức phí nước thải ngành thực phẩm dù tác hại, chi phí xử lý khác xa nhau)
Khuyến nghị: Sửa đổi các quy định về phí bảo vệ môi trường theo hướng:

  1. Xác định rõ nghĩa vụ nộp phí và nghĩa vụ xử lý chất thải là hai nghĩa vụ độc lập, trong đó làm rõ trách nhiệm của bên đóng phí và bên thu phí
  2. Mức phí bảo vệ môi trường đối với hoạt động khai thác khoáng sản phải được thu dựa trên cơ sở mức độ ảnh hưởng tới môi trường của hoạt dộng khai thác khoáng sản

Các nội dung này nên đưa vào các Nghị định quy định về phí bảo vệ môi trường đối với nước thải, Phí bảo vệ môi trường đối với hoạt động khai thác khoáng sản

15

Chưa có quy định riêng đối với một số loại “chất thải đặc thù” Điều 3 khoản 10 Luật BVMT Chưa có quy định Một số loại  vật chất, nếu theo khái niệm chất thải được quy định tại Điều 3 khoản 10 Luật BVMT, là chất thải. Ví dụ như đất, đá bóc ra, lấy ra trong quá trình khai thác khoáng sản; đất đá, bùn khi nạo vét lòng sông, biển….. Theo Luật BVMT, người sản sinh chất thải phải tiến hành xử lý chất thải này. Tuy nhiên, tính chất lý hoá của các loại đất đá, bùn… không gây ảnh hưởng tới môi trường và do đó nếu bắt buộc phải áp dụng các biện pháp xử lý như các loại chất thải khác sẽ gây ra sự lãng phí.
Khuyến nghị: Cần thực hiện rà soát những “chất thải” không có ảnh hưởng xấu tới môi trường (Ví dụ như các loại đất, đá bóc ra, lấy ra trong quá trình khai thác khoáng sản; đất đá, bùn khi nạo vét lòng sông, biển nêu trên) và pháp luật nên coi những chất này là vật liệu mà không coi nó là chất thải.

16

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Doanh nghiệp nhỏ và hoạt động kinh doanh hộ gia đình khó thực thi những nghĩa vụ quản lý chất thải, nhất là khí thải và nước thải Điều 7 khoản 5,6,7; Điều 37 khoản 1 điểm c, Điều 83, Điều 84 Luật BVMT,Điều 24 Luật BVMT Tính khả thi Các quy định này yêu cầu tất cả các cơ sở phải áp dụng các biện pháp nhằm bảo đảm việc xả khí thải, nước thải phải bảo đảm quy chuẩn kỹ thuật môi trường về chất thải do Bộ TNMT ban hành. Mục tiêu bảo vệ môi trường có thể đạt được thông qua việc áp dụng quy định này là tốt đẹp nhưng không phù hợp  với thực tế sản xuất kinh doanh, tiềm lực tài chính và khó (đa số là không) thể thực thi được trên thực tế.Theo những quy định này thì tất cả các cơ sở sản xuất kinh doanh phải đánh giá tác động môi trường hoặc phải cam kết bảo vệ môi trường và phải xử lý chất thải đạt quy chuẩn kỹ thuật môi trường. Tuy nhiên, trên thực tế những cơ sở quy mô nhỏ, hộ gia đình nằm rải rác trong các khu dân cư không có khả năng xử lý môi trường theo qui định của pháp luật.Nhiều cơ sở sản xuất kinh doanh nhỏ có thiện chí cải thiện môi trường sản xuất nhưng không có khả năng về kinh tế nên việc yêu cầu các cơ sở này lập bản cam kết BVMT và cam kết xử lý chất thải (bao gồm cả khí thải và nước thải) đạt quy chuẩn kỹ thuật môi trường theo quy định là khó thực hiện đối với cơ sở. Nó cũng gây khó khăn cho các cơ quan chức quản lý nhà nước (UBND cấp huyện) trong quá trình xác nhận và kiểm tra, giám sát việc tuẩn thủ những quy định về cam kết bảo vệ môi trường. Thậm chí, nhiều cơ sở có quy mô nhỏ mong muốn nhà nước đầu tư các công trình xử lý môi trường chung và sẵn sàng trả tiền để được xử lý nhưng các cơ quan quản lý nhà nước cũng khó thực hiện vì hoạt động của các cơ sở này phân tán, thiếu kinh phí dầu tư…
Khuyến nghị: Sửa đổi điều 7 khoản 5,6,7; Điều 37 khoản 1 điểm c, Điều 83, Điều 84 Luật BVMT theo hướng tách riêng nghĩa vụ quản lý khí thải và nước thải đối với các cơ sở phải thực hiện đánh giá tác động môi trường (là những doanh nghiệp lớn) với các doanh nghiệp phải thực hiện cam kết bảo vệ môi trường (là những doanh nghiệp nhỏ và quy mô hộ gia đình). Khuyến nghị này cần thực hiện với khuyến nghị 5 về quy chuẩn kỹ thuật môi trường.Bên cạnh đó, cần xây dựng chính sách, quy hoạch, kế hoạch nhằm phát triển khu, cụm công nghiệp nhằm di chuyển các cơ sở sản xuất, kinh doanh nhỏ, quy mô hộ gia đình từ khu dân cư  ra các khu vực này.
6. Vấn đề 6: Xử lý vi phạm pháp luật bảo vệ môi trường
 

17

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Tạm thời đình chỉ hoạt động hoặc cấm hoạt động khi có hành vi vi phạm pháp luật môi trường (gây ô nhiễm môi trường) Điều 49 khoản 1, khoản  2  Luật BVMT, Nghị Định 117/2009/NĐ-CP ngày 31/12/2009 về xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực bảo vệ môi trường, Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính, Luật doanh nghiệp 2005 Tính minh bạch Điều 49 khoản 1 điểm b Luật BVMT quy định tạm thời đình chỉ hoạt động khi có hành vi gây ô nhiễm môi trường và Điều 49 khoản 2 điểm c Luật BVMT quy định cấm hoạt động đối với trường hợp gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng.Thuật ngữ  “hoạt động” trong cụm từ “tạm thời đình chỉ hoạt động” và “cấm hoạt động” có thể được hiểu khác nhau:

  1. Có thể hiểu “hoạt động” là những hành vi xả thải gây ô nhiễm môi trường và do đó tạm thời đình chỉ hoặc cấm hoạt động là tạm thời đình chỉ hoặc cấm thực hiện hành vi xả thải.

Tuy nhiên, với việc liệt kê các hình thức xử lý theo quy định tại Điều 49 khoản 1 và khoản 2 Luật BVMT, có thể hiểu hình thức xử lý “tạm thời đình chỉ hoạt động” và “cấm hoạt động” tồn tại độc lập với hình thức xử lý vi phạm hành chính. Trong khí đó, các quy định về xử lý vi phạm hành chính (Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính, Nghị định117/2009/NĐ-CP ngày 31/12/2009) cũng chứa đựng hình thức xử phạt bổ sung “buộc chấm dứt hoạt động trái phép”, “tạm thời đình chỉ hoạt động”, “cấm hoạt động”  (Điều 3 khoản 2 điểm h, Điều 4 khoản 1, khoản 3 Nghị định 117/2009/NĐ-CP ngày 31/12/2009 và các điều khoản cụ thể trong nghị định này). Nếu hiểu theo cách này, thuật ngữ “hoạt động” theo Điều 49 khoản 1 điểm b và khoản 2 điểm c Luật BVMT không phải là “hoạt động” theo các quy định về xử lý vi phạm hành chính. Trong khi đó, những hành vi bị xử lý vi phạm hành chính và bị áp dụng hình thức xử lý bổ sung được quy định cụ thể trong các điều khoản tại Nghị định 117/2009/NĐ-CP ngày 31/12/2009 chủ yếu là những hành vi xả thải và liên quan đến thu hồi hoặc tạm thu hồi (tước quyền sử dụng) giấy phép trong lĩnh vực môi trường. Do đó, “hoạt động” được quy định tại Điều 49 khoản 1,2 Luật BVMT không được hiểu là hành vi xả thải.

  1. Có thể hiểu “hoạt động” theo Điều 49 khoản 1 và khoản 2 Luật BVMT là hoạt động kinh doanh và do đó tạm thời đình chỉ hoặc cấm hoạt động là tạm thời đình chỉ hoặc cấm thực hiện hành vi kinh doanh. Theo cách hiểu này, nếu muốn tạm thời đình chỉ hành kinh doanh hoặc cấm thực hiện hành vi kinh doanh thì phải tạm thời thu hồi hoặc thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh theo Luật doanh nghiệp.Tuy nhiên, những trường hợp tạm ngừng kinh doanh theo quy định tại Điều 156 và thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh theo Điều 165 khoản 2 Luật doanh nghiệp không liệt kê trường hợp “gây ô nhiễm môi trường, gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng” hoặc “vi phạm hoặc vi phạm nghiêm trọng các quy định khác của pháp luật – hoặc pháp luật môi trường”. Nếu hiểu theo quan điểm này thì tồn tại sự mâu thuẫn giữa Luật BVMT và Luật doanh nghiệp. Bên cạnh đó, có những hoạt động của hành vi kinh doanh không ẩn chứa bất cứ nguy cơ nào đối với môi trường.

Do đó, với bất cứ cách hiểu nào thì cũng tạo nên sự không rõ ràng trong quá trình áp dụng quy định này.

Khuyến nghị: Với nhóm quy định này, có thể thực hiện một trong hai phương án sau đây:Phương án 1. Nếu theo nguyên lý chung, hành vi nào vi phạm pháp luật thì sẽ cấm hành vi đó để tránh những hậu quả tiếp tục xảy ra. Từ đây, biện pháp tạm đình chỉ hoặc cấm hoạt động nên được hiểu là tạm đình chỉ hoặc cấm hoạt động đối với hành vi gây ô nhiễm môi trường. Theo đó, cần sửa đổi Điều 49 theo hướng bỏ hình thức xử lý “tạm đình chỉ hoạt động”,  “cấm hoạt động” trong khoản 1 và khoản 2 và quy định cụ thể hơn tại  Nghị định 117/2009/NĐ-CP ngày 31/12/2009 theo hướng chỉ rõ hoạt động bị tạm đình chỉ hoặc bị cấm là hành vi vi phạm trong lĩnh vực pháp luật bảo vệ môi trường.Phương án 2.  Nếu coi tạm đình chỉ hoặc cấm hoạt động kinh doanh là hành vi xử lý độc lập với trách nhiệm hành chính và là một biện pháp răn đe cao đối với chủ thể có hành vi vi phạm pháp luật môi trường thì cần sửa đổi theo hướng sau: sửa đổi điều 49 Luật BVMT theo hướng chỉ rõ “hoạt động” được quy định là “hoạt động kinh doanh” và sửa đổi Điều 156 và Điều 165 Luật doanh nghiệp theo hướng thêm căn cứ tạm ngừng hoặc thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh trong trường hợp “vi phạm nghiêm trọng các quy định khác của pháp luật”
18    

 

 

 

Buộc lao động vệ sinh môi trường có thời hạn ở nơi công cộng Điều 52 khoản 3 điểm b Luật bảo vệ môi trường Tính thống nhất Các quy định về xử lý hành chính, kỷ luật, hình sự, bồi thường thiệt hại hiện hành không quy định về hình thức xử lý này. Vì vậy, quy định này không phù hợp với các quy định xử lý hành chính, kỷ luật, hình sự, bồi thường thiệt hại.
Tính hợp lý Quy định này buộc tổ chức, cá nhân phải lao động môi trường có thời hạn là không hợp lý cả đối với tổ chức và cá nhân.Trong trường hợp tổ chức (Doanh nghiệp chẳng hạn)có hành vi vi phạm thì ai trong tổ chức đó sẽ là người phải thực hiện lao động vệ sinh môi trường? bởi mục đích của quy định này nhằm giáo dục người có hành vi vi phạm. Trong trường hợp này, người muốn giáo dục là doanh nghiệp nhưng người được “giáo dục” trên thực tế lại là người lao động của doanh nghiệp.
Thiếu quy định Nếu cho rằng quy định này là cần thiết và tồn tại độc lập với các trách nhiệm hành chính, kỷ luật, hình sự, bồi thường thiệt thì cho tới thời điểm hiện nay chưa có quy định hướng dẫn để thực hiện quy định này.
Khuyến nghị: Sửa đổi Điều 52 Luật BVMT theo hướng bỏ điểm b khoản 3 Điều 52 Luật BVMT

 

B. NHẬN ĐỊNH CHUNG VỀ CÁC VƯỚNG MẮC ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP, MÔI TRƯỜNG KINH DOANH TRONG QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN LUẬT VÀ CÁC VĂN BẢN HƯỚNG DẪN THI HÀNH

I. VỀ MỤC TIÊU, HIỆU QUẢ CỦA LUẬT BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG VÀ CÁC VĂN BẢN QUY ĐỊNH CHI TIẾT THI HÀNH

Xuất phát từ đặc thù môi trường là một khái niệm rộng, đa dạng và cấu thành từ nhiều thành phần môi trường nên quan hệ pháp luật bảo vệ môi trường đa dạng về chủ thể tham gia quan hệ xã hội, về khách thể quan hệ pháp luật và về nội dung quan hệ pháp luật. Do đó, hệ thống pháp luật môi trường của Việt Nam chứa đựng nhiều quy phạm pháp luật thuộc các ngành luật khác nhau và nằm trong nhiều văn bản quy phạm pháp luật ở nhiều tầm hiệu lực pháp luật khác nhau từ Hiến pháp, Luật, Pháp lệnh đến các văn bản do Chính phủ, các bộ, ngành và chính quyền địa phương ban hành

Luật Bảo vệ môi trường năm 2005 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/07/2006) được coi là hạt nhân của hệ thống pháp luật môi trường, là nguồn cơ bản của pháp luật bảo vệ môi trường Việt Nam, quy định những nguyên tắc chung, biện pháp và cách thức bảo vệ môi trường. Các văn bản pháp luật chuyên ngành dựa trên các nguyên tắc pháp lý và những quy tắc chung đó để cụ thể hoá việc bảo vệ tài nguyên thiên nhiên như: đất, nước, rừng, biển, tài nguyên rừng, khoáng sản, động vật, thực vật, bầu khí quyển…

Mặc dù việc ban hành Luật Bảo vệ môi trường năm 2005 và các văn bản hướng dẫn là một bước tiến lớn trong quá trình hoàn thiện pháp luật về bảo vệ môi trường ở nước ta, đáp ứng các yêu cầu mới của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, tích cực, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế nhưng bản thân nó, do những nguyên nhân khác nhau, cũng còn chứa đựng những quy định bất cập, không phù hợp với thực tế đời sống xã hội, đôi khi còn chồng chéo, mâu thuẫn….

Những hạn chế cơ bản của Luật bảo vệ môi trường 2005 và các văn bản hướng dẫn thi hành có thể bao gồm:

  1. Chưa có tư tưởng chỉ đạo rõ ràng trong việc kết hợp một cách có hiệu quả giữa ba mặt của sự phát triển bền vững: kinh tế, xã hội và bảo vệ môi trường. Biểu hiện của nó là chưa xem xét thoả đáng nhằm bảo đảm sự cân bằng giữa lợi ích kinh tế, lợi ích xã hội, lợi ích môi trường trong các quy định về bảo vệ môi trường, chưa nhìn nhận rõ, chính xác mối quan hệ giữa những quy định về bảo vệ môi trường và vấn đề bảo đảm quyền tự do kinh doanh của doanh nghiệp.
  2. Tính ổn định không cao: Có những nhóm quy định liên tục bị sửa đổi, ví dụ như vấn đề hướng dẫn thực hiện đánh giá tác động môi trường được quy định và sửa đổi trong các năm 2006, 2008, 2010 với những quy định rất khác biệt.
  3. Mặc dù nhiều nội dung, tinh thần mới trong chính sách bảo vệ môi trường được đưa vào trong Luật bảo vệ môi trường nhưng chỉ dừng lại ở những quy định chung chung và do đó để triển khai các quy định này cần có quy định hướng dẫn, cụ thể hóa. Cho tới thời điểm này, còn nhiều quy định chưa được hướng dẫn thi hành nên các quy định này chưa đi vào cuộc sống.
  4. Sau gần 6 năm thi hành, Luật Bảo vệ môi trường 2005 đã bộc lộ một số điểm chưa phù hợp với thực tế. Nội dung của Luật bảo vệ môi trường có không ít những quy định không còn phù hợp, gây khó khăn, lúng túng trong việc áp dụng. Bên cạnh đó, tình trạng pháp luật chồng chéo, trùng lặp, thậm chí quy định khác nhau, không thống nhất trong cùng một vấn đề bảo vệ môi trường của các bộ, ngành, địa phương xẩy ra không ít cũng là nguyên nhân làm giảm hiệu quả trong công tác bảo vệ môi trường và phát triển kinh tế. Trong khi đó, do sự phát triển nhanh và đa dạng của nền kinh tế mở cửa và hội nhập, nhiều loại hình kinh doanh với hình thức, cấp độ và công nghệ khác nhau được triển khai tại Việt Nam, đòi hỏi phải có hệ thống pháp luật về môi trường phù hợp. Song trên thực tế các quy định pháp luật về môi trường hiện hành đã chưa đáp ứng và chưa theo kịp thực tiễn sinh động này.

1. Về bảo đảm quyền tự do kinh doanh:

Nhìn chung, Luật bảo vệ môi trường bảo đảm được quyền tự do kinh doanh của doanh nghiệp. Với tư cách là lĩnh vực pháp luật nhằm bảo đảm lợi ích môi trường của cộng đồng – lợi ích công cộng nên Luật bảo vệ môi trường trường không có cách nào khác phải hạn chế quyền tự do kinh doanh theo nghĩa tuyệt đối của nó nhằm bảo đảm phát triển bền vững.

– Tác động tích cực: Luật bảo vệ môi trường cũng có tác động tích cực tới môi trường và hoạt động kinh doanh khi quy định khuyến khích việc áp dụng các công nghệ sạch, các chu trình sản xuất chế biến phù hợp với yêu cầu của quốc gia nhập khẩu.

– Hạn chế, yếu kém: Có quy định chưa bảo đảm quyền tự do kinh doanh của doanh nghiệp theo quan điểm phát triển bền vững như Điều 42 khoản 2 Luật bảo vệ môi trường khi cấm nhập khẩu phương tiện giao thông vận tải để phá dỡ và quy định về danh mục các loại phế liệu được phép nhập khẩu tại Điều 43 Luật bảo vệ môi trường.

– Cho điểm: xét tổng thể, các quy định thì Luật bảo vệ môi trường đáp ứng ở mức khá quyền tự do kinh doanh của doanh nghiệp.

2. Về khuyến khích và bảo hộ đầu tư, kinh doanh

          Vì đặc thù của Luật bảo vệ môi trường là bảo đảm lợi ích môi trường nên vấn đề khuyến khích và bảo hộ đầu tư, kinh doanh được đề cập một cách kiêm tốn. Các chính sách khuyến khích và bảo hộ đầu tư, kinh doanh trong lĩnh vực bảo vệ môi trường được khuyến khích một cách thích đáng.

Lĩnh vực này được đánh giá rất tốt về chính sách và pháp luật cũng như triển khai trên thực tế, mặc dù chưa đáp ứng được yêu cầu đặt ra cho hoạt động bảo vệ môi trường. Nguyên nhân do nguồn lực tài chính còn hạn chế.

3. Về sự dễ dàng trong tiếp cận và khai thác các nguồn lực cho đầu tư, kinh doanh

Luật bảo vệ môi trường không quy định về lĩnh vực này. Nó phù hợp với mục đích của Luật bảo vệ môi trường

4. Về bảo đảm môi trường cạnh tranh bình đẳng

          Luật bảo vệ môi trường áp dụng cho mọi tổ chức và cá nhân. Do đó, nó bảo đảm rất tốt về môi trường cạnh tranh bình đẳng.

          Tuy nhiên, việc áp dụng pháp luật bảo vệ môi trường đối với các chủ thể khác nhau trên thực tế chưa bình đẳng, ví dụ như giữa doang nghiệp lớn và các cơ sở quy mô nhỏ và vừa, quy mô hộ gia đình, các làng nghề. Thực trạng này có thể tạo ra sự cạnh tranh không bình đẳng giữa các nhóm chủ thể này.

5. Về đáp ứng yêu cầu quản lý của Nhà nước

          Luật bảo vệ môi trường là cơ sở pháp lý để xây dựng hệ thống cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường nhằm đáp ứng nhu cầu bảo vệ môi trường của Nhà nước. Luật bảo vệ môi trường đã đáp ứng được yêu cầu quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường.

– Tác động tích cực: Trên cơ sở Luật bảo vệ môi trường, hệ thống cơ quan quả lý nhà nước từ trung ương đến địa phương đã được thành lập và thông qua hoạt động của cơ quan này, các quy định của pháp luật bảo vệ môi trường được thực hiện khá nghiêm túc và từ đó, mục tiêu bảo vệ môi trường đã đạt được những thành công nhất định.

          – Những hạn chế, yếu kém: Do Luật bảo vệ môi trường và các văn bản hướng dẫn còn tồn tại nhiều mâu thuẫn, cồng chéo, quy định chung chung nên hiệu quả áp dụng không cao. Chức năng, quyền hạn, nhiệm vụ của các cơ quan quản lý về bảo vệ môi trường còn chồng chéo, mâu thuẫn nên đã làm giảm hiệu quả của công tác quản lý nhà nước.

          – Cho điểm: Trung bình

6 Về yêu cầu cải cách hành chính, giảm thủ tục và chi phí

          Luật bảo vệ môi trường cũng đã chú trọng tới yêu cầu cải cách hành chính, giảm thủ tục và chi phí cho các chủ thể có liên quan

          – Những hạn chế, yếu kém: Một số thủ tục hành chính còn chưa thể hiện triệt để tư tưởng xã hội hóa công tác bảo vệ môi trường nên vẫn còn tạo ra những thủ tục không đáp ứng được yêu cầu cải cách hành chính như vấn đề thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường thông qua Tổ chức dịch vụ thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường. Bên cạch đó, có những thủ tục hành chính lại quá “đơn giản” dẫn đến không bảo đảm lợi ích môi trường như thủ tục lấy ý kiến của cộng đồng dân cư khi thực hiện đánh giá tác động môi trường.

          – Cho điểm: khá

7. Về mức độ hội nhập kinh tế quốc tế

          Luật bảo vệ môi trường đã đáp ứng tốt hội nhập kinh tế quốc tế

8. Về yêu cầu phát triển bền vững

          Nhìn chung, Luật Bảo vệ môi trường đã đáp ứng được yêu cầu phát triển bền vững.

          – Tác động tích cực: Luật bảo vệ môi trường 2005 đã đáp ứng tốt hơn yêu cầu phát triển bền vững so với Luật bảo vệ môi trường 1993. Nhiều vấn đề môi trường đã được giải quyết, mặc dù hiệu quả còn chưa đáp ứng được yêu cầu đặt ra.

          – Những hạn chế, yếu kém: Còn nhiều quy định chưa được triển khai áp dụng trên thực tế do nhiều nguyên nhân khác nhau như: Quyết tâm chính trị nhằm giải quyết vấn đề môi trường của các cấp, các ngành chưa cao, bản thân quy định của Luật bảo vệ môi trường còn nhiều mâu thuẫn, chồng chéo, có khoảng trống hoặc quy định chung chung nên khó áp dụng.

          – Cho điểm: Trung bình

II. ĐÁNH GIÁ THEO CÁC TIÊU CHÍ:

II.1. Về tính minh bạch

          Cách quy định của Luật Bảo vệ môi trường nhìn chung đã bảo đảm tính minh bạch

– Tác động tích cực: Các quy định của Luật Bảo vệ môi trường đã bảo đảm cho hoạt động quản lý của cơ quan nhà nước và sự tuân thủ của tổ chúc và cá nhân góp phần bảo vệ môi trường Việt nam

– Những hạn chế, yếu kém: Vẫn còn nhiều quy định chung chung làm cho hiệu quả áp dụng không cao như: điều kiện của phế liệu được phép nhập khẩu (tiêu chí “làm sạch”); mục 146 Phụ lục II Nghị Định 29/2011 quy định về chủ thể phải thực hiện đánh giá tác động môi trường phụ thuộc váo ý trí, quyết định của Bộ trưởng Bộ tài nguyên và môi trường; chức năng, nhiệm vụ của cơ quan quản lý nhà nước; quy định về phí bảo vệ môi trường; quy định về xử lý vi phạm pháp luật với hình thức “tạm đình chỉ hoạt động” hoặc “ cấm hoạt động”. Còn nhiều quy định cần tới quy định hướng dẫn mới thực thi được nhưng tới nay vẫn chưa có quy định.

– Cho điểm: Trung bình

  II.2. Tính thống nhất

          Đại bộ phận các quy định của pháp luật bảo vệ môi trường bảo đảm tính thống nhất trong nội bộ các quy định này và với các quy định khác của pháp luật.

– Những tác động tích cực: Các quy định của pháp luật môi trường có tác động tốt cho hoạt động bảo vệ môi trường.

          – Những hạn chế, yếu kém: Còn nhiều quy định chưa bảo đảm tính thống nhất như: vấn đề quy định chung về quy chuẩn kỹ thuật môi trường mâu thuẫn với quy định tại Điều 42, 43 Luật bảo vệ môi trường về quy chuẩn kỹ thuật môi trường; vấn đề về điều phế liệu được phép nhập khẩu mâu thuẫn với điều kiện chủ thể được phép nhập khẩu phế liệu; giữa các văn bản khác nhau quy định về các chủ thể khác nhau phải thực hiện đánh giá tác động hoặc phải cam kết bảo vệ môi trường; quy định về điều kiện lập báo cáo đánh giá tác động môi trường; quy định về thẩm quyền thanh tra, kiểm tra giữa các cơ quan quản lý nhà nước chồng chéo, quy định về phí bảo vệ môi trường đối với hoạt động khai thác khoáng sản trái với Luật bảo vệ môi trường.

          – Cho điểm: Trung bình

II.3. Tính hợp lý

          Việc xác định tính hợp lý của Luật bảo vệ môi trường là một vấn đề không hề đơn giản, phải dựa trên quan điểm phát triển bền vững. Trong khi đó các tiêu chí để đánh giá sự cân bằng giữa lợi ích kinh tế, lợi ích xã hội và lợi ích môi trường lại rất khác biệt. Ba lợi ích này không có tiêu chí chung để đánh giá. Nó phụ thuộc vào ý chí của Nhà nước. Những đánh giá sau đây chỉ dựa trên nguyên lý chung và là đánh giá riêng của tác giả.

          – Những tác động tích cực: Luật bảo vệ môi trường đã thể hiện được tính hợp lý khi dựa trên quan điểm phát triển bền vững và từ đó góp phần bảo vệ lợi ích môi trường của cộng đồng. Bước đầu đã góp phần bảo đảm quyền được sống trong môi trường trong lành của người dân.

– Những hạn chế, yếu kém: Luật bảo vệ môi trường vẫn chưa giải quyết thích đáng những vấn đề môi trường phát sinh và từ đó nhiều khu vực môi trường vẫn bị ô nhiễm, suy thoái nghiêm trọng, làm ảnh hưởng tới đời sống của người dân. Một số quy định không theo nguyên lý khoa học mà do những lý do khác nhau (như không quản lý được thì cấm, lợi ích ngành…) nên thiếu tính hợp lý. Ví dụ như quy định cấm nhập khẩu máy móc thiết bị giao thông vận tải để phá dỡ (Điều 42 khoản 2 Luật bảo vệ môi trường); quy định về điều kiện của chủ thể lập báo cáo đánh giá tác động môi trường; quy định về tuyển chọn tổ chức dịnh vụ thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường; quy định về phí bảo vệ môi trường đối với nước thải.

– Cho điểm: Trung bình

II.4. Tính khả thi

          Có thể thấy, tính khả thi của Luật Bảo vệ môi trường còn thấp. Nguyên nhân là do việc thi hành Luật bảo vệ môi trường tác động tới phát triển kinh tế, xã hội và do đó quyết tâm chính trị của các ngành, các cấp trong bảo vệ môi trường chưa cao. Bên cạch đó, bản thân Luật bảo vệ môi trường còn nhiều quy định chung chung nên khó áp dụng trên thực tế. Một nguyên nhân nữa là bản thân quy định không phù hợp với thực tế. Ví dụ như: Chưa phân hóa các loại quy chuẩn kỹ thuật môi trường về nước thải đối với những cơ sở sản xuất kinh doanh trong những ngành nghề, lĩnh vực khác nhau; quy định về trách nhiệm thực hiện cam kết bảo vệ môi trường đối với cơ sở sản xuất kinh doanh quy mô hộ gia đình, điều kiện của chủ dự án để có thể lập báo cáo đánh giá tác động môi trường; quy định về mọi chủ thể hoạt động sản xuất đều phải xử lý nước thải, khí thải đạt quy chuẩn kỹ thuật môi trường,

Cho điểm: Trung bình

Thực trạng này đòi hỏi việc Nhà nước phải nhanh chóng hoàn thiện hệ thống pháp luật môi trường nói chung và Luật bảo vệ môi trường 2005 và các văn bản hướng dẫn thi hành luật này nói riêng.

 

Phụ lục 1: Phân tích chung các quy định về ĐTM và các khuyến nghị có liên quan:

Nếu phân tích riêng và kiến nghị cho từng vấn đề thì có thể sẽ phát sinh những phản biện đa chiều và từ đó không đồng tình với các khuyến nghị được đề xuất trong báo cáo. Tuy nhiên, các vấn đề và khuyến nghị này phải đặt trong nội dung tổng thể của các quy định về ĐTM

Vấn đề 1. Liên quan đến điều kiện để có thể lập báo cáo ĐTM:

Cũng có thể có quan điểm cho rằng: Quy định về điều kiện của của dự án để có thể lập báo cáo ĐTM nhằm bảo đảm chất lượng của báo cáo – Trong trường hợp chủ dự án không thuê tổ chức dịch vụ lập báo cáo ĐTM.

Quan điểm này không có cơ sở vì:

– Pháp luật chỉ quy định về nghĩa vụ của chủ thể mà không (không cần thiết) quy định phương thức thực hiện nghĩa vụ đó như thế nào

– Việc lập báo cáo ĐTM là một nghĩa vụ của chủ dự án chứ không phải là một lĩnh vực kinh doanh của chủ dự án và do đó không thể quy định về “điều kiện kinh doanh” cho chủ dự án như là Tổ chức dịch vụ lập báo cáo ĐTM – là một chủ thể kinh doanh lĩnh vực này

– Trong trường hợp chất lượng của báo cáo ĐTM không bảo đảm, cơ quan có thẩm quyền thẩm định có quyền không phê duyệt Báo cáo ĐTM và hậu quả là chủ dự án (nếu muốn tiếp tục triển khai dự án) phải lập lại Báo cáo ĐTM, cho tới khi Báo cáo ĐTM đạt chất lượng, yêu cầu của pháp luật và được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt.

Vấn đề 2. Tổ chức dịch vụ thẩm định Báo cáo ĐTM

Có quan điểm cho rằng, tổ chức dịch vụ báo cáo ĐTM là tổ chức tư vấn cho cơ quan có thẩm quyền phê duyệt báo cáo ĐTM và “làm thuê” cho cơ quan này. Do đó, mọi vấn đề sẽ do cơ quan có thẩm quyền thẩm định báo cáo ĐTM quyết định. Về lý luận, quan điểm này đúng nhưng chưa toàn diện vì:

  1. Sẽ không có doang nghiệp – tổ chức dịch vụ nào thành lập mà chỉ trông chờ vào công việc mang tính “thời vụ” được giao từ phía cơ quan nhà nước, nếu không phải là “sân sau” của các cơ quan này.
  2. Trình tự thực hiện không theo xu hướng đơn giản hoá thủ tục hành chính vì mọi thủ tục đều phải thông qua cơ quan có thẩm quyền phê duyệt Báo cáo đánh giá tác động môi trường.
  3. Sự lo lắng về chất lượng thẩm định của Tổ chức dịch vụ thẩm định là không cần thiết vì bản thân doanh nghiệp (Tổ chức dịch vụ thẩm định) cũng phải quan tâm tới chất lượng thẩm định. Trong trường hợp chất lượng thẩm định không đảm bảo (kết luận thẩm định không được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt báo cáo chấp thuận) sẽ ảnh hưởng tới uy tín và từ đó là thu nhập của doanh nghiệp (Tổ chức dịch vụ thẩm định).
  4. Mô hình dịch vụ thẩm định báo cáo ĐTM là một mô hình nhằm thực hiện chủ trương xã hội hoá công tác bảo vệ môi trường. Do đó, cần thực hiện triệt để, tránh việc thực hiện “nửa vời” (như quy định hiện hành).

Khuyến nghị về trình tự thẩm định báo cáo ĐTM thông qua hình thức Tổ chức dịch vụ thẩm định báo cáo ĐTM sẽ giảm được chi phí hành chính của cơ quan nhà nước, của chủ dự án. Chất lượng của hoạt động thẩm định thông qua Tổ chức dịch vụ thẩm định cũng sẽ được bảo đảm thông qua khuyến nghị về trách nhiệm của Tổ chức dịch vụ thẩm định đối với kết luận thẩm định. Bên cạnh đó, quyết định phê duyệt hay không phê duyệt báo cáo ĐTM vẫn thuộc thẩm quyền “tối cao” của cơ quan có thẩm quyền phê duyệt Báo cáo ĐTM.

 

Phụ lục 2. Một số vấn đề bất cập cần xem xét hoàn thiện (nhưng không liên quan trực tiếp đến doanh nghiệp – Mục đích của hoạt động rà soát)

Vấn đề 1. Cơ chế giám sát của cộng đồng:

1. Các thủ tục lập, thẩm định, phê duyệt và đảm bảo thực thi báo cáo ĐTM trên thực tế quy định tương đối chặt chẽ việc đảm bảo cho cộng đồng dân cư quyền được tham gia ý kiến, quyền được lắng nghe ý kiến, đặc biệt, các ý kiến về không đồng ý triển khai dự án hoặc không đồng ý về các biện pháp bảo vệ môi trường phải được nêu rõ trong các báo cáo ĐTM trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền thẩm định, phê duyệt. Về mặt pháp lý, có thể nói các quy định về thủ tục nhằm đảm bảo sự tham gia của cộng đồng vào quá trình lập, thẩm định và phê duyệt báo cáo ĐTM hiện nay tương đối chặt chẽ. Tuy nhiên, hoạt động lập báo cáo ĐTM là hoạt động có tính chuyên môn cao và với nhận thức của cộng đồng dân cư thì khó có thể đánh giá được hết các vấn đề chuyên môn của các báo cáo này. Các quy định hiện hành chỉ quy định các thủ tục, trình tự lấy ý kiến tham vấn cộng đồng, không có bất kỳ cơ chế nào để hỗ trợ về chuyên môn nhằm nâng cao nhận thức và khả năng của cộng đồng trong việc xem xét các nội dung của báo cáo ĐTM. Không được hỗ trợ về các vấn đề chuyên môn, cộng đồng dân cư có thể gặp khó khăn khi đưa ra ý kiến về các dự án triển khai tại địa bàn và trong nhiều trường hợp, các ý kiến được đưa ra không xác đáng hoặc cản trở các dự án đã có các phương án bảo vệ môi trường phù hợp.

2. Điều 15 khoản 1 Nghị định 29/2011/NĐ-CP quy định việc tổ chức lấy ý kiến của cộng đồng dân cư thông qua hoạt động đối thoại giữa chủ đầu tư và đại diện cộng đồng dân cư, các tổ chức bị ảnh hưởng trực tiếp bởi dự án. Tuy nhiên, hoạt động đối thoại này có được tổ chức hay không phụ thuộc vào việc nhìn nhận “tính cần thiết hay không” của UBND cấp xã

3. Bên cạnh đó, “tổ chức chịu tác động trực tiếp của dự án” được quy định tại Điều 14 khoản 1 điểm b Nghị định 29/2011/NĐ-CP ngày 18/4/2011 quy định về đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường, cam kết bảo vệ môi trường là không rõ ràng, minh bạch và từ đây có thể gây khó khăn cho chủ dự án khi khi thực hiện nghĩa vụ tham vấn theo quy định tại Điều 15 của nghị định này.

4. Có thể thấy rằng, ở đâu đó hiện nay xuất hiện tình trạng “doanh nghiệp thì cố tình vi phạm, chính quyền thì vô cảm và đoàn thể thì thờ ơ” trước tình trạng bức xúc của người dân về vấn đề môi trường. Nếu chỉ sử dụng những công cụ pháp lý được nêu trên đây thì người dân, cộng đồng dân cư khó có thể thực hiện được Quyền được sống trong môi trường trong lành.

Do đó đã xuất hiện những xung đột giữa người dân và doanh nghiệp. Có những trường hợp, do không còn biện pháp nào khác, người dân, cộng đồng đã có những hành vi vi phạm pháp luật hiện hành.

Cũng cần thấy rằng, có những yêu cầu của người dân là hợp lý và hợp pháp và do không được giải quyết nên đã có những phản ứng nhất định. Tuy nhiên, cũng từ đó, người dân và cộng đồng dân cư đạt được mục đích của mình thông qua việc doanh nghiệp phải thay đổi hành vi của mình trước sức ép của cộng đồng dân cư.

Bên cạnh đó, cũng có những phản ứng của người dân là vô lý và không hợp pháp và từ đó cản trở hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp, xâm hại tới quyền và lợi ích chính đáng của doanh nghiệp.

Do đó, cần có những quy định để giải quyết tình trạng này.

Khuyến nghị:

1. Cần có cơ chế đảm bảo sự tham gia của cộng đồng địa phương vào quá trình lập, thẩm định và giám sát thực hiện các báo cáo ĐTM  thông qua việc nâng cao năng lực của cộng đồng về các vấn đề môi trường và yêu cầu đối với báo cáo ĐTM.

2. Cần xây dựng quy định hướng dẫn về thông tin môi trường nhằm tăng cường năng lực cộng đồng trong hoạt động bảo vệ môi trường, trong đó phải giải quyết những vấn đề: người dân (cộng đồng dân cư) có quyền chủ động yêu cầu các chủ thể cung cấp thông tin môi trường không? Phạm vi thông tin mà người dân (cộng đồng) có quyền yêu cầu, nghĩa vụ của người dân (cộng đồng) khi yêu cầu cung cấp thông tin, trách nhiệm của những chủ thể có liên quan khi không thực hiện yêu cầu cung cấp thông tin về môi trường của người dân (cộng đồng)

3. Cần có quy định giải thích, hướng dẫn về tham vấn ý kiến của chủ dự án đối với “tổ chức chịu tác động trực tiếp của dự án” và “những trường hợp cần thiết” UBND cấp xã phải tổ chức đối thoại giữa chủ dự án và cộng đồng dân cư.

4. Có thể xem xét để ban hành các quy định về những hình thức phản ứng của cộng đồng như tuyên truyền vận động không sử dụng sản phẩm của doanh nghiệp gây ô nhiễm môi trường, tuyên truyền, phản đối trong hoà bình những hành vi vi phạm nghiêm trọng với mục đích làm suy giảm hình ảnh, uy tín của doanh nghiệp trước công chúng và đối tác…. Cần xem những hành vi này là biện pháp cuối cùng (sau khi đã thực hiện đầy đủ trình tự, thủ tục khiếu nại, tố cáo) của cộng đồng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình nếu xảy ra tình trạng “doanh nghiệp thì cố tình vi phạm, chính quyền thì vô cảm và đoàn thể thì thờ ơ”.

Vấn đề 2. Chủ thể phải thực hiện cam kết bảo vệ môi trường theo quy định tại Điều 24 Luật BVMT

Theo Điều 24 Luật BVMT, các chủ thể không thuộc Điều 14 Luật BVMT phải thực hiện cam kết bảo vệ môi trường. Quy định này là bất hợp lý, không logic và không khả thi, vì:

  1. Các chủ thể không thuộc Điều 14 là các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch nên không thể thực hiện được những nội dung được quy định tại Điều 25 Luật BVMT và các quy định hướng dẫn về nội dung cam kết BVMT tại Nghị định 29/2011/NĐ-CP ngày 18/4/2011 quy định về đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường, cam kết bảo vệ môi trường.
  2. Các chủ thể có trách nhiệm lập chiến lược, quy hoạch, kế hoạch không thuộc Điều 14 Luật BVMT là các cơ quan nhà nước từ trung ương đến địa phương (các Bộ, cơ quan ngang bộ thuộc Chính phủ, UBND cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã). Vấn đề đặt ra là nếu có lập được Bản cam kết BVMT (với vấn đề nội dung đã nêu ở trên) thì các cơ quan này sẽ nộp Bản cam kết BVMT cho UBND cấp huyện cụ thể nào theo Điều 26 Luật BVMT.
  3. Theo những quy định về lập, thẩm định phê duyệt chiến lược, quy hoạch, kế hoạch thì một trong những nội dung bắt buộc của chiến lược, quy hoạch, kế hoạch là giải quyết các vấn đề về môi trường và bảo vệ môi trường.

 

Khuyến nghị: Chủ thể không thuộc Điều 14 Luật BVMT không phải thực hiện cam kết bảo vệ môi trường, cụ thể: Bỏ cụm từ “Điều 14 và” trong Điều 24 Luật BVMT.

Vấn đề 3. Ký quỹ cải tạo, phục hồi môi trường đối với hoạt động khai thác tài nguyên

Luật bảo vệ môi trường 2005 ra đời đã mở rộng thêm phạm vi áp dụng việc kỹ quỹ cải tạo, phục hồi môi trường trong hoạt động khai thác tài nguyên (Điều 114 Luật BVMT). Theo quy định này, việc áp dụng biện pháp kỹ quỹ cải tạo, phục hồi môi trường đối với các tổ chức, cá nhân có hoạt động khai thác các loại tài nguyên thiên nhiên. Tuy nhiên, cho đến nay, pháp luật mới chỉ quy định về kỹ quỹ cải tạo, phục hồi môi trường đối với hoạt động khai thác khoáng sản mà chưa ban hành các quy định cụ thể về tiêu chí, cơ sở xác định mức ký quỹ cải tạo, phục hồi môi trường đối với hoạt động khai thác các tài nguyên khác nên chưa thể triển khai trên thực tế.

Khuyến nghị: sớm ban hành văn bản pháp luật hướng dẫn Điều 114 Luật BVMT nhằm đảm bảo hiệu quả sử dụng công cụ kinh tế trong quản lý môi trường.

Vấn đề 4: Đối tượng phải lập báo cáo đánh giá môi trường chiến lược

Điều 9 khoản 7 Luật Đa dạng sinh học năm 2008 quy định: Đánh giá môi trường chiến lược dự án quy hoạch tổng thể bảo tồn đa dạng sinh học”

Tuy nhiên, Điều 14 Luật Bảo vệ môi trường không đề cập hay quy định đối tượng phải đánh giá môi trường bao gồm cả chiến lược dự án quy hoạch tổng thể bảo tồn đa dạng sinh học.

Do đó, Điều 14 Luật Bảo vệ môi trường không thống nhất với Điều 9 khoản 7 Luật Đa dạng sinh học.

Khuyến nghị: Cần bổ sung dự án quy hoạch tổng thể bảo tồn đa dạng sinh học vào đối tượng phải lập báo cáo đánh giá môi trường chiến lược được quy định tại Điều 14 của Luật Bảo vệ môi trường

 

Post a comment or leave a trackback: Trackback URL.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: