Báo cáo thường niên năm 2011

CÁC CƠ SỞ PHÁP LÝ CỦA BẦU CỬ QUỐC HỘI KHÓA XIII

                               ThS. Bùi Đức Hiển

1. Khái quát chung về cơ sở pháp lý của bầu cử Quốc hội

Việc trang trọng ghi nhận quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân có ý nghĩa hết sức quan trọng, nhưng quan trọng hơn là phải có những đảm bảo và cơ chế hữu hiệu để nhân dân có thể tham gia thực hiện quyền lực của mình trên thực tế. Một trong những kênh quan trọng để nhân dân có thể thực hiện quyền lực của mình (quyền lực nhà nước) là thông qua thực hiện quyền bầu cử và ứng cử. Quyền bầu cử, ứng cử là một trong những tiêu chí đánh giá mức độ dân chủ của mỗi quốc gia. Thông qua chế độ bầu cử, ứng cử ở mỗi nước có thể xác định được quyền dân chủ của các công dân trong xã hội đó được thực hiện như thế nào, công dân có được tự do thể hiện ý chí của mình trong việc lựa chọn ra người xứng đáng đại diện cho họ không, họ có được tự do ứng cử vào các cơ quan nhà nước không[1]. Thông qua bẩu cử, ứng cử nhân dân có thực là người chủ đích thực của quyền lực nhà nước không… Có thể nói bầu cử, ứng cử trong thực hiện quyền lực nhà nước, đó cũng chính là quá trình nhân dân thực hiện quyền lực của mình, trước hết là việc thành lập ra cơ quan quyền lực nhà nước (Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp).  Để làm được điều này pháp luật về bầu cử nói chung, bầu cử đại biểu quốc hội nói riêng đóng vai trò quan trọng.

Vậy cơ sở pháp lý của hoạt động bầu cử là gì? Có quan điểm cho rằng đó chỉ gồm các quy phạm pháp luật pháp luật do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ban hành quy định về hoạt động bầu cử. Ví dụ Hiến pháp, Luật Bầu cử Đại biểu Quốc hội… Quan điểm khác lại cho rằng cơ sở pháp lý của hoạt động bầu cử bao gồm tất cả các văn bản điều chỉnh các vấn đề liên quan đến bầu cử. Ví dụ: ngoài các văn bản pháp luật về bầu cử các văn bản khác do  cơ quan có thẩm quyền ban hành, như các Hướng dẫn, Chỉ thị của Đảng, các Hướng dẫn, Chỉ thị của Hội đồng bầu cử quy định liên quan đến quá trình bầu cử từ chuẩn bị bầu cử, tiến hành bầu cử đến kết thúc bầu cử đều là cơ sở pháp lý của hoạt động bầu cử. Chúng tôi cho rằng để xác định được cơ sở pháp lý của hoạt động bầu cử, cần xác định được bản chất của hoạt động bầu cử là một hoạt động mang tính chính trị – pháp lý. Hơn nữa các văn bản do các chủ thể như Bộ chính trị, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Mặt trận Tổ quốc hay Hội đồng bầu cử ban hành về nguyên tắc đều mang tính chỉ đạo, đôn đốc, hướng dẫn thực hiện bầu cử và nó có giá trị bắt buộc đối với các cá nhân, tổ chức, cơ quan tham gia tổ chức, thực hiện hoạt động bầu cử. Do vậy chúng tôi đồng ý với quan điểm cho rằng cơ sở pháp lý của hoạt động bầu cử không chỉ là các văn bản pháp luật mà còn bao hàm các văn bản của Đảng, văn bản của Mặt trận Tổ quốc, Hội đồng bầu cử… quy định liên quan đến quá trình tổ chức và thực hiện hoạt động bầu cử. Đồng thời với cách hiểu này chúng tôi cho rằng cơ sở pháp lý của hoạt động bầu cử đại biểu quốc hội không chỉ là các quy định liên quan đến hoạt động bầu cử mà nó còn bao hàm các quy định về vị trí vai trò của cơ quan dân cử, nguồn gốc của quyền lực nhà nước,…

Phân loại các văn bản làm cơ sở cho hoạt động bầu cử Quốc hội

Căn cứ vào chủ thể ban hành các văn bản quy định về bầu cử, gồm:

– Các văn bản pháp luật do cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền ban hành;

– Văn bản do Đảng ban hành;

– Văn bản do Mặt trận tổ quốc ban hành;

– Văn bản do Hội đồng bầu cử ban hành;

 Căn cứ vào nội dung điều chỉnh của các văn bản quy định về bầu cử, gồm:

– Các văn bản quy định về hoạt động chuẩn bị bầu cử;

– Các văn bản quy định về trình tự, thủ tục tiến hành bầu cử,…

– Các văn bản quy định về tuyên truyền tổ chức bầu cử,…

Căn cứ vào tên gọi của văn bản quy định về bầu cử, gồm:

– Các quy định về bầu cử trong Hiến pháp;

– Các quy định về bầu cử trong các văn bản Luật và dưới Luât;

– Các văn bản quy định về bầu cử trong Nghị quyết, Chỉ thị, Hướng dẫn,…

Tùy theo mục đích, phạm vi sử dụng, nghiên cứu mà quan niệm về cơ sở pháp lý của hoạt động bầu cử cũng khác nhau, cách phân loại các cơ sở pháp lý của hoạt động bầu của cũng khác nhau…trong bài viết này chúng tôi quan niệm về cơ sở pháp lý của bầu cử theo nghĩa rộng. Tuy nhiên, dù cách phân loại khác nhau, nhưng chúng đều điều chỉnh tổ chức, trình tự, thủ tục, bầu cử, ứng cử, thành phần tham gia bầu cử, ứng cử, hiệp thương, kiểm phiếu và các vấn đề liên quan đến hoạt động bầu cử, góp phần tổ chức một cuộc bầu cử đại biểu quốc hội thành công; giúp nhân dân lựa chọn được những người vừa hồng, vừa chuyên phục vụ nhân dân, thể hiện đúng và rõ nhất bản chất quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân.

2. Các văn bản điều chỉnh hoạt động bầu cử đại biểu quốc hội khóa XIII

          Với quan niệm cở sở pháp lý của hoạt động bầu cử theo nghĩa rộng như trên (tức cơ sở pháp lý của hoạt động bầu cử không chỉ là các văn bản pháp lý mà bao hàm tất cả các văn bản liên quan đến quá trình bầu cử của các cơ quan, chủ thể có thể có thẩm quyền ban hành). Do vậy chúng tôi cho rằng cơ sở pháp lý của bầu cử quốc hội khóa XIII gồm các loaih văn bản sau:

2.1. Các văn bản của Đảng Cộng sản Việt Nam về hướng dẫn, chỉ đạo tổ chức thực hiện bầu cử Quốc hội khóa XIII

       – Hướng dẫn số 01-HD/BTGTW ngày 25 tháng 2 năm 2011 của Ban Tuyên giáo Trung ương về tuyên truyền cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khoá XIII và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2011-2016;

          – Chỉ thị số 50-CT/TW ngày 5 tháng 01 năm 2011 của Bộ Chính trị về lãnh đạo cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khoá XIII và bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2011-2016; 

2.2. Các văn bản pháp luật về bầu cử đại biểu Quốc hội

Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 sửa đổi, bổ sung năm 2001;

– Luật Bầu cử Đại biểu Quốc hội năm 1997, được sửa đổi, bổ sung theo Luật số 31/2001/QH10 ngày 25 tháng 11 năm 2001 của Quốc hội khóa X, Kỳ họp thứ 10 và Luật số 63/2010/QH12 ngày 6 tháng 12 năm 2010 của Quốc hội khóa XII. 

Luật Tổ chức Quốc hội.  Luật này đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa X, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 25 tháng 12 năm 2001. 

       – Nghị quyết số 1045/NQ-UBTVQH12 ngày 9 tháng 3 năm 2011 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về số đơn vị bầu cử, số ĐBQH được bầu, danh sách các đơn vị bầu cử và số ĐBQH được bầu ở mỗi đơn vị bầu cử của các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương;

       – Nghị quyết số 351/NQ-HĐBC ngày 26 tháng 4 năm 2011 của Hội đồng Bầu cử công bố danh sách những người ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XIII theo từng đơn vị bầu cử trong cả nước;

       – Thông tư số 14/2011/TT-BTC ngày 08 tháng 02 năm 2011 của Bộ Tài chính về quy định việc lập dự toán, quản lý, sử dụng và quyết toán kinh phí bầu cử ĐBQH khóa XIII và bầu cử đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2011-2016 kinh phí bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XIII và bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2011-2016 như sau: Bộ Tài chính quy định việc lập dự toán, quản lý, sử dụng và quyết toán

2.3. Các văn bản quy định về kế hoạch, hướng dẫn về tổ chức và tiến trình thực hiện bầu cử Quốc hội khóa XIII

       – Kế hoạch số 661/KH-BTTTT ngày 11-3-2011 của Bộ Thông tin và Truyền thông về công tác thông tin, tuyên truyền cuộc bầu cử ĐBQH khoá XIII và bầu cử đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2011-2016

       – Hướng dẫn số 31/HD-HĐBC ngày 28 tháng 2 năm 2011 của Hội đồng bầu cử về việc khai hồ sơ ứng cử ĐBQH khoá XIII và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2011-2016;

       – Hướng dẫn số 1327/HD-BNV ngày 19 tháng 4 năm 2011 của Bộ Nội vụ hướng dẫn trình tự bỏ phiếu, nội quy, trang trí phòng bỏ phiếu bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2011-2016 

       – Văn bản số 02/HĐBC ngày 24 tháng 01 năm 2011 của Hội đồng bầu cử về việc phân công công việc của các thành viên Hội đồng bầu cử;

            – Công văn số 1269/MTTW-BTT ngày 04-4-2011 của Mặt trận Tổ quốc VN v/v chuẩn bị hội nghị hiệp thương lần thứ ba bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu HĐND 

            – Thông tri số 14/TTr-MTTW-BTT ngày 25 tháng 2 năm 2011 của Uỷ ban Trung ương MTTQ Việt Nam v/v MTTQ Việt Nam giám sát bầu cử ĐBQH khóa XIII và bầu cử đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2011-2016

            – Hướng dẫn số 1209/MTTW-BTT ngày 10 tháng 3 năm 2011 của Ban Thường trực Uỷ ban Trung ương MTTQ Việt Nam về tổ chức hội nghị cử tri giới thiệu người ứng cử đại biểu HĐND cấp xã ở thôn, tổ dân phố 

2.4. Các biểu mẫu phục vụ bầu cử Quốc hội khóa XIII

      Các biểu mẫu do Hội đồng bầu cử ban hành

            – Các biểu mẫu phục vụ công tác bầu cử đại biểu Quốc hội do Hội đồng bầu cử ban hành 

            – Các biểu mẫu phục vụ công tác bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân do Hội đồng bầu cử ban hành

      Các biểu mẫu phục vụ bầu cử do Mặt trận Tổ quốc Việt Nam ban hành

            – Các biểu mẫu phục vụ công tác hiệp thương bầu cử ĐB HĐND do Mặt trận Tổ quốc Việt Nam ban hành

Các biểu mẫu phục vụ công tác hiệp thương bầu cử ĐBQH do Mặt trận Tổ quốc Việt Nam ban hành

Qua liệt kê trên chúng ta thấy các văn bản quy định về bầu cử Quốc hội nói chung, bầu cử Quốc hội khóa XIII đa dạng về chủ thể ban hành, phong phú về loại văn bản và nội dung điều chỉnh. Các văn bản là những cơ sở pháp lý quan trọng cho thành công của bầu cử Quốc hội khóa XIII.

3. Nội dung các quy định pháp luật về bầu cử Quốc hội và bầu cử Quốc hội khóa XIII

     3.1. Quy định về nguồn gốc quyền lực nhà nước, bầu cử đại biểu Quốc hội trong Hiến pháp

Điều 2, Hiến pháp năm 1992 quy định Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức. Nhân dân sử dụng quyền lực Nhà nước thông qua Quốc hội và Hội đồng nhân dân. (Điều 6, Hiến pháp năm 1992). Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân và là cơ quan quyền lực cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (Điều 83 Hiến pháp 1992), đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân, do nhân dân bầu ra và chịu trách nhiệm trước nhân dân. Qua đó có thể thấy ở nước ta tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân[2], và nhân dân sử dụng quyền lực của mình thông qua Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp. Quốc hội được nhân dân bầu ra là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, có nhiều chức năng lập hiến, lập pháp; thay mặt nhân dân quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước về kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng của đất nước; thành lập ra bộ máy nhà nước như các cơ quan hành pháp, tư pháp và bầu ra các chức danh chủ chốt của các cơ quan này;…  

Về chủ thể được tham gia bầu cử và ứng cử, Hiến pháp cũng chỉ rõ công dân, không phân biệt dân tộc, nam nữ, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo, trình độ văn hoá, nghề nghiệp, thời hạn cư trú, đủ mười tám tuổi trở lên đều có quyền bầu cử và đủ hai mươi mốt tuổi trở lên đều có quyền ứng cử vào Quốc hội, Hội đồng nhân dân theo quy định của pháp luật (Điều 54).

Về nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội, được tiến hành theo nguyên tắc phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín.

3.2. Các quy định chung về bầu cử đại biểu quốc hội trong Luật Bầu cử Đại biểu Quốc hội

          Từ những nguyên tắc về bầu cử đại biểu quốc hội được Hiến pháp ghi nhận. Psháp luật về bầu cử đã cụ thể hóa các nguyên tắc này, quy định nhiều vấn đề về bầu cử đại biểu Quốc hội, như: tiêu chuẩn đại biểu quốc hội; nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan trong hoạt động bầu cử, như Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Mặt trận Tổ quốc,…; các quy định về số đại biểu quốc hội, đơn vị bầu cử, khu vực bỏ phiếu; các tổ chức phụ trách bầu cử đại biểu quốc hội, gồm: Hội đồng bầu cử ở Trung ương; Uỷ ban bầu cử ở tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; Ban bầu cử ở đơn vị bầu cử; Tổ bầu cử ở khu vực bỏ phiếu; quy định về danh sách cử tri; quy định về ứng cử và hiệp thương, giới thiệu người ứng cử đại biểu quốc hội; quy định về tuyên truyền, vận động bầu cử và quy định về trình tự bầu cử, thời gian bầu cử, thể thức bỏ phiếu, kiểm phiếu, kết quả bầu cử; quy định về việc bầu cử thêm, bầu cử lại; về tổng kết bầu cử, giải quyết khiếu nại về kết quả bầu cử; việc bầu cử bổ sung đại biểu quốc hội, xử lý vi phạm về bầu cử,…Các quy định này là cơ sở pháp lý quan trọng để có thể tiến hành bầu cử đại biểu quốc hội. Bên cạnh đó để chỉ đạo các công việc cụ thể liên quan đến bầu cử đại biểu quốc hội khóa XIII, các cơ quan liên quan cũng ban hành nhiều văn bản để tổ chức, hướng dẫn, thực hiện bầu cử.

       3.3. Quy định pháp luật về trình tự, thủ tục và các công việc phải làm trong bầu cử đại biểu quốc hội khóa XIII (nhiệm kỳ 2011 – 2016)

 STT

Nội dung các bước tiến hành công việc bầu cử ĐBQH

Thời gian
thực hiện

Thời hạn chậm nhất trước bầu cử (theo luật định)

1.     

UBTVQH ấn định và công bố ngày bầu cử, thành lập Hội đồng bầu cử ở Trung ương. (Điều 14)

120 ngày

21/1/2011

(18/12
âm lịch)

105 ngày

6/2/2011

(4/1 âm lịch)

Tổ chức Hội nghị toàn quốc triển khai công tác bầu cử đại biểu Quốc hội (10-11/02/2011, tức là ngày 8-9 Tết âm lịch)

2.     

UBTVQH dự kiến về cơ cấu thành phần, số lượng ĐBQH được bầu của cơ quan, tổ chức, đơn vị ở trung ương và ở địa phương. (Điều 9)

16/2/2011

(14/1 âm lịch)

95 ngày

 

3.     

UBND tỉnh, thành phố sau khi thống nhất với Thường trực HĐND và Ban Thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cùng cấp thành lập Ủy ban bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh để thực hiện công tác bầu cử ĐBQH và bầu cử đại biểu HĐND cấp tỉnh. (Điều 15)

16/2/2011

(14/1 âm lịch)

95 ngày

Các tỉnh, thành phố tổ chức Hội nghị triển khai công tác bầu cử
sau khi thành lập Ủy ban bầu cử ĐBQH và bầu cử đại biểu HĐND

4.     

Bước 1 Quy trình hiệp thương

Hội nghị hiệp thương lần thứ nhất ở trung ương thỏa thuận cơ cấu, thành phần, số lượng ĐBQH được bầu của cơ quan, tổ chức, đơn vị ở TƯ trên cơ sở dự kiến của UBTVQH do Đoàn Chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tổ chức. (Điều 30)

26/2/2011

(24/1 âm lịch)

85 ngày

5.     

Hội nghị hiệp thương lần thứ nhấtở cấp tỉnh thỏa thuận cơ cấu, thành phần, số lượng ĐBQH được bầu của cơ quan, tổ chức, đơn vị ở tỉnh, thành phố trực thuộc TW trên cơ sở dự kiến của UBTVQH do Ban Thường trực UB Trung ương Mặt trận Tổ quốc tỉnh, thành phố tổ chức tổ chức. (Điều 31)

 

26/2/2011

(24/1 âm lịch)

85 ngày

 

Ủy ban bầu cử ĐBQH, Hội đồng bầu cử báo cáo UBTVQH,
để điều chỉnh lần thứ nhất về cơ cấu, thành phần, số lượng đại biểu

6.     

Uỷ ban Thường vụ Quốc hội điều chỉnh lần thứ nhất về cơ cấu thành phần, số lượng đại biểu Quốc hội được bầu của cơ quan, tổ chức, đơn vị ở trung ương và ở địa phương. (Điều 32)

3/3/2011

 

80  ngày

Các tỉnh, thành phố căn cứ số lượng đại biểu Quốc hội được bầu, báo cáo UBTVQH, Hội đồng bầu cử
về số đơn vị bầu cử,  dự kiến các đơn vị và số đại biểu được bầu tại các đơn vị bầu cử

7.     

UBTVQH ấn định và công bố số đơn vị bầu cử, danh sách các đơn vị và số đại biểu của mỗi đơn vị được tính căn cứ theo số dân của các tỉnh, thành phố trực thuộc TƯ trên cả nước. (Điều 11)

13/3/2011

70 ngày

 

8.     

Bước 2 Quy trình hiệp thương

– Các cơ quan, tổ chức, đơn vị dự kiến người của cơ quan, tổ chức, đơn vị mình ra ứng cử ĐBQH, tổ chức lấy ý kiến nhận xét của hội nghị cử tri nơi người đó công tác.

– Trên cơ sở ý kiến hội nghị cử tri Ban lãnh đạo họp để thảo luận, giới thiệu người của cơ quan, tổ chức, đơn vị mình ứng cử ĐBQH.

– Cơ quan, tổ chức, đơn vị ở Trung ương giới thiệu người ứng cử ĐBQH chuyển biên bản hội nghị cử tri nơi công tác và biên bản hội nghị Ban lãnh đạo của cơ quan, tổ chức, đơn vị mình nhận xét về người được giới thiệu đến Ban Thường trực UBTWMTTQVN để ghi tên người được giới thiệu vào danh sách hiệp thương.

– Cơ quan, tổ chức, đơn vị ở địa phương giới thiệu người ứng cử ĐBQH chuyển biên bản Hội nghị cử tri nơi công tác và biên bản Hội nghị Ban lãnh đạo cơ quan, tổ chức, đơn vị mình nhận xét về người được giới thiệu vào danh sách hiệp thương.

(Điều 33,34,35)

 

4/3 – 16/3/2011

 

 

9.          

Thời hạn cuối cùng nộp hồ sơ của những người ứng cử và tự ứng cử đại biểu Quốc hội. (Điều 28)

17h 18/3/2011

65 ngày

 

10.          

Bước 3 quy trình hiệp thương

Hội nghị hiệp thương lần thứ hai ở trung ương do Đoàn Chủ tịch  Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tổ chức. Căn cứ vào tiêu chuẩn ĐBQH, cơ cấu, thành phần và số lượng ĐBQH được bầu của các cơ quan, tổ chức, đơn vị ở TƯ đã được UBTVQH điều chỉnh lần thứ nhất để lập danh sách sơ bộ những người ứng cử ĐBQH ở TƯ, gửi lấy ý kiến cử tri nơi cư trú. (Điều 37)

20/3/ – 23/3/2011

 

60 ngày

 

11.          

Hội nghị hiệp thương lần thứ hai ở cấp tỉnh căn cứ vào tiêu chuẩn ĐBQH, cơ cấu, thành phần và số lượng ĐBQH được bầu của các cơ quan, tổ chức, đơn vị ở địa phương đã được UBTVQH điều chỉnh lần thứ nhất để lập danh sách sơ bộ những người ứng cử ĐBQH ở tỉnh, thành phố trực thuộc TU, gửi lấy ý kiến cử tri nơi cư trú do Ban Thường trực UBTWMTTQVN tổ chức. (Điều 38)

20/3/ – 23/3/2011

 

 

60 ngày

 

12.          

UBND tỉnh, thành phố sau khi thống nhất với Thường trực Hội đồng nhân dân và Ban Thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cùng cấp thành lập ở mỗi đơn vị bầu cử một Ban bầu cử. (Điều 16)

23/3/2011

 

60 ngày

  

13.          

Bước 4 của Quy trình hiệp thương

Tổ chức lấy ý kiến nhận xét của cử tri nơi cư trú đối với những người ứng cử. Đối với người tự ứng cử, nếu chưa lấy ý kiến của cử tri nơi người đó làm việc (nếu có) thì trong bước này phải đồng thời lấy ý kiến của cử tri cả nơi làm việc (nếu có) và nơi cư trú. (Điều 39)

 

24/3 – 31/3/2011

 

 

14.          

UBTVQH căn cứ vào kết quả của hội nghị hiệp thương lần hai điều chỉnh lần thứ hai về cơ cấu thành phần, số lượng đại biểu Quốc hội được bầu của cơ quan, tổ chức, đơn vị ở trung ương và địa phương. (Điều 41)

 

2/4/2011

 

50  ngày

15.          

Tiến hành xong việc xác minh và trả lời về các vụ việc mà cử tri nêu lên đối với người ứng cử. (Điều 40)

12/4/2011

(10/3 âm lịch)

40 ngày

 

16.          

Bước 5 Quy trình hiệp thương

Hội nghị hiệp thương lần thứ ba ở trung ương do Đoàn Chủ tịch UBTWMTTQVN tổ chức thống nhất lập danh sách chính thức những người ứng cử ĐBQH ở Trung ương. (Điều 42)

 

13/4 – 17/4/2011

 

35 ngày

 

17.          

Hội nghị hiệp thương lần thứ ba ở cấp tỉnh, do Ban Thường trực ỦBMTTQ tỉnh, thành phố tổ chức để lập danh sách chính thức những người ứng cử ĐBQH ở tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. (Điều 43)

13/4 – 17/4/2011

 

35 ngày

18.          

Thành lập Tổ bầu cử đồng thời thực hiện nhiệm vụ phụ trách bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND. (Điều 17)

17/4/2011

35 ngày

19.          

Niêm yết danh sách cử tri bầu ĐBQH và bầu đại biểu HĐND các cấp. (Điều 25)

17/4/2011

35 ngày

 

20.          

Ban Thường trực Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam gửi biên bản hội nghị hiệp thương lần thứ ba và danh sách chính thức những người ứng cử ĐBQH được Đoàn Chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam giới thiệu ứng cử đến Hội đồng bầu cử. (Điều 44)

 

22/4/2011

 

30 ngày

 

21.          

Ban Thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương gửi biên bản hội nghị hiệp thương lần thứ ba và danh sách chính thức những người ứng cử ĐBQH được Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương giới thiệu người ứng cử đến Uỷ ban bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh. (Điều 45).

22/4/2011

30 ngày

Hội đồng bầu cử phân bổ Đại biểu Quốc hội do Trung ương giới thiệu về 63 tỉnh, thành phố;
các tỉnh, thành phố phân bổ về các đơn vị bầu cử và lập danh sách người ứng cử theo đơn vị bầu cử
của tỉnh, thành phố gửi về Hội đồng bầu cử

22.          

Hội đồng bầu cử lập và công bố danh sách những người ứng cử theo từng đơn vị bầu cử trong cả nước theo danh sách chính thức do Ban Thường trực Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và Uỷ ban bầu cử gửi đến. (Điều 46)

27/4/2011

25 ngày

23.          

Ban bầu cử niêm yết danh sách những người ứng cử ở địa phương mình theo danh sách của Hội đồng bầu cử. (Điều 47)

2/5/2011

20 ngày

 

Người có tên trong danh sách ứng cử Đại biểu Quốc hội, đại biểu HĐND thực hiện vận động bầu cử

24.          

Hội đồng bầu cử, Ủy ban bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu HĐND cấp tỉnh, Ban bầu cử ngưng việc xem xét, giải quyết mọi khiếu nại, tố cáo, kiến nghị về người ứng cử và việc lập danh sách người ứng cử. (Điều 49)

Tổ bầu cử thông báo cho cử tri biết ngày bầu cử, nơi bỏ phiếu, thời gian bỏ phiếu. (Điều 56)

12/5/2011

 

10 ngày

 

 

25.          

Thời gian tổ chức các cuộc tiếp xúc gặp gỡ giữa người ứng cử với cử tri.

từ 3/5-18/05/2011

 

NGÀY BẦU CỬ ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI TOÀN QUỐC

Chủ nhật 22 tháng 5 năm 2011

Thể thức bỏ phiếu: Từ 7h sáng đến 7h tối.

Tùy tình hình địa phương, Tổ bầu cử có thể quyết định thời gian bắt đầu và kết thúc bỏ phiếu.

Có thể sớm hơn nhưng không được trước 5h sáng hoặc kết thúc muộn  hơn nhưng không được quá 10h đêm.

STT

Nội dung các bước tiến hành công việc sau bầu cử ĐBQH

Thời gian
thực hiện

Thời hạn chậm nhất sau bầu cử(theo luật định)

1.       

Thời hạn cuối cùng để Tổ bầu cử nộp biên bản kết quả kiểm phiếu cho Ban bầu cử. (Điều 68)

25/5/2011

3 ngày

 

 

2.       

Thời hạn cuối cùng để Ban bầu cử nộp biên bản xác định kết quả bầu cử ở đơn vị bầu cử cho Ủy ban bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND cấp tỉnh. (Điều 69)

27/5/2011

5 ngày

3.       

Thời hạn cuối cùng để Ủy ban bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND cấp tỉnh nộp biên bản xác định kết quả bầu cử ở địa phương cho Hội đồng bầu cử. (Điều 75)

29/5/2011

7 ngày

4.     

Công bố kết quả bầu cử ĐBQH (Nếu không có bầu cử thêm, bầu cử lại). (Điều 77)

 

 

 

5       

Ở mỗi đơn vị bầu cử, nếu số cử tri đi bỏ phiếu chưa được quá nửa số cử tri ghi trong danh sách cử tri thì Ban bầu cử báo cáo cho Ủy ban bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND cấp tỉnh đề nghị Hội đồng bầu cử xem xét quyết định việc bầu cử lại ở đơn vị bầu cử đó. (Điều 72)

6/6/2011

15 ngày

 

6.   

Nếu số người trúng cử chưa đủ số đại biểu được bầu do UBTVQH ấn định  thì Ban bầu cử phải ghi rõ vào biên bản và báo cáo cho Ủy ban bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND cấp tỉnh để đề nghị Hội đồng bầu cử xem xét, quyết định ngày bầu cử thêm. (Điều 71)

11/6/2011

20 ngày

 

 

 

Qua đó chúng ta có thể khẳng định hoạt động bầu cử đại biểu Quốc hội nói chung, bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XIII nói riêng không phải được tiến hành tùy tiện mà nó dựa trên cơ sở pháp lý vững chắc. Đó là các quy định của Hiến pháp, của Luật Bầu cử đại biểu quốc hội, và các Nghị quyết, các Thông tư, Chỉ thị, Hướng dẫn của nhiều cơ quan nhà nước từ văn bản hướng dẫn của Đảng, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đến các văn bản hướng dẫn của Hội đồng bầu cử TW… Các quy định này đã làm nên thành công cho cuộc bầu cử Quốc hội khóa XIII.  

3.4. Các quy định về bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XIII trong các văn bản khác

Bên cạnh các cơ sở pháp lý là Hiến pháp, Luật Bầu cử Đại biểu Quốc hội do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành điều chỉnh hoạt động bầu cử đại biểu Quốc hội thì trong quá trình chuẩn bị, tiến hành thực hiện bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XIII, các cơ quan có thẩm quyền cũng ban hành nhiều văn bản nhằm hướng dẫn, chỉ đạo, đôn đốc thực hiện các hoạt động bầu cử đại biểu quốc hội. Các văn bản này đề cập đến nhiều vấn đề như: thứ nhất, về lãnh đạo cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khoá XIII và bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2011-2016, hướng dẫn về công tác tuyên truyền cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khoá XIII; thứ hai là các quy định về tiến trình bầu cử, như:công bố danh sách những người ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XIII theo từng đơn vị bầu cử trong cả nước của Hội đồng bầu cử; về số đơn vị bầu cử, số ĐBQH được bầu, danh sách các đơn vị bầu cử và số ĐBQH được bầu ở mỗi đơn vị bầu cử của các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương của Ủy ban thường vụ Quốc hội; về việc khai hồ sơ ứng cử ĐBQH khoá XIII và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2011-2016; về việc phân công công việc của các thành viên Hội đồng bầu cử; về tổ chức hội nghị cử tri giới thiệu người ứng cử đại biểu HĐND cấp xã ở thôn, tổ dân phố; về hướng dẫn trình tự bỏ phiếu, nội quy, trang trí phòng bỏ phiếu bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2011-2016; về công tác thông tin, tuyên truyền cuộc bầu cử ĐBQH khoá XIII và bầu cử đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2011-2016; thứ ba, quy định về vai trò giám sát bầu cử ĐBQH khóa XIII và bầu cử đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2011-2016 của MTTQ Việt Nam; thứ tư, các quy định về việc lập dự toán, quản lý, sử dụng và quyết toán kinh phí bầu cử ĐBQH khóa XIII và bầu cử đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2011-2016 kinh phí bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XIII và bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2011-2016, Bộ Tài chính quy định việc lập dự toán, quản lý, sử dụng và quyết toán;thứ năm, ban hành các biểu mẫu phục vụ công tác bầu cử đại biểu Quốc hội do Hội đồng bầu cử ban hành; các biểu mẫu phục vụ công tác hiệp thương bầu cử ĐB HĐND do Mặt trận Tổ quốc Việt Nam ban hành… Các nội dung quy định trong những văn bản trên là bộ phận quan trọng cấu thành những cơ sở pháp lý của bầu cử Quốc hội khóa XIII, bổ trợ hữu hiệu cho các quy định khái quát trong Hiến pháp và các văn bản pháp luật, góp phần quan trọng vào thành công của cuộc bầu cử Quốc hội khóa XIII.

4. Đánh giá về cơ sở pháp lý của bầu cử Quốc hội khóa XIII

          Thứ nhất, về mặt hình thức có thể khẳng định cơ sở pháp lý của bầu cử Quốc hội khóa XIII là tương đối hoàn chỉnh, không chỉ bao gồm các quy định trong Hiến pháp, Luật mà còn bao hàm các nghị quyết, hướng dẫn, chỉ thị, thông tư của các cơ quan liên quan trong quá trình tổ chức thực hiện bầu cử Quốc hội khóa XIII.

          – Thứ hai, về nội dung các văn bản này điều chỉnh toàn diện từ các vấn đề chung mang tính nguyên tắc đến các hoạt động cụ thể trong quá trình chuẩn bị cũng như tiến hành bầu cử đại biểu Quốc hội;

          – Thứ ba, các quy định pháp luật về bầu cử quốc hội và các văn bản hướng dẫn, chỉ đạo đôn đốc thực hiện các hoạt động liên quan đến bầu cử quốc hội khóa XIII tạo cơ sở cho hoạt động bầu cử được diễn ra đúng tiến độ  thời gian, đảm bảo việc bầu cử được khách quan, công khai, minh bạch góp phần quan trọng vào thành công rực rỡ của bầu cử đại biểu quốc hội khóa XIII ở nước ta.

          Bên cạnh đó, qua bầu cử đại biểu quốc hội khóa XIII cho thấy cơ sở pháp lý của hoạt động bầu cử Quốc hội nói chung, bầu cử Quốc hội khóa XIII nói riêng ở nước ta vẫn còn những tồn tại, hạn chế nhất định cần hoàn thiện, như:

Thứ nhất, về nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội, được tiến hành theo nguyên tắc phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy việc pháp luật chưa quy định nguyên tắc bầu cử tự do đã ảnh hưởng rất lớn đến quyền lợi của nhân dân trong việc tham gia bầu cử cũng như ứng cử;

          Thứ hai, việc pháp luật quy định cơ cấu đại biểu ở giác độ vĩ mô đảm bảo tính đại diện cao, nhưng thực tế tính đại diện cao không đồng nghĩa với chất lượng hoạt động của Quốc hội cũng cao, thậm chí nếu quá đề cao cơ cấu, tính đại diện có thể ảnh hưởng đến việc lựa chọn được những người xứng đáng thực sự phục vụ nhân dân, ở mức độ cao hơn nó còn ảnh hưởng đến quyền tự do lựa chọn và niềm tin của nhân dân vào kết quả bầu cử;

          Thứ ba, thực tiễn cho thấy nhiều trường hợp một người trong gia đình đi bỏ phiếu cho nhiều người,… Sở dĩ có vấn đề này do nhiều nguyên nhân, như: một là, các quy định pháp luật hiện hành về cơ cấu đại biểu, về hiệp thương, về tiếp xúc cử tri,… còn nhiều tồn tại; hai là, niềm tin của không ít người dân vào hoạt động bầu cử quốc hội, đặc biệt là tính khách quan của kết quả bầu cử đại biểu quốc hội không cao; ba là, nhân dân chưa nhận thấy lợi ích của mình thông qua hoạt động bầu cử, họ thấy bầu hay không bầu thì quyền lợi của mình cũng không có nhiều thay đổi; bốn là, sự hạn chế của hoạt động tiếp xúc cử tri cũng là một trong những nguyên nhân làm suy giảm niềm tìn của nhân dân vào hoạt động bầu cử, dẫn tới nhân dân không biết nên bỏ phiếu cho ứng cử viên nào,…

          Do vậy đề góp phần khắc phục những tồn tại trên, chúng tôi cho rằng cần phải nghiên cứu hoàn thiện hơn nữa cơ sở pháp lý của hoạt động bầu cử đại biểu Quốc hội. cụ thể tập trung vào một số vấn đề sau:

          Thứ nhất, cần nghiên cứu bổ sung thêm nguyên tắc bầu cử tự do vào trong quy định pháp luật về bầu cử. Đây cần trở thành nguyên tắc xuyên suốt trong bầu cử đại biểu quốc hội từ việc người dân tham gia ứng cử, cho đến việc thực hiện tranh luận và nhân dân tự do lựa chọn thông qua phiếu bầu. Nguyên tắc này sẽ giúp cuộc bầu cử sẽ diễn ra ý nghĩa hơn; khách quan hơn và nhân dân có nhiều cơ hội lựa chọn đại biểu xứng đáng đại diện cho mình;

          Thứ hai, bên cạnh việc quy định và thực hiện nguyên tắc bầu cử tự do, cần có những nghiên cứu sửa đổi các quy định pháp luật về hiệp thương trong bầu cử đại biểu quốc hội. Việc quy định hiệp thương theo quy định của pháp luật hiện hành ở góc độ nhất định góp phần loại bỏ những đại biểu chưa đủ điều kiện tham gia ứng cử tiếp tục quá trình bầu cử. Tuy nhiên, vấn đề này sẽ ảnh hưởng đến quyền tự do quyết định bằng lá phiếu của nhân dân, ảnh hưởng đến tâm lý của người đi bầu cử. Về lâu dài, nên quy định những người đủ điều kiện được tham gia ứng tham gia ứng cử, công khai tranh luận trước nhân dân về cương lĩnh tranh cử của mình tại khu vực bầu cử và người quyết định cuối cùng sẽ là nhân dân thông qua lá phiếu của mình họ sẽ quyết định người đó có xứng đáng đại diện cho mình hay không.

           Thứ ba, cần nghiên cứu nới lỏng các quy định về cơ cấu đại biểu trong bầu cử Quốc hội, góp phần mở rộng cơ hội hơn nữa cho những người có tài, tâm huyết phục vụ nhân dân được tham gia Quốc hội, đồng thời mở rộng cánh cửa cho nhân dân hơn trong việc bầu cử đại biểu đại diện cho mình. Góp phần xây dựng một Quốc hội thực sự của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân.

Thứ tư, cần có quy định pháp luật cụ thể về tranh luận của các ứng cử viên trước nhân dân tại khu vực bầu cử là điều kiện bắt buộc để được bầu cử. Thực tiễn bầu cử đại biểu quốc hội khóa XIII cho thấy nhiều cử tri không biết về ứng cử viên mà mình đã bỏ phiếu. Do vậy chúng tôi cho rằng nên hoàn thiện các quy định pháp luật về tiếp xúc cử tri và nên quy định tiếp xúc cử tri hay tranh cử của đại biểu tham gia ứng cử tại khu vực bầu cử của mình là điều kiện bắt buộc, để nhân dân có nhiều thông tin hơn trước khi quyết định bỏ lá phiếu cho ai. 

          Thứ năm, một vấn đề cũng cần được bàn là pháp luật quy định nhân dân bầu ra cơ quan đại diện và nhân dân thực hiện quyền lực của mình thông qua các cơ quan này. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy nhiều trường hợp quyết định của các cơ quan đại diện  không phán ánh đúng mong muốn của nhân dân. Vấn đề này thực tiễn vẫn chưa có cơ chế để giải quyết triệt. Hay Hiến pháp quy định nhân dân thực hiện quyền của mình qua các cơ quan dân cử, nhưng Hiến pháp cũng quy định nhân dân trong một số trường hợp có thể trực tiếp thực hiện quyền lực nhà nước (Điều 53 Hiến pháp năm 1992). Vậy các quy định này có mâu thuẫn không, vấn đề này cũng cần được tiếp tục nghiên cứu để hoàn thiện trong thời gian tới.


[1] Xem thêm: Lời nói đầu, Luật văn thạc sĩ luật học “Đổi mới chế độ bầu cử ở ViệtNam hiện nay” của Nguyễn Ngọc Nghiệp.

[2] Xem thêm Điều 2 Hiến pháp 1992.

Post a comment or leave a trackback: Trackback URL.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: