Bài viết cho HienBDuc’Blog

QUYỀN HÀNH PHÁP TRONG TỔ CHỨC QUYỀN LỰC

NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XHCN VIỆTNAM

PGS. TS. Vũ Thư

Viện Nhà nước và Pháp luật

 Trong xã hội hiện đại, quyền lực nhà nước là vấn đề trung tâm của đời sống chính trị mỗi quốc gia. Các  giai cấp, tầng lớp xã hội, dân chúng luôn quan tâm, cố gắng tìm cách giành lấy hoặc gây ảnh hưởng …đến quyền lực nhà nước nhằm đạt được mục đích, lý tưởng chính trị của mình.

Quyền lực nhà nước gắn liền với pháp luật với tư cách là các hiện tượng không thể thiếu nhau, trong nhau. Từ đó, quyền lực được hiểu gồm ba loại: quyền lập pháp, quyền hành pháp, quyền tư pháp. Từ xưa, các nhà tư tưởng tư sản tiến bộ khi quan niệm quyền lập pháp là quyền làm ra “các thứ luật” đã viết: “Quyền lập pháp thể hiện ý chí chung của quốc gia, quyền hành pháp thì thực hiện ý chí chung ấy”[1]. Còn quyền tư pháp là quyền bảo vệ pháp luật thông qua việc xét xử các tranh chấp hay vi phạm luật. Cơ quan tư pháp được xác định “…là cơ quan thiêng liêng nhất và được coi trọng nhất vì nó là người bảo vệ pháp luật: mà luật là do cơ quan quyền lực tối cao ban hành và do chính phủ chấp hành”[2]. Như thế, trong cơ cấu quyền lực nhà nước, quyền hành pháp được quan niệm là quyền thi hành hay là thực hiện luật, nói một cách chung nhất là đưa luật vào đời sống xã hội.

Quan niệm về quyền hành pháp là thi hành luật như trên ít ai cảm thấy cần xem xét lại, cho dù ngày nay, quan niệm về các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp không hoàn toàn giống với trước đây nhiều thế kỷ. Chẳng hạn, theo quan niệm truyền thống thì quyền lập pháp là quyền làm luật, nhưng ngày nay, người ta có thể hiểu rộng, bao gồm cả quyền giám sát…Đối với quyền hành pháp, thực tiễn cho thấy cũng cần phải xem xét lại quan niệm truyền thống về nó. Ở giai đoạn hình thành thuyết phân quyền, để tranh giành quyền lực với chế độ phong kiến, quyền lực nhà nước nói chung, quyền hành pháp nói riêng được đặt trong mối quan hệ với quyền và tự do của con người thì hiểu như thế là đủ. Mặt khác, trong một thời gian dài, nhà nước tư bản chỉ được xem là kẻ gác đêm cho các vận động của kinh tế sản xuất hàng hoá…Nhưng theo thời gian, với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế thị trường, khoa học và công nghệ, toàn cầu hoá và nhiều yếu tố khác đã làm cho các quan hệ trong đời sống xã hội trở nên đa dạng, phức tạp, đòi hỏi đối với hành pháp về tính năng động, sáng tạo cao. Mặt khác, luật cũng không thể quy định quá chặt chẽ chi tiết được các tình huống của đời sống cũng đã dành cho hành pháp quyền tự do xét định. Điều đó đã làm cho quan niệm quyền hành pháp truyền thống phải được nhận thức lại, có sự bổ khuyết. Một trọng trách nổi bật của quyền hành pháp ngày nay là xác lập và thực hiện chính sách trên cơ sở luật. Nếu theo dõi diễn biến hoạt động của quyền hành pháp trong các nhà nước hiện đại, dễ dàng nhận thấy điều này. Đây là vấn đề thuộc thẩm quyền của hành pháp nhưng luật chỉ xác định là khung khổ, không quy định cụ thể mà dành cho hành pháp tuỳ nghi. Chính sách và pháp luật là những hiện tượng không giống nhau. Luật chứa đựng ý chí nhân dân thể hiện trong các quy tắc hành vi nhằm tới mục đích nào đó. Chính sách lại có thể hiểu được là sách lược và kế hoạch cụ thể nhằm đạt mục đích nhất định[3]. Cùng thì luật ấy, nhưng những người nắm quyền có thể có và thực hiện các chính sách khác nhau. Xây dựng và thực hiện chính sách chính là khoảng tự do xét định hay là sáng tạo của hành pháp không thể hiểu đơn giản là thi hành luật. Trong các chế độ đa đảng, các chính phủ chao đảo, đứng vững hay bị đổ hầu như là ở chính sách…Cho nên, cần xác định một cách thực tiễn hơn nội hàm của quyền hành pháp trong thế giới hiện đại, đó là: quyền thực thi chính sách và luật. Trong đó, chính sách là phần mà hành pháp tạo lập.

Khi nghiên cứu về quyền hành pháp không thể không xem xét quan hệ giữa các khái niệm “quyền hành pháp” với “quyền hành chính” cũng như “hành pháp” và “hành chính”. Hành pháp, quyền hành pháp liên quan đến việc thực thi chính sách và pháp luật, còn hành chính, quyền hành chính liên quan đến việc quản lý, hoạt động có tính chất điều hành. Quyền hành pháp, hành pháp nếu không thể hiện trong đời sống bằng việc thực hiện quyền hành chính thì quyền hành pháp chẳng có nghĩa lý gì; hay nói cách khác, quyền hành chính, hành chính là phương thức thể hiện quyền hành pháp trong đời sống và là phương thức tồn tại căn bản của nó. Hành pháp, quyền hành pháp vận động trong thực tế không thể không được thực hiện dưới dạng hành chính, quyền hành chính. Còn quyền hành chínquyền, hành chính là quản lý, điều hành các mặt, các lĩnh vực của đời sống xã hội, bằng cách sử dụng quyền lực nhà nước, trực tiếp ở đây là quyền hành pháp. Do đó, quyền hành pháp hành pháp, và quyền hành chính, hành chính, là những khái niệm cùng hàng. Nói hành pháp, quyền hành pháp là ngụ ý nói đến hành chính và quyền hành chính và ngược lại. Chúng có quan hệ gần nhau đến mức người ta có thể sử dụng thay thế cho nhau trong rất nhiều trường hợp.

Chuyển sang vấn đề có tính căn bản là tương quan giữa quyền hành pháp với các quyền lập pháp và tư pháp. Trong cơ chế quyền lực nhà nước, quyền lập pháp là quyền làm ra luật, thể hiện ý chí quốc gia, ý chí của nhân dân, quyền hành pháp là quyền thi hành ý chí ấy bằng việc thực thi chính sách và luật, quyền tư pháp là quyền xét xử vi phạm pháp luật và phân xử tranh chấp pháp luật để bảo vệ luật. Như vậy, từ bản tính của nó, quyền lực nhà nước luôn là một thể thống nhất kể cả trong nhà nước được tổ chức theo nguyên tắc phân quyền. Xét từ góc độ xã hội – giai cấp cũng như vậy. Trong đời sống nhà nước sinh động, quyền lập pháp và hành pháp quyền hành pháp là các quyền thường xuyên có nhiều ý nghĩa mà các giai tầng xã hội luôn tìm cách tiến chiếm, gây ảnh hưởng. Bởi vì, hai quyền này có tác động lớn đối với sự vận động và sự phát triển các mặt của đời sống xã hội, phản ánh được các mong muốn, lý tưởng xã hội của các giai tầng.

Tuy nhiên, ở quốc gia nào cũng vậy, giữa hai quyền lập pháp và hành pháp thì quyền hành pháp luôn là bộ phận trội, năng động nhất và là tâm điểm chú ý về quyền lực nhà nước, bởi tác động trực tiếp của nó đến đời sống xã hội, đến quyền và tự do của mỗi cá nhân, tổ chức. Thành công hay thất bại của sự phát triển xã hội, vinh danh hay chỉ trích, sự trụ vững hay vuột quyền của mỗi chính đảng trong mối liên hệ với quyền lực nhà nước phần lớn phụ thuộc vào chỗ quyền hành pháp đã được sử dụng như thế nào. Nếu đánh giá một cách tương đối thì quyền hành pháp nói chung là khâu có tính chất quyết định trong toàn bộ quá trình vận hành của quyền lực nhà nước. Trong cơ cấu quyền lực nhà nước ở mỗi quốc gia xưa và nay, thường thì người ta phải đề phòng sự xâm lấn hay lũng đoạn của quyền hành pháp đối với quyền lập pháp chứ rất ít khi là ngược lại.

Trong các chính thể khác nhau, quyền hành pháp được tổ chức có những điểm khác nhau. Nhưng có hai nguyên tắc tổ chức quyền lực nhà nước cơ bản là phân quyền (tam quyền phân lập) và tập quyền. Theo nguyên tắc phân quyền, các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp phải do các cơ quan khác nhau nắm giữ, thực thi một cách độc lập nhằm bảo vệ các quyền và tự do của con người. Điều này đã được thể hiện rõ rệt trong tư tưởng Motesquieu về vấn đề tổ chức quyền lực nhà nước. Về sau trong thực tiễn tổ chức quyền lực nhà nước ở Mỹ, nguyên tắc phân quyền được phát triển hơn nữa, theo đó, giữa các cơ quan nắm giữ các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp không cơ quan nào có địa vị thống trị tối cao trong cơ chế cân bằng quyền lực hay là quyền lực chế ước lẫn nhau để chống lạm quyền. Nguyên tắc phân quyền được áp dụng trong tổ chức bộ máy nhà nước các nước phát triển và rất nhiều nước khác với những sắc thái đa dạng.

Tập quyền là nguyên tắc tổ chức quyền lực nhà nước xưa cũ trong lịch sử. Tập quyền là tập trung quyền lực vào cơ quan nào đó. Tuỳ theo các kiểu nhà nước và các đặc điểm về chính trị, lịch sử, truyền thống, văn hóa…mà mỗi nhà nước tổ chức theo nguyên tắc tập quyền ít nhiều khác nhau. Tập quyền là nguyên tắc tổ chức quyền lực nhà nước khác về chất với nguyên tắc phân quyền, theo đó một cơ quan, một người có quyền hạn to lớn, quyết định đối với các bộ phận quyền lực lập pháp, hành pháp, tư pháp trong nhà nước. Trong thực tiễn xưa nay, tổ chức nhà nước theo nguyên tắc tập quyền không có nghĩa là một người, một cơ quan quyết định và thực hiện toàn bộ các công việc thuộc quyền lực nhà nước từ trung ương đến địa phương mà vẫn phải phân công, phân nhiệm cho các bộ phận cấu thành của bộ máy nhà nước. Việc một cơ quan, một người nắm cả các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp chỉ là về nguyên tắc và xét cho cùng để tạo khả năng kiểm soát quyền lực tập trung vào một nơi. Tập quyền không có nghĩa là đoạn tuyệt hoàn toàn với các yếu tố tích cực của phân quyền. Tính độc lập và sự kiểm tra giữa các quyền ở chừng mực nhất định cũng có thể cũng được sử dụng trong tổ chức quyền lực nhà nước theo nguyên tắc tập quyền.

Để luận chứng cho nguyên tắc tổ chức quyền lực nhà nước mới, khi xem xét nguyên tắc phân quyền được các nhà tư tưởng tư sản tiến bộ đề xướng, Mác và Ph.Ăng ghen đã nhận xét rằng nguyên tắc phân quyền được áp dụng chỉ trong chừng mực nó phù hợp với các quan hệ xã hội đang tồn tại, vào thời kỳ thế lực vua chúa, giai cấp quý tộc và giai cấp tư sản tranh nhau giành quyền thống trị. Khi đó, học thuyết phân quyền tỏ ra là tư tưởng thống trị, được người ta coi là quy luật vĩnh viễn[4]. Nhưng theo các ông, học thuyết này chỉ là sự phân công lao động theo chuyên môn trong cơ chế nhà nước với sự thống nhất của quyền lực trong tay giai cấp tư sản[5]. Khi giai cấp thống trị bị nhân dân lật đổ thì quyền lực trở về tay người dân, đó là cội nguồn chân chính của quyền lực nhà nước. Xuất phát từ thực tiễn đấu tranh giai cấp, đặc biệt là từ kinh nghiệm Công xã Pari, C.Mác đã xác định mô hình mới tổ chức quyền lực nhà nước của nhà nước vô sản, theo đó, “Công xã Pari không phải là cơ quan đại nghị, mà là một tập thể hành động vừa lập pháp vừa hành pháp[6]”. Mô hình tổ chức quyền lực nhà nước này rõ ràng là khác với nguyên tắc phân quyền. Nhận xét trên đây của của C.Mác đã trở thành là kim chỉ nam cho việc tổ chức quyền lực nhà nước trong các nhà nước xã hội chủ nghĩa từ khi ra đời đến nay mà bản chất là tập quyền, có thể gọi đó là nguyên tắc tổ chức quyền lực nhà nước này là nguyên tắc tập quyền xã hội chủ nghĩa. Với nguyên tắc này, không nên hiểu thô thiển là mọi quyền này đều tập trung hoàn toàn vào cơ quan Quốc hội (hoặc tên gọi khác); mà có sự phân công, phân nhiệm: quyền lập pháp thuộc về cơ quan đại diện, quyền hành pháp thuộc về cơ quan chấp hành – điều hành của cơ quan đại diện, quyền tư pháp thuộc về toà án. Càng không nên hiểu một cách thô thiển việc việc quyền lực nhà nước cao nhất quyết định các vấn đề cụ thể của hành pháp và tư pháp. Các cơ quan hành pháp và tư pháp có tính độc lập nhất định trong việc thực hiện các quyền hành pháp và quyền tư pháp trong khuôn khổ của nguyên tắc tập quyền.

Những vấn đề cơ bản về quyền hành pháp như trên sẽ là cơ sở để xem xét, đánh giá thực trạng tổ chức và thực hiện quyền hành pháp của Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa ViệtNamhiện nay. Nghiên cứu nhận thức và thực tiễn tổ chức quyền hành pháp trong Nhà nước ViệtNamhiện nay, cho thấy thực trạng quyền hành pháp trong Nhà nước ta thể hiện trên những điểm sau:

Thứ nhất, quyền hành pháp trong Nhà nước pháp quyền ViệtNam được tổ chức trong khuôn khổ nguyên tắc tập quyền. Vấn đề này, liên quan đến việc lý giải quy định tại đoạn 2 Điều 2 của Hiến pháp rằng: “Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp”. Ở đây, có những cách hiểu trái ngược nhau về quy định này. Một quan điểm cho rằng đó là thể hiện của nguyên tắc phân quyền, căn cứ vào sự hiện diện của sự phân công, phân nhiệm thực hiện quyền lực trong bộ máy nhà nước. Và, hai từ “thống nhất” trong cụm từ “quyền lực nhà nước là thống nhất” không được hiểu là sự “thống nhất” hay tập trung quyền lực vào cơ quan nhà nước nào mà là “thống nhất” vào nhân dân.

Quan điểm khác, trái lại, cho rằng quy định kể trên là thể hiện của nguyên tắc tập quyền. Quan điểm này phù hợp hơn. Cần khẳng định phân công, phân nhiệm không đồng nghĩa với phân quyền mà chỉ là một dấu hiệu bề ngoài của phân quyền. Và, lý giải quyền lực nhà nước là thống nhất trong quy định trên là thống nhất vào nhân dân là vượt ra khỏi vấn đề cơ cấu tổ chức quyền lực nhà nước mà đoạn văn này muốn đề cập; mặt khác, gây hiểu lầm rằng Hiến pháp trình bày trùng lặp bản chất của nhà nước, bởi vì, đoạn ngay trên đó đã xác định rằng: “Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức”. Nhưng, nếu chỉ dựa vào lời văn của bản Hiến pháp để giải thích vấn đề thì vẫn chưa đủ. Cần xem xét nó trong các quy định khác và tinh thần của bản Hiến pháp. Những điểm căn bản chứng minh cho sự hiện diện nguyên tắc tập quyền trong tổ chức quyền lực nhà nước trong Nhà nước pháp quyền ViệtNam hiện nay là:

1. Quốc hội là cơ quan có quyền lực nhà nướ cao nhất, lớn nhất của nước, có khả năng chi phối các quyền hành pháp và quyền tư pháp thể hiện ở chỗ có các chức năng: lập hiến và lập pháp, tổ chức ra các cơ quan cao nhất của bộ máy nhà nước, quyết định các vấn đề quan trọng nhất, thực hiện quyền giám sát tối cao đối với bộ máy Nhà nước.

2. Điều 6 của bản Hiến pháp 1992 (sửa đổi) ghi rằng: “Quốc hội, Hội đồng nhân dân và các cơ quan khác của Nhà nước đều tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ”. Điểm tập trung trong bộ máy Nhà nước sẽ là Quốc hội.

3. Tính độc lập của quyền hành pháp và quyền tư pháp khá hạn chế. Người đứng đầu các cơ quan này phải chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Quốc hội.

4. Giám sát trong cơ chế quyền lực nhà nước là có với hành pháp, với tư pháp là có, nhưng đối với quyền lập pháp, thiếu cơ chế nhà nước kiểm soát hoạt động của hoạt động lập pháp.

Tóm lại, quyền hành pháp nước ta được thực hiện trong khuôn khổ của nguyên tắc tập quyền. Nhưng cũng thấy, việc sử dụng cơ chế tư pháp để giải quyết tranh chấp pháp luật giữa công dân, tổ chức với cơ quan nhà nước trong lĩnh vực thực hiện quyền hành pháp hiện nay, chứng tỏ có ở đây yếu tố phân quyền. Trong khuôn khổ đó, quyền hành pháp được thể hiện tính độc lập nhất định trong quy định hiến pháp rằng Chính phủ là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, nhưng trước sau vẫn là cơ quan chấp hành của Quốc hội.

Thứ hai, quyền hành pháp được thực hiện trong nền chính trị nhất nguyên, ở đó, Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng duy nhất lãnh đạo nhà nước và xã hội. Với đặc điểm như vậy, có thể bảo đảm sự thống nhất vốn có của quyền lực nhà nước, nhưng nếu không tổ chức tốt, rất có thể điều đó sẽ làm giảm tính độc lập của các bộ phận quyền lực cũng như làm yếu đi vận hành nội tại của cơ chế kiểm tra giữa các bộ phận của quyền lực nhà nước.

Thứ ba, việc tổ chức và vận hành quyền hành pháp đang trong quá trình hình thành và ổn định theo các mục tiêu của quyền hành pháp trong các nhà nước pháp quyền hiện đại. Bởi vậy, các yêu cầu đối với hành xử quyền hành pháp: minh bạch, trách nhiệm giải trình, bảo đảm sự tuân thủ luật pháp, dân chủ, bảo đảm quyền con người và phục vụ…còn là những vấn đề lớn đặt ra đối với nó trong điều kiện mới.

Thực trạng quyền hành pháp như trên đặt ra hai phương diện đổi mới hay hoàn thiện tổ chức và thực hiện quyền hành pháp ViệtNamphải được tính đến là: 1/Đặt quyền hành pháp trong môi trường hay cơ chế quyền lực nhà nước như thế nào và 2/. Hành pháp trong tư cách là quyền thực thi chính sách và luật hay là hành chính phải được sử dụng như thế nào để tác động có hiệu quả đến các mặt của đời sống xã hội. Đương nhiên, hoàn thiện tổ chức và thực hiện quyền hành pháp trên hai phương diện kể trên phải được đặt trong các điều kiện ngày càng thể hiện rõ nét ảnh hưởng, vai trò của các nhân tố: xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, dân chủ và nhân quyền, kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, toàn cầu hoá, sự phát triển mạnh mẽ của khoa học và công nghệ.

Từ thực tiễn tổ chức quyền hành pháp như trên, hoàn thiện tổ chức và thực hiện quyền hành pháp nước ta cần tiến hành trên những mặt căn bản sau đây:

Một là, quyền hành pháp phải được tổ chức trong khuôn khổ nguyên tắc phân quyền. Trong khuôn khổ của nguyên tắc này, quyền hành pháp cũng như các quyền lập pháp, tư pháp mới có được tính độc lập và khả năng kiểm tra lẫn nhau trong việc bảo đảm thực thi đúng đắn quyền lực trong một Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Xin nhấn mạnh lần nữa, phân quyền không phải là phân chia nhỏ quyền lực nhà nước bởi lẽ, các quyền hành pháp và quyền tư pháp thực ra chỉ hoạt động trên cơ sở luật do quyền lập pháp tạo ra, nghĩa là bản thân chúng có sự thống nhất. Phân quyền hàm chứa trong nó khả năng kiểm soát quyền lực trong bản thân cơ chế quyền lực nhà nước. Lạm quyền, phạm luật là vấn đề tiềm ẩn thường xuyên trong thực hiện quyền lực nhà nước, đặc biệt là với quyền hành pháp. Phân quyền vốn có khả năng tạo lập sự kiểm soát thường trực giữa các nhánh quyền lực, trong đó có quyền hành pháp tỏ ra tương xứng và phù hợp với trạng thái đó. Đó là một ưu điểm phải kể đến vì không phải bất cứ hiện tượng lạm quyền hay phạm luật nào cũng có thể gọi đến áp lực của xã hội dân sự.

Năm 2006, một sự kiện cần được đặc biệt chú ý là Đại hội Đảng lần thứ IX đã xác nhận việc: “Xây dựng cơ chế phán quyết về những vi phạm Hiến pháp trong hoạt động lập pháp, hành pháp và tư pháp”[7]. Đây là chủ trương có tính chất căn bản liên quan đến hướng tổ chức quyền lực nhà nước Việt Nam cần được đánh giá đúng tầm. Với chủ trương này thì quyền lập pháp cũng phải bị giám sát, kiểm tra bằng cơ chế nhà nước có tính chất tư pháp. Do đó, chủ trương này về mặt khách quan đã phá vỡ về thực chất nguyên tắc tập quyền xã hội chủ nghĩa vẫn được thừa nhận lâu nay ghi trong Hiến pháp hiện hành bằng sự hiện diện của nhân tố “kiềm chế, đối trọng”. Cho nên, về mặt pháp lý thì Nhà nước Việt Nam đang được tổ chức quyền lực theo nguyên tắc tập quyền theo Hiến pháp, còn về mặt chính trị thì đã theo hướng phân quyền. Chỉ cần thể hiện rõ hơn tính độc lập tư pháp, đặc biệt là tính độc lập của hành pháp thì chắc chắn tổ chức quyền lực nhà nước Việt Nam đã ngả hẳn sang hay là hoàn chỉnh việc tổ chức quyền lực nhà nước theo nguyên tắc phân quyền. Mới đây, Đại hội XI của Đảng Cộng sản Việt Nam tổ chức đầu năm 2011, khi bổ sung, phát triển Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội tiếp tục khẳng định rằng: “Nhà nước ta là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giữa công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Quyền lực Nhà nước là thống nhất; có sự phân công và phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp”[8]. Với việc bổ sung vào cơ chế quyền lực nhà nước yếu tố kiểm soát quyền lực giữa các cơ quan thực hiện thực hiện các nhánh quyền lực nhà nước thì rõ ràng, đây là sự thể hiện trực diện và có tính khái quát hơn nguyên tắc phân quyền trong tổ chức bộ máy nhà nước ViệtNam. Đó là một bước phát triển đặc biệt quan trọng trong nhận thức về tổ chức quyền lực nhà nước ViệtNam.

Tuy nhiên, cũng cần lưu ý ở đây là trong Báo cáo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá X về các văn kiện Đại hội XI của Đảng tại Đại hội XI, có đoạn viết rằng: “…Tổ chức và hoạt động của bộ máy Nhà nước theo nguyên tắc tập trung dân chủ. Quyền lực Nhà nước là thống nhất; có sự phân công và phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp”[9]. Viết như vậy là có sự mâu thuẫn. Về phương diện tư tưởng cần nhận thức dứt khoát không thể vừa mong giữ được nguyên tắc tập trung dân chủ lại vừa muốn thực hành nguyên tắc phân quyền. Nếu đã phân quyền thì đâu còn bộ phận quyền lực nào là cao nhất để có thể tập trung vào theo nguyên tắc tập trung dân chủ. Nguyên tắc tập trung dân chủ xét trong toàn bộ là hiện thân của nguyên tắc tập quyền trong tổ chức quyền lực nhà nước. Đối với chế độ phân quyền, nguyên tắc tập trung dân chủ chỉ áp dụng trong một giới hạn hẹp cơ quan, chứ không thể trong toàn bộ máy Nhà nước. Thậm chí đối với nhiều nước, người ta không nhắc đến nguyên tắc này. Trong tổ chức quyền lực nhà nước, không chỉ giữa các cơ quan thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp ở trung ương mà quan hệ giữa trung ương và địa phương cũng không áp dụng nguyên tắc tập trung dân chủ.

Tổ chức quyền lực nhà nước theo nguyên tắc phân quyền được xác định tại Đại hội Đảng lần thứ XI cần được thể hiện trong Hiến pháp thích hợp. Nhưng nó phải chứa đựng được tinh thần cơ bản sau đây:

1. Quyền lực nhà nước là thống nhất (sự thống nhất vốn có của quyền lực nhà nước);

2. Có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp;

3. Các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp được tổ chức có tính độc lập trong bộ máy nhà nước;

4. Có sự giám sát, kiểm tra nhà nước giữa các quyền.

Trong cơ chế quyền lực như vậy, ở một Nhà nước pháp quyền với sự thượng tôn pháp luật, sự lãnh đạo của Đảng cần phải theo mạch tư duy đúng về quyền lực nhà nước bảo đảm để giữa các quyền được tổ chức có tính độc lập, cân bằng có khả năng kiểm tra lẫn nhau theo luật mà không cần có sự lãnh đạo điều hoà. Lãnh đạo của Đảng phải thể hiện tập trung trong quy định của luật và chỉ trong việc bảo đảm đúng luật đối với các cơ quan thực thi quyền lực nhà nước, không thực hiện việc can thiệp sâu vào hoạt động của các nhánh và giữa các nhánh quyền. Nếu không, tổ chức quyền lực nhà nước sẽ không khác hiện nay.

Hai là, tổ chức quyền hành pháp mạnh. Trong vận hành quyền lực nhà nước, như đã nói ở trên, bộ phận năng động nhất. Khả năng cầm quyền của một đảng phụ thuộc chủ yếu vào chỗ quyền hành pháp đã được sử dụng như thế nào và sẽ không quá, nếu cho rằng trong việc sử dụng quyền lực nhà nước, quyền hành pháp có tính chất quyết định.

Trong các điều kiện hiện nay ở nước ta, quyền hành pháp phải là quyền hành pháp mạnh. “Mạnh” của quyền hành pháp không phải là khả năng lấn lướt đối với quyền lập pháp, mặc dù trong lịch sử tổ chức quyền lực nhà nước trên thế giới và ở Việt Nam, tương quan giữa hai loại cơ quan thực hiện các quyền này về căn bản nghiêng về phía cơ quan hành pháp xét về không gian và thời gian. Đối với nước ta, tổ chức quyền hành pháp mạnh (trước hết là đối với Chính phủ) là bảo tính độc lập của hành pháp và dành cho quyền hành pháp phạm vi và mức độ được quyết định các vấn đề quản lý rộng rãi hợp lý để phát huy được tính năng động, sáng tạo, phản ứng nhanh nhạy với sự vận động đa dạng, mau chóng của các quan hệ xã hội. Tính mạnh của quyền hành pháp cũng có nghĩa là quyền hành pháp phải thể hiện được năng lực thực hiện quyền trong việc xây dựng và thực hiện chính sách, thực hiện đúng đắn và có hiệu quả luật. Đây là đòi hỏi về tổ chức quyền hành pháp theo nguyên tắc phân quyền và mặt khác, sự phức tạp, đa dạng, vận động nhanh chóng của các quan hệ xã hội trong các điều kiện nền kinh tế thị trường, sự phát triển của khoa học và công nghệ, sự toàn cầu hoá mọi mặt của đời sống xã hội, sự hiện diện của một thế giới cạnh tranh cao không chỉ với doanh nghiệp mà ngay cả với các chủ thể là nhà nước…Như thế, quan niệm về chấp hành của hành pháp trước lập pháp theo quan niệm cố hữu hàng chục năm nay ở nước ta phải được nhận thức lại và quan niệm Chính phủ là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất của nước cũng phải được hiểu đúng.

Nhưng cần phải bổ sung thêm rằng, quyền hành pháp mạnh, quyền tự do xét định (tất nhiên trong khuôn khổ quy định và tinh thần của Hiến pháp, luật) được khẳng định không thể đồng nghĩa với việc độc quyền. Quyền hành pháp mạnh phải gắn liền với trách nhiệm của hành pháp trước xã hội và phải chịu sự giám sát, kiểm tra của lập pháp và tư pháp và sự giám sát xã hội. Và, quyền hành pháp chỉ mạnh khi có được sự phối hợp, hỗ trợ theo đúng chức năng của lập pháp và tư pháp.

Ba là, trên cơ sở nền kinh tế thị trường và sử dụng các yếu tố hợp lý của kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa trong tổ chức quyền hành pháp. Trong những năm cải cách vừa qua ở nước ta, việc chuyển đổi từ nền kinh tế tập trung sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đã dẫn đến sự thay đổi rõ rệt chức năng và cơ cấu tổ chức của bộ máy hành chính nhà nước. Các yếu tố thuộc kinh tế thị trường như cạnh tranh, cung – cầu, cung cách tổ chức và hoạt động của doanh nghiệp, doanh nhân…cần phải được nghiên cứu sử dụng để tiếp tục cải cách bộ máy hành chính. Đây là xu hướng tiến bộ đang diễn ra ở các nước phát triển và các các nước khác nhằm nâng cao hiệu năng, hiệu quả của quản lý nhà nước thể hiện vai trò của quyền hành pháp.

Bốn là, cần phải có triết lý về sử dụng quyền lực nhà nước. Đây không phải là vấn đề mới lạ ở nước ta mà chỉ là nó chưa dành được sự chú ý đúng mức và trọng thị mà thôi. Tại Đại hội VI (1986), Đảng Cộng sản Việt Nam đã chỉ ra hiện tượng rằng: “Không ít cơ quan chính quyền không tôn trọng ý kiến nhân dân, không làm công tác vận động quần chúng, chỉ quen dùng các biện pháp hành chính”[10]. Vừa đây, trên báo Pháp luật Việt Nam có bài viết với nhan đề: “Phạt nặng chưa phải là “tối thượng”, trong đó, tác giả bài báo nêu ví dụ Nghị định 117 với khung phạt cao về môi trường nhưng các vi phạm không giảm, nhưng các chuyên gia pháp lý cho rằng không có tính khả thi. Vì nếu làm nghiêm thì họ phá sản, còn “thông cảm cho trì hoãn” thì chắc chắn đa số chây ỳ, không chịu nộp phạt…Từ đó, tác giả cho rằng quan điểm “phạt nặng cho sợ”, “đánh vào kinh tế” được coi như một giải pháp hữu hiệu cho việc ngăn chặn vi phạm pháp luật không phải lúc nào cũng có hiệu quả thực tế, không phải cứ phạt cao là có tác dụng răn đe. Cần phải tác động đến được ý thức điều khiển hành vi pháp luật của con người[11]. Xin có lời bàn thêm ở đây là sử dụng thái quá cưỡng chế nhà nước cũng không khác nào luyện cho người dân tư duy coi trọng bạo lực trong xử lý các quan hệ xã hội. Đó là tác dụng ngược của quan điểm trọng cưỡng chế.

Thực ra, bài báo đã đề cập đến vấn đề lớn hơn hiện nay là sử dụng quyền lực nhà nước, đặc biệt là quyền hành pháp. Có một cách hiểu có tính phổ biến về quyền lực hiện nay, kể cả trong lĩnh vực nhà nước pháp luật, theo đó quyền lực ý chí của một bên buộc bên kia phải tuân theo, bao gồm trong đó cả sự phục tùng. Trong quan niệm này, quyền lực chỉ được nhấn mạnh về sự áp đặt của chủ thể quyền lực với đối tượng của quyền lực. Tuy nhiên, còn một cách quan niệm có tính “mềm mỏng” hơn và hiệu quả hơn, theo đó, quyền lực được xác định là khả năng điều khiển hành vi của người khác. Trong quan niệm về quyền lực này, khác với trên, nó lấy việc chủ thể quyền lực tự tạo nên sự hấp dẫn, thu phục, khơi dậy sự đồng thuận của đối tượng của quyền lực làm phương tiện. Sự hấp dẫn, đồng thuận đến từ các nguồn khác nhau: các giá trị chính trị, đạo đức, chính sách hấp dẫn…Quan niệm này được áp dụng trong lĩnh vực kinh tế, văn hóa…, đương nhiên, cả trong lĩnh vực nhà nước – pháp luật. Đây chính là quan niệm về quyền lực “mềm” hay quyền lực “thông minh” do Josep S. Nye nguyên là Hiệu trưởng Trường  Hành chính Kennedy thuộc Đại học Havard xây dựng  thành lý luận hay chủ thuyết về quyền lực. Lý thuyết này có sức ảnh hưởng rộng rãi trên thế giới, được nhiều quốc gia như Mỹ, Trung quốc…, kể cả nước ta nghiên cứu, áp dụng. Tuy nhiên, như chúng ta biết, quyền lực “mềm” ở nước ta hiện đang được nghiên cứu, vận dụng phạm vi đối ngoại hạn hẹp, cụ thể là trong tranh chấp chủ quyền với Trung Quốc. Cần phải nghiên cứu và áp dụng quyền lực “mềm” trong sử dụng quyền lực nhà nước nói chung, trọng tâm là trong quyền hành pháp – quyền lực được sử dụng quy mô lớn và thường xuyên trong đời sống xã hội.

Năm là, quyền hành pháp phải thể hiện được các những nét tinh hoa của hành pháp – hành chính trong xã hội hiện đại. Như trên đã nói, quyền hành pháp cũng như hành chính Việt Nam đang trong quá trình hoàn thiện, bởi vậy, trong nó cần phải tiếp nhận, “tiêu hoá” được một loạt các yếu tố vốn có của hành pháp hay hành chính hiện đại, đó là các tiêu chí điều hành quốc gia hiện đại được thừa nhận chung: Minh bạch, nghĩa là lưu thông tự do thông tin theo các chuẩn mực được thừa nhận chung, trách nhiệm giải trình, khả năng có thể dự đoán (đối với pháp luật) và sự tham gia của dân chúng, kể cả những đối tượng dễ bị tổn thương vào quá trình ra quyết định.

Sáu là, quyền hành pháp muốn vận hành tốt phải được thực hiện bởi đội ngũ cán bộ, công chức có năng lực, phẩm chất phù hợp để thực hiện quyền này. Điều đó liên quan đến nhiều vấn đề của chế độ cán bộ, công chức: bầu, tuyển dụng, bổ nhiệm cán bộ, công chức, đào tạo, bồi dưỡng, tạo động cơ làm việc tích cực cho công chức, chế độ trách nhiệm kỷ luật…Tuy nhiên, có hai yếu tố quan trọng hàng đầu là “đầu vào” của đội ngũ cán bộ, công chức và hình thành và duy trì động cơ làm việc của họ.

“Đầu vào” liên quan đến việc bầu cử, tuyển dụng, bổ nhiệm nhân sự hành pháp nhằm chọn được những người thực sự xứng đáng vào đội ngũ cán bộ công chức hành chính. Vấn đề lớn hiện nay ở nước ta là có được những người có tài đức vào nền hành pháp trong bối cảnh mà tri thức, năng lực, nhân cách đang là các vấn đề của nền hành chính ViệtNamhiện nay. Một trong đòi hỏi của việc chọn được những người xứng đáng như vậy là có được diện rộng, cởi mở những người có khả năng được tuyển chọn. Muốn vậy, phải tạo cơ hội để bất cứ ai thực tài và có đức cũng có thể vào được nền hành pháp. Ở đây, không nên tuyệt đối hoá vấn đề xây dựng cán bộ kế cận như là một cách thức, chế độ duy nhất để bảo đảm nguồn cung cấp duy nhất hoặc chủ yếu cho các chức vụ chủ chốt cho bộ máy hành pháp mà cần tạo ra môi trường cạnh tranh trên diện rộng. Trái lại, đó sẽ là cản trở cho việc phấn đấu của cán bộ, công chức nói chung và dễ dẫn đến chỗ chỉ sử dụng được cán bộ, công chức tầm tầm và gây tiêu cực trong thực tiễn. Cùng với điều đó, các tiêu chuẩn về bằng cấp, chứng chỉ là tiêu chí cho việc bầu cử, tuyển chọn, bổ nhiệm nên phổ thông cho các đối tượng nhằm tạo cho nhiều người có điều kiện tham gia vào quá trình bầu, tuyển dụng, bổ nhiệm bình đẳng. Nhìn chung, nếu không làm tốt công tác “đầu vào” này, sẽ là một nguyên nhân gây ra hiện tượng cán bộ, công chức từ khu vực công chạy sang khu vực tư do họ không được trọng dụng.

Quyền hành pháp không thể tốt nếu động lực làm việc của cán bộ, công chức không tốt. Bởi lẽ, chất lượng công việc do công chức thực hiện phụ thuộc vào ba yếu tố: 1/ Năng lực thực hiện công việc (kiến thức, kỹ năng, thái độ); 2/ Động cơ làm việc; và 3/ Môi trường tổ chức (tổ chức bộ máy cơ quan, bầu không khí làm việc trong cơ quan, văn hoá công sở, môi trường công bằng, bình đẳng…). Tuy nhiên, động cơ làm việc là yếu tố chủ quan đóng vai trò đặc biệt quan trọng chi phối suy nghĩ và hành động của công chức. Tiến sĩ David Marr, khi làm việc tại Singapo, có nhận xét công chức nước này thân thiện, nhiệt tình và nghiêm túc trong công việc. Qua tìm hiểu, ông đã phát hiện ra đặc điểm lớn trong động lực làm việc của công chức nước này là ở họ có tầm nhìn chung về việc đưa đất nước từ thế giới thứ ba lên thế giới thứ nhất, có niềm tự hào về công việc và muốn làm có chất lượng cao nhất. Hiện nay, đang có sự bất cập trong động cơ làm việc của công chức Việt Nam.

Đúng là nhu cầu vật chất là cần thiết và chính đáng. Công chức không thể làm việc tốt nếu nhu cầu vật chất tối thiểu cho họ và gia đình họ không được bảo đảm. Cần có chế độ tiền lương thoả đáng phù hợp với các điều kiện cụ thể hiện nay ở nước ta. Nhưng, động lực Nhưng những nghiên cứu cho thấy động cơ làm việc xuất phát từ niềm tự hào công chức, nhu cầu được đánh giá đúng, nhu cầu khẳng định mình mới là lâu dài và cơ bản. Không phải hễ cứ tăng thu nhập là tạo được động cơ làm việc cho công chức, nếu không nói là có thể tạo động cơ làm việc lệch lạc. Do đó, mặt hết sức quan trọng là tạo động lực tinh thần cho họ bằng việc phấn khích niềm tự hào, danh dự công chức phục vụ nhân dân, chí hướng đưa đất nước trở thành nước công nghiệp xếp vào hàng ngũ các nước phát triển, tạo cho họ ý thức về sứ mệnh cao cả của hành chính là phục vụ việc đưa đất nước ra khỏi tình trạng kém phát triển, vươn lên “sánh vai cùng các cường quốc năm châu”, đánh giá đúng năng lực của họ…

Bên cạnh đó, cần có cơ chế thúc đẩy công chức làm việc tốt. Hiện nay, khi chúng ta đã vận dụng một trong những nguyên tắc quản lý cán bộ, công chức tiến bộ là “kết hợp giữa tiêu chuẩn chức danh, vị trí việc làm và chỉ tiêu biên chế”. Hiện nay, chế độ công vụ chức nghiệp hiện nay, theo đó, khi đã vào hàng ngũ công chức, người công chức được Nhà nước đảo đảm suốt đời, không thể bị sa thải nếu công chức không mắc sai phạm lớn, cho dù làm việc bê trễ, thiếu cố gắng, sáng tạo, thiếu trách nhiệm, thậm chí cả vô cảm trước đòi hỏi của người dân, thiếu một sức ép cần và đủ. Để thúc đẩy cán bộ, công chức thực thi công vụ đúng luật và hiệu quả, theo một lộ trình, nên thay chế độ biên chế hiện nay bằng chế độ hợp đồng thực hiện công vụ. Đây là chế độ đã được thực hiện ở một số nước đưa lại kết quả tốt. Chẳng hạn, ở Thuỵ sĩ, với cơ chế hợp đồng lao động đã chấm dứt chế độ công chức suốt đời, tạo ra khả năng linh hoạt trong việc thay đổi nhân sự, đồng thời cũng buộc người lao động làm việc tích cực hơn.

Bảy là, xây dựng tổng thể và có hiệu quả việc kiểm soát quyền lực hành pháp. Thực hiện nguyên tắc phân quyền sẽ tạo ra cơ chế kiểm soát nội tại bên trong bộ máy máy nhà nước thông qua cơ chế cân bằng và đối trọng. Ý nghĩa của nó có thể sẽ như lời của một trong những nhà khai quốc Mỹ Thomas Jefferson rằng:  “Chính quyền mà chúng ta đấu tranh để có được là một chính quyền không chỉ có nền tảng là các nguyên tắc tự do mà còn là một chính quyền trong đó các quyền lực của nó được phân chia và cân bằng giữa các thẩm quyền…sao cho không ai có thể vượt qua các giới hạn pháp lý của mình mà không bị kiểm soát và kiềm chế một cách hữu hiệu bởi những người khác” [12]. Trong khuôn khổ nguyên tắc phân quyền, cần làm cho Quốc hội giám sát có hiệu quả đối với Chính phủ trong tư cách là các thực thể có tính độc lập. Trên nguyên tắc, không thể để các cán bộ, công chức công tác trong lĩnh vực hành pháp được bầu vào Quốc hội, điều đó làm giảm hiệu lực, hiệu quả giám sát của Quốc hội. Cần củng cố, nâng cao hiệu quả và uy tín của Toà án hành chính và sớm xác lập thiết chế bảo hiến để bảo đảm tính hợp hiến của hoạt động hành pháp.

Ngoài ra, còn cần có sự tự kiểm soát quyền lực bên trong của bộ máy hành pháp thông qua các hoạt động thanh tra, kiểm tra. Nhưng đặc biệt quan trọng là cần có quan niệm tỉnh táo, khách quan và thái độ chân thành trong quan niệm về sự kiểm soát của xã hội ̣công dân (dân sự) đối với thực thi quyền hành pháp. Một xã hội công dân mạnh sẽ chỉ là điều tốt cho sự thực thi quyền hành pháp đúng đắn, hợp lòng dân. Trong quan hệ hợp tác, nó bảo đảm cho quyền hành pháp thể hiện, thực hiện đúng ý chí nhân dân, cho phép hạn chế các sai lầm của hành pháp. Cho đến nay, xã hội công dân ViệtNamvận động hết sức mờ nhạt. Ở chỗ này, xin nhấn mạnh mấy điều:

1. Xã hội công dân là xã hội trong đó các tổ chức do công dân lập ra để thể hiện ý chí tự do của họ trong quan hệ với nhà nước. Muốn hay không muốn thì xã hội công dân cũng hình thành và tác động tương quan với quyền lực nhà nước. Theo quan điểm của Đảng ta, nhân dân là gốc, là chủ thể duy nhất của quyền lực nhà nước. Lịch sử hàng nghìn năm và thực tiễn cách mạng ViệtNammấy chục năm qua đã chứng tỏ sức mạnh của nhân dân, của quần chúng là vô địch, quyết định sự phát triển lịch sử ViệtNam. Vấn đề chỉ là chỗ, cần thừa nhận sự tồn tại khách quan của xã hội công dân và chấp nhận vai trò của nó.

2. Ở nơi nào quyền lực nhà nước nói chung, quyền hành pháp nói riêng được thực hiện thiếu vắng xã hội công dân thì nơi đó quyền lực sẽ bị tha hoá, chuyên quyền, xa dời nhân dân.

3. Xã hội công dân không văn minh không thể có được trong một sớm, một chiều. Xã hội công dân trưởng thành ở các nước phát triển hiện nay là kết quả của một quá trình vận động, phát triển lâu dài, chắc chắn sẽ bằng những bước khởi đầu khó khăn, chuệch choạc, ngô nghê… Do đó, xây dựng xã hội công dân nước ta chỉ có thể bằng cách để nó rèn luyện, cọ xát trong thực tế chính trị – pháp lý. Không thể biết bơi, nếu không xuống nước tập bơi.


[1]  Montesquieu, Tinh thần pháp luật, Nhà xuất bản giáo dục, Hà Nội, 1996, tr. 100-103.

[2] Jean – Jacques Rousseau, Bàn về khế ước xã hội, Nhà xuất bản Lý luận chính trị, 2004, tr. 219.

[3] Viện Ngôn ngữ học, Từ điển tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng, 2002, tr. 163.

[4] C.Mác – Ph.Ăngghen. Tuyển tập. Tập 1. Nxb Sự thật. Hà Nội. 1980. tr. 315

[5] Xem: Đinh Ngọc Vượng, Thuyết “Tam quyền phân lập” trong sách “Tam quyền phân lập” và bộ máy nhà nước tư sản hiện đại  của Viện Thông tin Khoa học xã hội, Hà Nội, 1992, tr. 22.

[6] C. Mác- Ph. Ăngghen Tuyển tập. NXB. Sự thật. H. 1970.tr. 627

[7] Đảng Cộng sản ViệtNam. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội,  2006. Tr. 127.

[8] Đảng Cộng sản ViệtNam. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội,  2011. Tr. 85.

[9] Đảng Cộng sản ViệtNam. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội,  2011. Tr. 52.

[10] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1987, tr. 110.

[11] Huy Anh, Phạt nặng chưa phải là “tối thượng”, Báo Pháp luật Việt Nam, số 154 ngày 3 tháng 6 năm 2011.

[12] Dẫn theo GS. TS. Nguyễn Đăng Dung, Sự hạn chế quyền lực nhà nước, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội, Hà Nội, 2005, tr. 211.


Post a comment or leave a trackback: Trackback URL.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: