Bài sau

Tiếp cận quyền tiếp cận thông tin dưới góc độ

quyền con người

              ThS. Lê Thị Hồng Nhung

                                        Viện Nhà nước và pháp luật

Thời gian gần đây, quyền tiếp cận thông tin (TCTT) là một nội dung ngày càng nhận được nhiều sự quan tâm đặc biệt của giới nghiên cứu luật học. Có rất nhiều công trình nghiên cứu, bài viết bàn về các khía cạnh khác nhau của quyền TCTT. Khi tiếp cận quyền TCTT dưới góc độ quyền con người, chúng tôi thấy còn những khoảng trống về quyền TCTT mà chúng ta chưa khai thác hết. Đó là vấn đề TCTT ngoài công quyền, do các công ty, tập đoàn kinh tế nắm giữ, TCTT cá nhân… hay vấn đề về phân loại xem quyền TCTT thuộc nhóm quyền nào trong hai nhóm quyền kinh tế, văn hoá, xã hội và quyền dân sự, chính trị.Dù xuất phát từ quan điểm coi quyền con người là những quyền tự nhiên, gắn bó với một cá nhân từ khi họ sinh ra đến khi họ chết đi hay quan điểm cho rằng, quyền con người cần phải gắn với mối quan hệ giữa cá nhân và Nhà nước, thì ngày nay, mọi Nhà nước tiến bộ đều công nhận công dân nước mình có quyền được TCTT ở những mức độ rộng, hẹp khác nhau. Quyền TCTT được ghi nhận là quyền hiến định. Từ nền tảng quyền TCTT, cá nhân trong xã hội sẽ có cơ sở tiền đề để thực hiện những quyền con người khác. Khi quyền TCTT bị vi phạm thì các quyền con người khác cũng sẽ không được đảm bảo toàn vẹn. Đặc biệt trong các vấn đề liên quan đến quyền kinh tế thì tác động của việc bảo đảm quyền TCTT của công dân được phản ánh rõ nét nhất. Bởi hoạt động đầu tư, kinh doanh trong xã hội hiện đại luôn gắn bó một cách mật thiết với các thông tin thị trường, thông tin xã hội…Quyền TCTT luôn là một bộ phận không thể thiếu của quyền con người. Trong tất cả các công ước quan trọng về quyền con người như Tuyên ngôn Thế giới về Quyền con người1, Công ước quốc tế về Các quyền dân sự, chính trị năm 19662… đều ghi nhận quyền thông tin, quyền TCTT như một cấu thành căn bản.Tiếp cận quyền TCTT dưới góc độ quyền con người sẽ giúp chúng ta thấy được mối liên hệ giữa vai trò của quyền TCTT trong việc đảm bảo thực hiện các quyền con người khác cũng như việc phân định rõ phạm vi TCTT.

1. Về các thuật ngữ “quyền tiếp cận thông tin”, “quyền được thông tin” và “quyền thông tin”

Về mặt thuật ngữ, hiện nay chúng ta vẫn còn “lấn cấn” giữa các khái niệm quyền thông tin, quyền được thông tinquyền TCTT.

Có quan điểm cho rằng, quyền TCTT bao gồm quyền tự do tìm kiếm, tự do tiếp nhận và tự do phổ biến thông tin3. Theo chúng tôi, cách hiểu như vậy là chưa hợp lý. Nó đã vượt ra ngoài khuôn khổ của quyền TCTT.

Ở góc độ ngữ nghĩa, thì “tiếp cận” là một động từ có nghĩa là từng bước, bằng những phương pháp nhất định, tìm hiểu về một vấn đề, công việc nào đó, ví dụ như: cách tiếp cận vấn đề4. Việc tiếp cận chỉ nằm ở phương diện hướng chủ thể đạt đến mục đích thu thập thông tin mà hoàn toàn không đề cập đến vấn đề sử dụng thông tin. Tức vấn đề TCTT không bao hàm nội dung phổ biến thông tin. Chúng ta cần phân biệt rõ giữa quyền TCTT và quyền thông tin.

Quyền thông tin là quyền bao hàm cả quyền tìm kiếm, tiếp nhận và phổ biến thông tin. Quyền này cũng đã được quy định khá rõ trong Tuyên ngôn Thế giới về Quyền con người: “Mọi người đều có quyền tự do ngôn luận và bày tỏ quan điểm; kể cả tự do bảo lưu ý kiến không phụ thuộc vào bất cứ sự can thiệp nào, cũng như tự do tìm kiếm, thu nhận, truyền bá thông tin và ý kiến bằng bất cứ phương tiện thông tin đại chúng nào và không giới hạn về biên giới”5. Hay Công ước quốc tế về Các quyền dân sự, chính trị năm 1966: “Mọi người đều có quyền tự do phát biểu quan điểm bao gồm quyền tự do tìm kiếm, tiếp nhận, và phổ biến mọi tin tức và ý kiến bằng truyền khẩu, bút tự hay ấn phẩm, dưới hình thức nghệ thuật, hay bằng mọi phương tiện truyền thông khác, không kể biên giới quốc gia… Quyền này chỉ có thể bị giới hạn bởi pháp luật vì nhu cầu tôn trọng những quyền tự do, thanh danh của người khác và an ninh quốc gia, trật tự công cộng, sức khỏe công cộng hay đạo lý”6.

Như vậy, so quyền thông tin thì quyền TCTT hẹp hơn, nó chỉ bao gồm hoạt động tìm kiếm và tiếp nhận thông tin.

Mặt khác, Điều 69 Hiến pháp 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) cũng quy định rằng “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí; có quyền được thông tin; có quyền hội họp, lập hội, biểu tình theo quy định của pháp luật”. Điều này có nghĩa, quyền được thông tin (quyền TCTT)7 chỉ mang tính một chiều. Chiều của hoạt động TCTT của chủ thể quyền mà không bao gồm chiều của hoạt động phổ biến thông tin. Nếu quyền được thông tin được hiểu mang tính hai chiều thì đồng nghĩa rằng, nhà lập hiến đã sử dụng thừa cụm từ “quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí”. Quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí chính là ngoại diên của quyền phổ biến thông tin. Từ đây cho thấy, Điều 69 Hiến pháp đã có sự phân biệt giữa quyền được thông tin (quyền TCTT) và quyền phổ biến thông tin.

Như vậy, cần hiểu một cách thống nhất rằng quyền được thông tin (quyền TCTT) là một bộ phận của quyền thông tin. Đây cũng là quan điểm phù hợp với xu hướng chung của thế giới hiện nay.

Về mối quan hệ giữa quyền TCTT và quyền được thông tin, một số tác giả cho rằng, quyền TCTT nằm ngoài quyền được thông tin. Có quan điểm cho rằng, quyền TCTT thể hiện tính chủ động của chủ thể tiếp cận, trong khi đó, quyền được thông tin lại thể hiện một hình thức tiếp cận bị động. Để khẳng định sự khác biệt trong vấn đề này, có ý kiến cho rằng, quyền được thông tin đặt công dân – tuy là chủ nhân tiếp nhận – vào vị trí bị động trong việc TCTT được cung cấp8. Theo chúng tôi, nếu nhìn nhận ở góc độ trên, tác giả mới chỉ xem xét cụm từ “quyền được thông tin” ở góc độ hẹp của khái niệm. “Được thông tin” phải hiểu ở góc độ kết quả thụ hưởng cuối cùng. Sự thụ hưởng ở đây có thể là hiển nhiên (do người khác chủ động cung cấp) cũng có thể là không hiển nhiên. Để được thông tin, các chủ thể thụ hưởng cần phải có những hành động tác động nhất định (yêu cầu cung cấp thông tin) đến chủ thể nắm giữ thông tin. Được thông tin có thể hiểu là kết quả của hành vi chủ động thông tin từ phía chủ thể nắm giữ thông tin tới chủ thể tiếp nhận. Tức là chủ thể nắm giữ thông tin chủ động công khai thông tin và chủ thể tiếp cận thu nhận thông tin một cách bị động. Được thông tin ở đây cũng có thể hiểu là việc chủ thể nắm giữ thông tin đáp ứng các yêu cầu (yêu sách) đòi được cung cấp thông tin của chủ thể tiếp nhận thông tin. Tức là chủ thể nắm giữ thông tin cung cấp thông tin một cách bị động theo các yêu cầu cụ thể của chủ thể tiếp nhận thông tin. Như vậy, cách hiểu quyền được thông tin tức là người dân được đặt ở vị trí bị động khi TCTT là thiếu khoa học và không chính xác. Mặt khác, quyền TCTT cũng phải được hiểu theo hai hướng cả chủ động lẫn bị động. Đó là quyền của các chủ thể bằng cách này hay cách khác tiếp cận các thông tin đã được công khai (tiếp cận thụ động). Đồng thời TCTT cũng là cách tiếp cận mà chủ thể tiếp nhận thông tin phải đưa ra các yêu cầu đối với các chủ thể nắm giữ để có được thông tin mình cần (tiếp cận chủ động). Như vậy, cả hai thuật ngữ “quyền TCTT” và “quyền được thông tin” đều đề cập đến quyền của chủ thể được tự do tìm kiếm và tiếp nhận thông tin. Từ đây cho thấy, nội hàm của quyền được thông tin và quyền TCTT là đồng nhất.

Bên cạnh đó cũng có một cách hiểu khác là quyền được thông tin là quyền của công dân được công bố (phát) thông tin. Tuy nhiên, như phân tích ở trên về Điều 69 Hiến pháp năm 1992 cách hiểu này là không hợp lý và khác với ý tưởng của nhà làm luật. Chúng tôi cho rằng, quyền TCTT và quyền được thông tin đều có chung một nội hàm. Đó là quyền của chủ thể được tiếp cận các thông tin bằng các hình thức khác nhau từ chủ động đến bị động.

2. Phạm vi và sự phân loại quyền tiếp cận thông tin theo các nhóm quyền con người về kinh tế, văn hóa, xã hội và quyền dân sự, chính trị

Chúng ta hiện nay vẫn tự bó hẹp ngoại diên của quyền TCTT khi cho rằng quyền TCTT chỉ áp dụng đối với các thông tin của Nhà nước. Chúng ta cùng xem xét quan điểm sau: Quyền được thông tin là một trong những quyền cơ bản của con người, thuộc nhóm quyền dân sự – chính trị, là quyền của công dân được biết thông tin của Nhà nước, theo các cách thức trực tiếp lẫn gián tiếp, để thỏa mãn các nhu cầu cuộc sống của mình cũng như để bảo vệ và thực hiện các quyền năng khác đã được pháp luật ghi nhận9.

Khái niệm trên về quyền được thông tin (quyền TCTT) có hai vấn đề cần xem xét: Thứ nhất là, có phải quyền TCTT chỉ giới hạn đối với các thông tin của Nhà nước? Và thứ hai, liệu rằng quyền TCTT có thực sự chỉ là quyền dân sự, chính trị?

2.1. Phạm vi của quyền tiếp cận thông tin

Chúng ta có thể thấy rằng, trong thực tiễn đời sống tồn tại nhiều dạng TCTT khác nhau, có thể khái quát thành ba dạng sau:

Dạng tiếp cận thứ nhất, dạng TCTT phổ biến và rộng lớn nhất là dạng TCTT của mọi cá nhân, tổ chức trong xã hội đối với các thông tin do các cơ quan công quyền nắm giữ. Đây là dạng TCTT có phạm vi chủ thể rộng lớn nhất. Chủ thể tiếp cận có thể là bất kỳ cá nhân, tổ chức nào trong xã hội. Chủ thể cung cấp thông tin là các cơ quan công quyền hoặc các cơ quan có sử dụng ngân sách nhà nước hoặc đóng vai trò như cơ quan công quyền. Hay nói khác đi, thông tin được tiếp cận ở đây là thông tin của Nhà nước.

Dạng tiếp cận thứ hai, dạng TCTT cũng mang tính rộng lớn nhưng ít phổ biến hơn đó là việc TCTT của công chúng đối với thông tin của một số công ty, tập đoàn, thậm chí là thông tin cá nhân. Điều này được cho phép khi những thông tin mà các cá nhân, công ty, tập đoàn nắm giữ là những thông tin mang ý nghĩa tác động đến việc đảm bảo quyền con người, đảm bảo các quyền mang tính cộng đồng, quyền của người tiêu dùng… Ví dụ như thông tin về mức độ khí thải, chất thải hàng năm của các công ty, thông tin về các tiêu chuẩn kỹ thuật, vệ sinh môi trường cần phải đáp ứng trong quá trình sản xuất…

Dạng tiếp cận thứ ba, mức độ TCTT hẹp. Đó là quyền của các cổ đông được tiếp cận những thông tin về tình hình hoạt động của công ty. Quyền của các nhà đầu tư tài chính được tiếp cận các báo cáo tài chính, nắm bắt về tình hình tăng trưởng hay giảm sút về mặt lợi nhuận của các công ty có cổ phiếu niêm yết. Hay quyền của đối tác được tiếp cận những thông tin cơ bản về tài chính cũng như về tình hình hoạt động của công ty trước khi quyết định hợp tác. Hoặc quyền của thành viên được biết các thông tin về hoạt động của một tổ chức cụ thể mà anh ta là thành viên…

Chúng ta có thể thấy, chỉ riêng cách tiếp cận thứ ba là có khả năng tự điều chỉnh. Nó thuộc phạm vi điều chỉnh của các quy tắc tổ chức cụ thể. Các chủ thể này là thành viên, người có liên quan với các công ty, tổ chức này trong những mối quan hệ tự nguyện. Với tư cách là người có liên quan, thành viên của tổ chức, họ đương nhiên có quyền tiếp cận các thông tin của tổ chức này ở những mức độ nhất định do các quy tắc tổ chức quản lý nội bộ quy định. Đối với hai dạng tiếp cận đầu là dạng TCTT giữa công dân và Nhà nước, giữa cá nhân và các cơ quan tổ chức không có mối liên hệ về mặt tổ chức hay quan hệ kinh tế. Hai mối quan hệ này hoàn toàn không có cơ chế cho việc TCTT của các chủ thể có liên quan. Nhưng quyền TCTT vẫn là một quyền hiện hữu và có cơ sở. Bởi đó là một quyền con người. Các cá nhân này TCTT hoàn toàn không dựa trên mối liên hệ về mặt tổ chức hay kinh tế mà dựa trên quyền tự nhiên của một con người cần được biết những thông tin liên quan đến đời sống thiết yếu của mình.

Như vậy, việc nhìn nhận quyền TCTT chỉ bó hẹp trong phạm vi thông tin của Nhà nước, thông tin công quyền thực sự có còn hợp lý? Theo chúng tôi, với tinh thần chung tôn trọng phẩm giá con người, quyền TCTT cần được đặt ra không chỉ đối với các thông tin của Nhà nước mà còn bao gồm cả một số thông tin tư nhân do các cá nhân, tổ chức nắm giữ. Con người cần được biết những thông tin ảnh hưởng hoặc có khả năng ảnh hưởng đến đời sống, sự tồn tại của họ. Việc tiếp cận các thông tin của các cá nhân, tổ chức ngoài quyền lực công cần thiết được đặt ra khi nó có tác động tới việc đảm bảo quyền con người, nhất là các quyền mang tính cộng đồng.

Từ những phân tích trên, chúng tôi cho rằng, cần nhìn nhận quyền TCTT là quyền của công chúng được tiếp cận các thông tin do Nhà nước, các cá nhân, cơ quan, tổ chức nắm giữ một cách trực tiếp hoặc gián tiếp, bị động hoặc chủ động để thỏa mãn các nhu cầu hợp pháp của mình cũng như để thực hiện các quyền năng khác đã được pháp luật ghi nhận.

2.2. Phân loại quyền TCTT theo các nhóm quyền con người về kinh tế, văn hóa, xã hội và quyền dân sự, chính trị

Theo xu hướng chung, chúng ta vẫn thường nghiên cứu, xem xét quyền TCTT hay quyền được thông tin dưới góc độ là một quyền dân sự, chính trị10. Đặt ngược vấn đề, liệu có cần thiết khi phân loại quyền TCTT vào các nhóm quyền con người hay không? Chúng tôi cho rằng, quyền TCTT không chỉ đơn thuần là một quyền dân sự, chính trị mà chúng ta cần nhìn nhận nó ở một góc độ rộng hơn. Nếu để phân loại thì quyền TCTT sẽ là một thứ quyền lưỡng tính. Quyền TCTT sẽ là cơ sở bảo đảm cho các quyền khác như quyền tham gia quản lý nhà nước hay các quyền kinh tế, văn hóa, xã hội khác. Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay, vai trò của thông tin đã được đưa lên ở tầm đặc biệt quan trọng. Thông tin mang tính chất của một thứ hàng hóa siêu lợi nhuận. Mua bán thông tin đang trở thành một xu thế có thực trong đời sống hiện đại.

Ngày nay, ngay cả thông tin vốn được cho là quyền sở hữu riêng của các công ty, tập đoàn trong những trường hợp nhất định cũng phải được cung cấp cho công chúng nhằm bảo đảm những quyền con người cụ thể mà pháp luật đã ghi nhận. Từ đó cho thấy, cần thiết phải có một cách hiểu rộng hơn về quyền TCTT.

Tính tích cực của quyền TCTT không chỉ dừng lại ở việc tiếp nhận thông tin. Lợi ích mà thông tin đưa lại mới là điều đáng bàn trong vấn đề TCTT. Việc tiếp cận các thông tin sẽ mở ra những cơ hội, những lợi ích cho các chủ thể tiếp nhận. Lợi ích đó có thể là lợi ích về kinh tế, văn hoá, xã hội hay lợi ích về dân sự, chính trị. Khi dân chúng được thông tin đầy đủ về các chính sách quản lý của Nhà nước cũng đồng nghĩa với việc chúng ta đang mở ra khả năng cho một cơ chế phản biện xã hội. Người dân sẽ có điều kiện tốt hơn để tham gia vào công việc quản lý xã hội. Như vậy, quyền TCTT dưới góc độ này có thể tạo ra những lợi ích về chính trị cho các cá nhân với tư cách là công dân của một Nhà nước. Vì thế, ở góc độ nào đó, nó có thể được xếp vào nhóm các quyền dân sự, chính trị. Bên cạnh đó, các thông tin về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, thông tin về đấu giá, thông tin đấu thầu… lại là cơ sở cho việc đưa ra quyết sách đầu tư của chủ thể tiếp nhận thông tin. Thông tin càng kịp thời, đầy đủ và chính xác thì các quyền về kinh tế của chủ thể càng được đảm bảo… Ví dụ nhỏ này cho thấy, chúng ta cũng có thể đưa quyền TCTT vào nhóm quyền kinh tế, văn hoá, xã hội. Rõ ràng, trong trường hợp này tính tương đối của việc phân chia các quyền con người thành quyền dân sự, chính trị hay quyền kinh tế, văn hoá, xã hội đã biểu hiện rất cụ thể. Vì vậy, vấn đề phân loại, xếp quyền TCTT vào nhóm quyền kinh tế, văn hoá, xã hội hay nhóm quyền dân sự, chính trị liệu có phải là một việc làm thích hợp và có ích? Chúng tôi cho rằng, việc làm này thực sự không mang lại ý nghĩa gì nhiều xét ở góc độ bảo đảm quyền con người. Bởi lẽ quyền TCTT đã thể hiện một vai trò lớn hơn, vai trò của một quyền tiền đề cho những quyền khác.

Có thể khẳng định rằng, quan điểm về việc mở rộng quyền TCTT đối với các thông tin do chủ thể nằm ngoài quyền lực công nắm giữ như các tập đoàn, công ty… không phải là một vấn đề mới. Vấn đề này đã được thực tế pháp lý quốc tế công nhận. Nhật Bản đã ban hành một đạo luật riêng áp dụng đối với các công ty, tập đoàn công quy định về quyền tiếp cận các thông tin do các chủ thể này nắm giữ. Jamaica thì đưa cả các công ty do Nhà nước sở hữu 50% vốn vào diện điều chỉnh của luật TCTT. Trong khi đó, Luật về TCTT của Ấn Độ được áp dụng đối với các cơ quan được Chính phủ sở hữu, kiểm soát hoặc rót kinh phí. Đặc biệt, pháp luật về TCTT của Nam Phi đòi hỏi các cơ quan tư nhân, được định nghĩa là các chủ thể thương mại, phải chịu trách nhiệm công khai thông tin cần thiết khi thực thi hoặc bảo vệ bất cứ quyền nào. Nhiều thông tin do các cơ quan tư nhân nắm giữ cũng phải được tiếp cận vì lợi ích công cộng11.

Hiện nay, Luật TCTT của chúng ta đang trong quá trình soạn thảo. Thế nhưng, qua nghiên cứu nội dung của dự thảo Luật TCTT, chúng tôi thấy, dự thảo hiện nay chưa tiếp thu, kế thừa những tiến bộ của các quan điểm lập pháp kể trên trong vấn đề mở rộng phạm vi thông tin mà các cá nhân, cộng đồng được phép tiếp cận. Theo tinh thần của dự thảo, trong quan điểm về quyền TCTT chỉ nhấn mạnh về nghĩa vụ của Nhà nước đối với việc bảo đảm quyền TCTT cho người dân mà chưa quan tâm đến quyền TCTT của người dân đối với các thông tin do các cá nhân, cơ quan, tổ chức ngoài quyền lực công đang nắm giữ12.

Cũng cần phải nói thêm rằng, trong các quy định của pháp luật Việt Nam, chúng ta vẫn tìm thấy quy định về trách nhiệm cung cấp thông tin của các chủ thể ngoài quyền lực công. Ví dụ như: quy định về việc buộc các tổ chức, đặc biệt là các doanh nghiệp trong việc cung cấp thông tin về sản phẩm, tiêu chuẩn chất lượng hàng hóa, dịch vụ đến người tiêu dùng13. Tiếp thu điều này, Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng đã quy định cụ thể hơn về nghĩa vụ của thương nhân trong việc công khai các thông tin liên quan đến sản phẩm. Thế nhưng, đây mới chỉ là những quy định đơn lẻ, quyền TCTT của người dân và nghĩa vụ cung cấp thông tin của các chủ thể không phải là Nhà nước ở rất nhiều lĩnh vực khác vẫn đang bị bỏ ngỏ. Và có phải vì thế mà hiện nay, chúng ta vẫn ngỡ ngàng khi báo chí phanh phui sự việc công ty X, tập đoàn Y gây ô nhiễm môi trường tác động đến hàng ngàn người dân vô tội? Thậm chí gây ô nhiễm môi trường sinh thái không thể phục hồi được, cướp đi quyền được sống trong môi trường trong lành của thế hệ mai sau? Ví dụ này cho thấy, trách nhiệm cung cấp thông tin của các chủ thể ngoài quyền lực công cần thiết phải được quy định trong Luật TCTT.

(1) Điều 19, Tuyên ngôn thế giới về Quyền con người năm 1948.

 (2) Điều 19, Công ước quốc tế về Các quyền dân sự, chính trị năm 1966..

 (3) Tường Duy Kiên (2008), Quyền TCTT: quy định quốc tế và pháp luật của một số nước trên thế giới, trong Quyền TCTT – Sách tham khảo phục vụ nghiên cứu, giảng dạy, Viện Nghiên cứu quyền con người, Học viện Chính trị – Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, tr, 37.

 (4) Từ điển trực tuyến: http://vdict.com/tiếp%20 cận,3,0,0.html và http://tratu.vn/dict/vn_vn/Ti%E1%BA%BFpc%E 1% BA%ADn

 (5) Điều 19, Tuyên ngôn thế giới về Quyền con người năm 1948.

 (6) Điều 19, Công ước quốc tế về Các quyền dân sự, chính trị năm 1966.

 (7) Về vấn đề sử dụng thuật ngữ quyền TCTT và quyền được thông tin sẽ được trình bày ở phần tiếp theo.

 (8) Ngô Đức Mạnh (2008), Quyền TCTT (Sách tham khảo phục vụ nghiên cứu và giảng dạy), Viện Nghiên cứu Quyền con người, Hà Nội, tr. 56.

 (9) Trần Văn Long (2010), Quyền được thông tin của công dân trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng ở nước ta hiện nay, Luận văn Thạc sĩ luật học, Hà Nội, tr. 12.

 (10) Xem thêm các bài viết: Khái quát chung về quyền con người, quyền TCTT trong hệ thống quyền con người – TS. Nguyễn Đức Thùy (Tập tài liệu tham khảo phục vụ nghiên cứu và giảng dạy, Viện Nghiên cứu quyền con người, Hà Nội 2008); Quyền được thông tin của công dân trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng ở nước ta hiện nay – Luận văn Thạc sĩ luật học – Trần Văn Long, Hà Nội 2010…

 (11) Xem thêm: Bộ Tư pháp (2009), Phân tích, so sánh pháp luật về quyền TCTT của một số quốc gia trên thế giới. http://vbqppl.moj.gov.vn/ct/tintuc/Lists/ThongTinKhac/View_Detail.aspx?ItemID=3863

 (12) Khoản 1, Điều 2 Dự thảo quy định: “Luật này quy định về quyền TCTT của công dân, tổ chức; trách nhiệm của cơ quan nhà nước trong việc bảo đảm quyền TCTT; hình thức, trình tự, thủ tục và các biện pháp bảo đảm thực hiện quyền TCTT”. Và xem Điều 4. Cơ quan có trách nhiệm cung cấp thông tin…

 (13) Trích Pháp lệnh Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng:

           Điều 14

          Tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ có đăng ký kinh doanh phải đăng ký, công bố tiêu chuẩn, chất lượng hàng hoá, dịch vụ theo quy định của pháp luật và thực hiện đúng cam kết với người tiêu dùng; phải thường xuyên kiểm tra về an toàn, chất lượng hàng hoá, dịch vụ, thực hiện việc cân, đong, đo, đếm chính xác.

           Chính phủ quy định cụ thể việc bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong trường hợp sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ không đăng ký, công bố tiêu chuẩn, chất lượng hàng hoá, dịch vụ.

           Điều 15

      Tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ phải thông tin, quảng cáo chính xác và trung thực về hàng hoá, dịch vụ; niêm yết giá hàng hoá, dịch vụ; công bố điều kiện, thời hạn, địa điểm bảo hành và hướng dẫn sử dụng hàng hoá, dịch vụ của mình cho người tiêu dùng.

Bài đã đăng trên Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số Số 5/2011, tr. 22 – 27.

Post a comment or leave a trackback: Trackback URL.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: