Bài tham gia Hội thảo Việc

 

KHÁI NIỆM VIỆC LÀM, VIỆC LÀM BỀN VỮNG VÀ KIẾN NGHỊ ĐỐI VỚI VIỆC

XÂY DỰNG LUẬT VIỆC LÀM

                                                                   Bùi Đức Hiển

                                                                  Viện Nhà nước và Pháp luật

Đặt vấn đề

Khoảng hơn 20 năm trở về trước, có lẽ không một ai trong chúng ta lại nghĩ đến một một ngày nào đó, Nhà nước lại phải ban hành một đạo luật về việc làm. Mặc dù trên thực tế thời kỳ này cũng có những người thất nghiệp và bán thất nghiệp (thiếu việc làm). Điều này cũng dễ hiểu bởi đất nước chúng ta khi đó vẫn là nền kinh tế tập trung, quan liêu, bao cấp, người lao động làm việc trong các doanh nghiệp của Nhà nước chỉ làm theo kế hoạch mà không cần phải quan tâm hay lo lắng hàng hóa có bán được hay không, hàng hóa làm ra bao nhiêu Nhà nước phân phối hết đến đó[1]; hoặc tham gia làm việc tập thể trong các hợp tác xã theo công, điểm, nên không phải lo mất việc làm. Hơn nữa, thời kỳ này mọi người có nhiều vấn đề cần phải quan tâm hơn là vấn đề thất nghiệp như phục vụ chiến đấu bảo vệ tổ quốc, điều kiện sống giữa mọi người đều khó khăn, đói khổ hầu như không khác nhau… Do vậy vấn đề việc làm chưa trở thành vấn đề xã hội “nóng bỏng” trong thời kỳ này.

Đại hội VI của Đảng năm 1986 đã mở đầu cho chiến lược cải cách mở cửa phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta[2]. Kinh tế thị trường bên cạnh những ưu điểm, cũng có những tồn tại nhất định, trong nền kinh tế thị trường vấn đề lợi ích luôn được đặt lên hàng đầu… Do vậy sự cạnh tranh lẫn nhau để tranh giành lợi nhuận, thị trường, lao động… là rất khốc liệt. Điều đó một mặt thúc đẩy các cá nhân, doanh nghiệp tham gia vào hoạt động kinh tế phải cải tiến khoa học, công nghệ, nâng cao năng lực của các tổ chức, cá nhân. Nhưng cũng làm cho nhiều doanh nghiệp bị sức ép quá lớn phải thu hẹp sản xuất, cắt giảm lao động thậm chí là bị phá sản…[3] dẫn tới số người lao động bị mất việc rất lớn, gây ra nhiều vấn đề xã hội. Thậm chí ở nhiều quốc gia, thất nghiệp là nguyên nhân chính dẫn tới khủng hoảng kinh tế, chính trị[4]… Nhận thức được tầm quan trọng của vấn nạn thất nghiệp, Đảng[5] và Nhà nước ta đã ban hành nhiều chính sách, pháp luật để tạo việc làm và bảo đảm việc làm cho người lao động, đặc biệt là sắp thông qua Luật Việc làm đã tạo hành lang pháp lý thuận lợi cho cho người lao động tham gia vào thị trường lao động… Để Luật Việc làm được xây dựng hiệu quả đáp ứng được nhu cầu thực tiễn thì việc hiểu đúng bản chất của việc làm, thực tiễn điều chỉnh và thực hiện pháp luật về việc làm và việc làm bền vững ở Việt Nam; kiến nghị hoàn thiện đóng vai trò quan trọng. Bài viết này sẽ góp phần làm sáng tỏ điều đó.

1. Việc làm bền vững: khái niệm, đặc điểm, vai trò và ý nghĩa

          1.1. Khái niệm, đặc điểm của việc làm

Việc làm là một thuật ngữ thường xuyên được nhắc đến trong nền kinh tế thị trường. Tuy nhiên, hiểu thế nào là việc làm cũng có nhiều quan niệm, tùy theo cách tiếp cận.

Dưới góc độ lý luận, Mác cho rằng:“việc làm là phạm trù để chỉ trạng thái phù hợp giữa sức lao động và những điều kiện cần thiết (vốn, tư liệu sản xuất, công nghệ,…) để sử dụng sức lao động đó”. Trong đó sức lao động do người lao động sở hữu, còn những điều kiện cần thiết như vốn, tư liệu sản xuất, công nghệ,… có thể do người lao động có quyền sở hữu, sử dụng hay quản lý hoặc chủ sử dụng lao động nắm giữ….   

Dưới góc độ kinh tế – xã hội, việc làm là các hoạt động tạo ra, đem lại lợi ích, thu nhập cho NLĐ được xã hội thừa nhận. Mỗi cá nhân có thể tham gia công việc nào đó để được trả công hoặc tham gia vào các hoạt động mang tính chất tự tạo việc làm như dùng các tư liệu sản xuất kinh doanh nhằm thu lợi nhuận hoặc tự làm những công việc cho hộ gia đình mình. Bên cạnh vấn đề cá nhân, việc làm còn là vấn đề của cộng đồng của xã hội. Sở dĩ có sự phát sinh này là do: con người không sống đơn lẻ và hoạt động lao động của mỗi cá nhân cũng không đơn lẻ mà nằm trong tổng thể các hoạt động sản xuất của xã hội. Hơn nữa, việc làm và thu nhập không phải là vấn đề mà lúc nào mỗi cá nhân NLĐ cũng quyết định được. Sự phát triển quá nhanh của dân số, mức độ tập trung tư liệu sản xuất ngày càng cao vào tay một số cá nhân dẫn đến tình trạng xã hội ngày càng có nhiều người không có khả năng tự tạo việc làm. Trong điều kiện đó, mỗi cá nhân phải huy động mọi khả năng của bản thân để tự tìm việc làm cho mình, phải cạnh tranh để tìm việc làm.

Dưới góc độ pháp lý

+ Theo quan niệm quốc tế

 Tổ chức lao động quốc tế ILO (International Labour Organization) đưa ra khái niệm: người có việc làm là những người làm việc gì đó được trả tiền công, lợi nhuận hoặc được thanh toán bằng hiện vật hoặc những người tham gia vào hoạt động mang tính chất tự tạo việc làm vì lợi ích hay vì thu nhập gia đình không được nhận tiền công hoặc hiện vật. Khái niệm này còn được đưa ra tại Hội nghị quốc tế lần thứ 13 của các nhà thống kê lao động ILO.[6]

+ Theo quan niệm của Việt Nam:

Đã được hơn 25 năm kể từ khi đất nước ta chuyển sang nền kinh tế thị trường, theo đó quan niệm về việc làm và vấn đề liên quan như thất nghiệp, chính sách giải quyết việc làm đã có những thay đổi cơ bản. Hiến Pháp năm 1992 quy định: “Lao động là quyền và nghĩa vụ của công dân. Nhà nước và xã hội có kế hoạch tạo ngày càng nhiều việc làm cho NLĐ” (Điều 55). Từ quan niệm nay đã mở ra bước chuyển căn bản trong nhận thức về việc làm. Trên cơ sở này, Bộ luật Lao động Việt Nam đã quy định: “Mọi hoạt động lao động tạo ra nguồn thu nhập không bị pháp luật cấm đều được thừa nhận là việc làm” (Điều 13 Bộ luật Lao động).

          Trong Dự thảo Luật Việc làm “Việc làm” là hoạt động tạo ra nguồn thu nhập, không bị pháp luật cấm”.

          Có thể thấy quan niệm về việc làm trong Bộ luật Lao động hiện hành và Dự thảo Luật Việc làm là như nhau. Tuy vậy, qua nghiên cứu các quan niệm về việc làm, chúng tôi cho rằng cần làm rõ nguồn thu nhập ở đây là như thế nào? Có phải cứ thực hiện công việc nhất định và bắt buộc phải có thu nhập thì mới coi đó là việc làm hay không; nguồn thu nhập có đồng nghĩa với các lợi ích hoặc nhu cầu nào đó mà người lao động đó có được sau khi làm việc hay không?

Do vậy để hạn chế những tồn tại này, chúng tôi cho rằng: việc làm là tất cả những hoạt động, những công việc không bị pháp luật cấm, có tạo ra nguồn thu nhập hoặc các lợi ích hay phục vụ cho nhu cầu hợp pháp nào đó.

Đặc điểm của việc làm

Một là, về chủ thể thường hình thành giữa bên bán sức lao động và bên mua sức lao động. Tuy nhiên, có ngoại lệ là người lao động có thể làm việc cho chính mình. Ví dụ: trồng trọt trên đất của mình hoặc mở cửa hàng dịch vụ tự kinh doanh,…;

Hai là, về đối tượng của việc làm là sức lao động, người đi làm việc phải sử dụng sức lao động để thực hiện một công việc nhất định, còn người sử dụng lao động hay người thuê làm việc phải trả một khoản tiền nhất định.

Ba là, về mục đích của việc làm là được hưởng một khoản thu nhập hoặc các lợi ích, nhu cầu nào đó nhằm thỏa mãn nhu cầu của người lao động cũng như thành viên gia đình họ. Ỏ mức độ lớn hơn mục đích việc làm nhằm ổn định kinh tế, xã hội.

Bốn là, hoạt động này phải hợp pháp: hoạt động làm công việc nhất định nhưng bị pháp luật cấm thì không được coi là việc làm. Ví dụ: buôn bán ma túy,…

Tùy theo điều kiện kinh tế – xã hội, tập quán, quan niệm về đạo đức của từng nước mà pháp luật có sự quy định khác nhau trong việc xác định tính hợp pháp của các hoạt động lao động được coi là việc làm. Đây là dấu hiệu thể hiện đặc trưng tính pháp lí của việc làm.

1.2. Khái niệm, đặc  điểm việc làm bền vững

Khái niệm việc làm bền vững

Những năm vừa qua, chúng ta nói nhiều đến vấn đề phát triển bền vững. Tư tưởng về phát triển bền vững đã có từ lâu trong lịch sử nhân loại, nhưng thuật ngữ phát triển bền vững thì mới chính thức ra đời vào những năm 80 của thế kỷ 20 ban đầu nó được dùng để chỉ sự phát triển hài hòa giữa con người và giới tự nhiên, nhưng ngày nay thuật ngữ này được mở rộng thêm cả về mặt xã hội[7], như: xã hội bền vững, giáo dục bền vững, việc làm bền vững,.... Về thuật ngữ bền vững hiểu nôm na để chỉ sự phát triển lâu dài, ổn định và hiệu quả, không làm mất, làm phai nhạt những giá trị đã có, đang có và sẽ có. Ở Việt Nam, về việc làm bền vững cũng có nhiều cách hiểu khác nhau. Nếu hiểu việc làm bền vững dưới giác độ là một công việc cụ thể thì theo chúng tôi: việc làm bền vững là những công việc, hoạt động được người lao động tự do lựa chọn phù hợp với trình độ, năng lực của mình không bị pháp luật cấm, trong điều kiện bình thường người lao động có thể làm việc hiệu quả, lâu dài và ổn định, có nguồn thu nhập tương xứng với sức lao động họ bỏ ra và được bảo đảm các quyền lợi về an sinh xã hội theo quy định của pháp luật.

Còn dưới giác độ nhà quản lý, việc làm bền vững được nhìn nhận thông qua những chính sách, quản lý nhằm đảm bảo cho một thị trường lao động công bằng, rộng mở cho tất cả mọi người, ai cũng có thể tìm kiếm được việc làm ổn định, phù hợp với khả năng và được hưởng thu nhập, lợi ích xứng đáng với công sức họ bỏ ra cũng như các chế độ an sinh xã hội khác nhằm khai thác, sử dụng hiệu quả sức lao động,…góp phần đẩy mạnh ổn định xã hội và phát triển đất nước. Do vậy hiểu thể nào là việc làm bền vững ở đây cần có sự nhìn nhận đa chiều và tùy theo mục đích của nhà nghiên cứu. Trong bài viết này chúng tôi sẽ nhìn nhận, đánh giá về việc làm bền vững trên cơ sở các tiếp cận trên.

Đặc điểm của việc làm bền vững

Một là, cũng như việc làm, việc làm bền vững là những công việc, những hoạt động không bị pháp luật cấm;

Hai là, công việc đó phải phù hợp với trình độ, năng lực của người lao động;

Ba là, về thời gian, công việc đó được thực hiện thường xuyên, ổn định, trong thời gian dài phù hợp với các quy định của pháp luật lao động;  

Bốn là, về thu nhập, công việc đó tạo ra nguồn thu nhập hoặc các lợi ích khác tương xứng với sức lao động mà họ bỏ ra. Bên cạnh đó người lao động được đảm bảo các chế độ về xã hội khác theo quy định của pháp luật;   

Năm là, thị trường lao động phải ổn định, trong điều kiện bình thường người lao động có nhu cầu tìm việc có thể tìm được công việc phù hợp với khả năng và trình độ của mình;

     1.3. Vai trò và ý nghĩa của việc làm, việc làm bền vững

 Dưới giác độ kinh tế -xã hội:

Về mặt kinh tế, việc làm luôn gắn liền với vấn đề sản xuất. Hiệu quả của việc giải quyết tốt vấn đề việc làm cũng chính là hiệu quả của sản xuất. Kinh tế phát triển sẽ tạo điều kiện để giải quyết tốt vấn đề việc làm và ngược lại, nếu không giải quyết tốt vấn đề việc làm và thất nghiệp thì đó sẽ là những yếu tố kìm hãm sự tăng trưởng của kinh tế.

Về mặt xã hội, bảo đảm việc làm là chính sách xã hội có hiệu quả to lớn trong vấn đề phòng, chống, hạn chế các tiêu cực xã hội, giữ vững được kỉ cương, nề nếp xã hội. Thất việc và việc làm không đầy đủ, thu nhập thấp là tiền đề của sự đói nghèo, thậm chí là điểm xuất phát của tệ nạn xã hội. Các tệ nãn của xã hội như tội phạm, ma túy, mại dâm, có nguyên nhân cốt lõi là việc làm và thất nghiệp.

Dưới giác độ chính trị – pháp lí

Hậu quả của việc thất nghiệp, thiếu việc làm không những ảnh hưởng tới kinh tế- xã hội mà còn đe dọa lớn đối với an ninh vã sự ổn định của mỗi quốc gia.. Chính vì vậy ở bất kì quốc gia nào, việc làm đã, đang và luôn là vấn đề gay cấn nhạy cảm đối với từng cá nhân, từng gian đình đồng thời cũng là vấn đề xã hội lâu dài, vừa cấp bách nếu không được giải quyết tốt có thể trở thành vấn đề chính trị.

Còn trên bình diện pháp lý, việc làm là phạm trù thuộc quyền cơ bản của con người, đóng vai trò là cơ sở hình thành, duy trì và là nội dung của quan hệ lao động. Khi việc làm không còn tồn tại, quan hệ lao động cũng theo đó mà triệt tiêu, không còn nội dung, không còn chủ thể.

Trên bình diện quốc gia – quốc tế

Đối với mỗi quốc gia, chính sách việc làm và giải quyết việc làm là bộ phận có vị trí quan trọng đặc biệt trong hệ thống các chính sách xã hội nói riêng và trong tổng thể chính sách phát triển kinh tế xã hội nói chung. Chính sách xã hội của nhà nước ở hầu hết các quốc gia đều tập trung vào một số các lĩnh vực như thị trường lao động, bảo đảm việc làm, bảo hiểm xã hội… Chính sách việc làm là chính sách cơ bản nhất của quốc gia, góp phần bảo đảm an toàn, ổn định và phát triển xã hội.[8]

Tuy nhiên, trong thời đại ngày nay, vấn đề lao động việc làm không chỉ dừng lại ở phạm vi quốc gia mà nó còn có tính toàn cầu hóa, tính quốc tế sâu sắc. Vấn đề hợp tác, đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài cũng được đặt ra đồng thời với việc chấp nhận lao động ở nước khác đến làm việc tại nước mình. Điều này giúp cân bằng lao động. Lao động từ nước kém phát triển sang làm việc ở nước phát triển, từ nước dư thừa lao động sang nước thiếu lao động. Trong thị trường đó, cạnh tranh không chỉ còn là vấn đề giữa những NLĐ mà còn trở thành vấn đề giữa các quốc gia. Từ đó vấn đề lao động việc làm còn được điều chỉnh hoặc chịu sự ảnh hưởng chi phối của các công ước quốc tế về lao động. Các nước dù muốn hay không cũng phải áp dụng hoặc tiếp cận với những “luật chơi chung” và “sân chơi chung” càng ngày càng khó khăn và quy mô hơn.

2. Thực trạng việc làm và pháp luật về việc làm ở nước ta hiện nay

Có việc làm là nhu cầu tất yếu của mọi người trong nền kinh tế thị trường và việc làm bền vững là mục tiêu hướng tới của mỗi cá nhân, cộng đồng và nhà nước. Trên phạm vi quốc tế, vấn đề việc làm và việc làm bền vững về việc làm bền vững đã được ghi nhận trong nhiều công ước quốc tế như: công ước số 100 về trả công bình đẳng giữa lao động nam và nữ cho một công việc ngang nhau năm 1959, Công ước số 111 về phân biệt đối xử trong việc làm và nghề nghiệp năm 1958) mà nước ta phê chuẩn, gia nhập là các nguồn pháp luật quan trọng cho việc tổ chức thực hiện pháp luật việc làm. Dự kiến cuối năm nay, sẽ trình Chủ tịch nước phê chuẩn việc gia nhập Công ước 122 về chính sách việc làm… Những công ước này đã tạo ra những nguyên tắc, những giá trị phổ quát liên quan đến việc làm trên toàn thế giới. Là cơ sở, là tiền đề để các quốc gia hoàn thiện pháp luật về việc làm.

Ở Việt Nam những năm trở lại đây, Nhà nước ta đã ban hành rất nhiều văn bản pháp luật điều chỉnh quan hệ việc làm, như: Hiến pháp năm 1992; Bộ luật Dân sự, Bộ luật Lao động 1994; Luật Bảo hiểm xã hội năm 2006, Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng năm 2006, Luật Dạy nghề, Luật Doanh nghiệp năm 2005… những quy định này đã góp phần điều chỉnh có hiệu quả quan hệ lao động ở Việt Nam, góp phần tích cực cho công cuộc phát triển đất nước[9]. Tuy nhiên, thực tiễn điều chỉnh và thực hiện pháp luật về việc làm cũng cho thấy còn những tồn tại, hạn chế nhất định: một là, về đào tạo những năm vừa qua chúng ta vướng phải bài toán “thừa thầy thiếu thợ”; đào tạo không phù hợp với yêu cầu của thị trường, thiếu sự kết nối giữa các cơ sở đào tạo với các doanh nghiệp sử dụng lao động. Do vậy nhiều người lao động ra trường không tìm kiếm được việc làm phù hợp với chuyên môn của mình hoặc không tìm được việc làm (thất nghiệp),…; hai là, về thực trạng thông tin thị trường lao động ở nước ta về cơ bản được cải thiện, có nhiều kênh thông tin về giới thiệu việc làm được mở ra, như: trung tâm giới thiệu việc làm, hội trợ việc làm, các trang báo giấy, báo mạng chuyên về tuyển dụng,… tạo điều kiện thuận lợi cho người lao động tiếp cận việc làm. Tuy nhiên, mảng thông tin về thị trường lao động trong nước và nước ngoài ở nước ta vẫn còn ít, thiếu đa dạng các ngành nghề ảnh hưởng đến tiếp cận việc làm của người lao động. Hơn nữa, việc kiểm chứng, quản lý các thông tin này cùng còn nhiều vấn đề phải bàn.…; ba là, tổng việc làm của nền kinh tế tăng nhưng chưa tương xứng với tốc độ tăng trưởng kinh tế. Cụ thể, những năm vừa qua hệ số co giãn việc làm ở nước ta chỉ đạt mức trung bình 0,28% (tức là khi GDP tăng thêm 1% thì việc làm chỉ tăng 0,28%), so với các nước trong khu vực hệ số co giãn việc làm còn thấp. Điều này có nghĩa là tăng trưởng chưa tạo ra nhiều việc làm, đem lại lợi ích cho người lao động[10]; bốn là, về việc làm trong lĩnh vực nông, lâm, ngư nghiệp. Theo thống kê, hiện cả nước vẫn còn trên 50% lao động làm việc trong lĩnh vực nông nghiệp, tình trạng thiếu việc làm ở nông thôn vẫn trầm trọng (chiếm tỷ trọng gần 97% trong tổng số lao động thiếu việc làm chung). Có thể thấy đa phần lao động nước ta làm việc trong lĩnh vực nông nghiệp, đặc thù của lĩnh vực này là làm theo mùa vụ, công việc thiếu ổn định. Do vậy người lao động sau khi xong mùa vụ, họ có thời gian rảnh dỗi rất lớn và thường lên các thành phố lớn để tìm việc gây nên sức ép về dân số, an ninh, trật tự cho các thành phố này… Điều đó cũng cho thấy sức lao động của người dân vẫn chưa được sử dụng hiệu quả cho quá trình phát triển đất nước; năm là, về việc làm trong các doanh nghiệp ở khu vực ngoài nhà nước. Mặc dù, sự chuyển dịch cơ cấu lao động đã có tín hiệu tích cực, nhưng chưa theo kịp tốc độ chuyển dịch cơ cấu kinh tế và việc phân phối, sử dụng lao động trong các khu vực kinh tế mất cân đối. Cụ thể, ở khu vực ngoài nhà nước sử dụng (trên 87%) lao động xã hội, nhưng đại bộ phận làm việc ở hộ cá thể, sản xuất nhỏ phân tán, phi chính thức với trình độ công nghệ, phương thức sản xuất lạc hậu, năng suất lao động thấp. Kết quả điều tra cho thấy tỷ lệ việc làm không bền vững chiếm tỷ lệ 2/3 hoặc 3/4. Tình trạng việc làm khu vực phi chính thức (chiếm tỷ lệ 70% trong tổng số việc làm) nhưng không được hưởng chính sách an sinh xã hội, luôn đối mặt với việc làm bấp bênh, thu nhập thấp, ít được bảo vệ. Đó là cái vòng luẩn quẩn trong bức tranh chung của thị trường lao động Việt Nam: chất lượng lao động thấp dẫn đến lương thấp, năng suất lao động thấp và cuối cùng cản trở tốc độ tăng trưởng kinh tế; sáu là, về việc làm trong các cơ quan của nhà nước. Dưới góc độ pháp lý những lao động này thuộc sự điều chỉnh của pháp luật về cán bộ, công chức và những công việc họ làm là ở các cơ quan công quyền. Đây có thể được đánh giá là khu vực tương đối ổn định, tuy nhiên những năm vừa qua có hiện tượng người lao động chuyển ra bên ngoài rất nhiều, đặc biệt là trong ngành giáo dục ở thành phố Hồ Chí Minh. Điều này một mặt phản ánh tư duy của một bộ phận người dân đã thay đổi, không hẳn cứ nhất thiết phải làm việc trong cơ quan nhà nước mới là ổn định, và nó cũng cho thấy cơ hội lựa chọn việc làm của người lao động ngày càng được mở rộng hơn. Tuy nhiên, nó cũng cho thấy lao động làm việc trong khu vực này không phải không có vấn đề; bảy là, về thực trạng lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài. Những năm vừa qua nước ta đã đưa hàng trăm nghìn lao động đi làm việc ở nước ngoài và số lượng này còn tăng trong các năm tới, nhưng việc đưa người lao động Việt Nam đi làm việc tại nước ngoài hiện nay cũng gặp nhiều vấn đề: một số thị trường truyền thống của lao động Việt Nam bị thu hẹp, một số nước bị khủng hoảng kinh tế cũng siết chặt thị trường lao động. Hơn nữa, nhiều vấn đề nảy sinh từ người đi lao động, doanh nghiệp môi giới cũng như chính doanh nghiệp sử dụng lao động ở nước ngoài[11]; tám là, về thực trạng lao động thất nghiệp. Bên cạnh số lao động bị thiếu việc làm hàng năm lớn, thì nạn thất nghiệp ở nước ta cũng ngày càng gia tăng do nhiều nguyên nhân, trong đó có khủng hoảng kinh tế dẫn tới nhiều doanh nghiệp bị phá sản, người lao động bị mất việc làm[12]. Hơn nữa, việc quản lý lao động thất nghiệp là một vấn đề vô cùng khó khăn, mặc dù chúng ta đã có cơ chế quản lý qua hồ sơ đăng ký thất nghiệp, nhưng cơ quan này không thể kiểm soát, thống kê chính xác số lao động bị mất việc thực sự…; chín là, về pháp luật việc làm ở nước ta, ngày càng được hoàn thiện. Tuy nhiên, các quy định này vẫn còn tản mạn, thiếu thống nhất, đồng bộ và vẫn còn những hạn chế, bất cập cần được nghiên cứu hoàn thiện[13]. Từ những thực tiễn và pháp lý trên cho thấy vấn đề việc làm ở Việt Nam hiện nay là chưa bền vững.

3. Sự thể hiện của vấn đề việc làm bền vững trong Dự thảo Luật Việc làm Việt Nam và kiến nghị hoàn thiện

3.1. Sự thể hiện của vấn đề việc làm bền vững trong Dự thảo Luật Việc làm Việt Nam

Mặc dù nước chưa có một chiến lược tổng thể dài hạn về phát triển việc làm bền vững, nhưng qua nghiên cứu các quy định trong Dự thảo Luật Việc làm có thể thấy quan điểm về việc làm bền vững đã được thể hiện tương đối rõ và bao quát trong nhiều quy định của Dự Luật này, có thể liệt kê như: các nguyên tắc về việc làm (Điều 5); trách nhiệm của nhà nước về việc làm (Điều 6); về phát triển và hỗ trợ việc làm; về thông tin thị trường lao động; quản lý lực lượng lao động; về phát triển kỹ năng nghề; về dịch vụ việc làm; tuyển, đăng ký sử dụng lao động; về bảo hiểm việc làm, trong đó có các chế độ hỗ trợ duy trì việc làm và  chế độ trợ cấp thất nghiệp cho người lao động trong trường hợp họ bị mất việc làm;… Những quy định này đã tạo lên một hệ thống, một chu trình mở nhằm hỗ trợ, tạo việc làm, bảo vệ việc làm cho người lao động nhằm hướng tới phát triển thị trường lao động ổn định, bền vững ở Việt Nam. Tuy nhiên, nghiên cứu Dự thảo Luật này, chúng tôi cũng nhận thấy một số vấn đề sau:         

Thứ nhất, dự thảo luật này chưa có quy định về giải thích thuật ngữ: thị trường lao động, việc làm bền vững, về chỉ tiêu tạo việc làm cho người lao động… Bên cạnh đó dự thảo cũng chưa làm rõ thế nào là “giải quyết và mở rộng việc làm”, bởi vì cho vay để mở rộng kinh doanh, sản xuất cũng là “Giải quyết và mở rộng việc làm”. Đây là các thuật ngữ rất quan trọng nhằm đảm bảo mục đích điều chỉnh của Dự thảo Luật.  

Thứ hai, về phát triển việc làm cho người lao động, Dự thảo luật mới quy định về phát triển kinh tế ngành và kinh tế vùng để tạo việc làm cho người lao động. Tuy nhiên, thực tiễn phát triển kinh tế vùng cho thấy mặc dù có tạo ra nhiều việc làm cho người lao động, nhưng lại có vấn đề là lao động ở nhiều vùng khác di chuyển đến gây ra nhiều vấn đề về kinh tế và xã hội dẫn tới không phát triển bền vững. Hơn nữa, chưa có quy định về phát triển kinh tế tỉnh và liên tỉnh thấp hơn cấp độ vùng. Bởi phát triển kinh tế địa phương góp phần tạo việc làm bền vững cho lao động trên địa bàn đó.

Thứ ba, về thông tin thị trường lao động, Dự thảo Luật chưa quy định rõ thông tin thị trường lao động gồm những thông tin gì, giới hạn của các thông tin này đến đâu? Hơn nữa, tại Điều 18, Dự thảo Luật Việc làm về quy định: hệ thống thông tin thị trường lao động được tổ chức thống nhất và quản lý trên phạm vi cả nước để thu thập, lưu trữ, phân tích, cung cấp thông tin về việc làm, nghề nghiệp, thị trường lao động trong và  ngoài nước. Tuy nhiên, các Điều sau đó chỉ quy định về trách nhiệm thu thập, lưu trữ, phổ biến thông tin thị trường lao động mà không có quy định về thu thập, lưu trữ, phổ biến thông tin về việc làm và nghề nghiệp, trong khi đây là những thông tin rất quan trọng với người lao động.  

Thứ tư, về quản lý lực lượng lao động. Đây là quy định rất cần thiết để có đầy đủ cơ sở dữ liệu cơ bản, chính xác về thực trạng lao động, việc làm, thất nghiệp và biến động qua từng thời kỳ, địa bàn, làm cơ sở hoạch định chính sách việc làm và phát triển nguồn nhân lực phù hợp với yêu cầu của cung, cầu lao động nhằm sử dụng hiệu quả lao động. Việc quản lý về việc đăng ký thông tin lao động ban đầu thuộc về Ủy ban nhân dân cấp xã, phường là hợp lý, tuy nhiên, Dự thảo quy định công dân đủ 15 tuổi phải trực tiếp đăng ký thông tin lao động tại Ủy ban nhân dân xã là chưa hợp lý. Bởi chúng tôi cho rằng Ủy ban nhân dân cấp xã nên quản lý ban đầu đối với tất cả lao động cư trú trên địa bàn như vậy sẽ hợp lý hơn.

Thứ năm, về phát triển kỹ năng nghề, Dự luật chưa quy định cụ thể đối với phát triển kỹ năng nghề cho lao động ở nông thôn, bởi thực tiễn cho thấy đây là lực lượng lao động đông đảo ở nước ta, nhưng đóng góp của lực lượng này vào phát triển kinh tế xã hội còn ít. Chúng tôi cho rằng bên cạnh các cơ chế chính sách về đất đai, tài chính nên đào tạo các kỹ năng nghề gắn với hoạt động nông nghiệp của người dân để có thể kết hợp phát triển đa ngành nghề nhằm giảm tỷ lệ người lao động thiếu việc làm,… Hơn nữa, Dự luật chưa quy định cụ thể về hỗ trợ đào tạo lại kỹ năng nghề cho người lao động bị mất việc làm muốn chuyển sang việc làm mới.

Thứ sáu, về dịch vụ việc làm, mục đích nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho người lao động tiếp cận với việc làm cả trong nước và quốc tế. Tuy nhiên, Dự thảo Luật chưa quy định cụ thể về việc thanh tra, kiểm tra đối với các tổ chức, doanh nghiệp này cũng như trách nhiệm pháp lý mà chúng phải chịu khi vi phạm pháp luật.

Thứ bảy, về tuyển dụng, sử dụng lao động, Dự luật quy định rất cụ thể về thời gian liên quan đến tuyển dụng lao động của doanh nghiệp. Tuy nhiên, Luật lại không quy định cụ thể cơ chế, kiểm tra, giám sát vấn đề này cũng như trách nhiệm của doanh nghiệp khi vi phạm sẽ bị xử lý ra sao do vậy sẽ rất khó khả thi. Đối với việc người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài (Mục 3), hiện tại đang có Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài nên Dự luật quy định khác về vấn đề này (Điều 68) có thể dẫn đến chồng chéo, khó khăn cho quá trình thực hiện trên thực tiễn. Về lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam (Mục 4). Khoản 3 Điều 34 Dự luật quy định “Lao động nước ngoài vào làm việc tại Việt Nam theo quy định tại Điều 69 của Luật này phải có kỹ năng nghề quốc gia theo quy định của Bộ trưởng Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội”. Như vậy có thể hiểu người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam vừa phải có giấy phép lao động vừa phải có chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia. Tuy nhiên, chưa có quy định cụ thể về quy trình, thủ tục, thẩm quyền cấp chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia cho lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam. Nếu không quy định chặt chẽ vấn đề này có thể sẽ dẫn tới trường hợp  người lao động nước ngoài lợi dụng để vào làm việc ở Việt Nam trái phép ảnh hưởng an ninh, trật tự cũng như quyền lợi của người lao động Việt Nam.

Thứ tám, về hỗ trợ việc làm, có thể khẳng định Dự thảo Luật quy định về Quỹ quốc gia về việc làm là cần thiết, tuy nhiên cần được nghiên cứu thêm về nguồn và cách thức hình thành Quỹ này, đặc biệt là nguồn từ ngân sách nhà nước. Hơn nữa về vấn đề hỗ trợ việc làm cho người lao động, Dự thảo Luật cũng quy định trong Quỹ Bảo hiểm việc làm, do vậy liệu có sự trùng lặp, mâu thuẫn nào giữa hai Quỹ này hay không?

Để khắc phục những tồn tại, bất cập trên Nhà nước ta nghiên cứu, xây dựng Luật Việc làm và dự kiến thông qua trong thời gian tới nhằm đáp ứng được thực tiễn phát triển của đất nước ta.

3.2. Kiến nghị đối với việc xây dựng Luật Việc làm ở Việt Nam

Thứ nhất, về mặt chính sách cần phải hướng tới đảm bảo: sẽ có việc làm cho tất cả những người sẵn sàng làm việc và đang kiếm việc làm; việc làm đó càng có năng suất càng tốt; đảm bảo tự do lựa chọn làm việc và cơ may rộng lớn nhất cho mỗi người lao động để đạt được trình độ tay nghề và sử dụng được trình độ tay nghề và năng khiếu của mình trong một công việc thích hợp; đảm bảo không phân biệt chủng tộc, màu da, giới tính, tôn giáo, chính kiến, dòng dõi dân tộc hoặc nguồn gốc xã hội trong quá trình này. Chính sách đó cũng phải chú ý đến các giai đoạn và trình độ phát triển kinh tế, cũng như những mối quan hệ giữa các mục tiêu về việc làm với các mục tiêu kinh tế và xã hội khác, và sẽ được áp dụng bằng các phương pháp phù hợp với điều kiện và tập quán quốc gia.”[14] Tiếp đó những chính sách này cần được cụ thể hóa trong pháp luật về việc làm ở nước ta.

Thứ hai, cần quy định về giải thích thuật ngữ với các khái niệm cơ bản, như: người lao động, việc làm bền vững, thị trường lao động, giải quyết và mở rộng việc làm… Trong đó nên quan niệm người lao động là bao gồm công dân Việt Nam, những người nước ngoài, người không quốc tịch làm việc tại Việt Nam và những đối tượng khác theo quy định của pháp luật,…

Thứ ba, về các quy định về phát triển việc làm cho người lao động, theo chúng tôi Dự thảo luật nên quy định về phát triển kinh tế tỉnh và liên tỉnh thấp hơn cấp độ vùng. Bởi phát triển kinh tế vùng góp phần tạo việc làm bền vững cho lao động tại địa phương.

Thứ tư, về thông tin thị trường lao động, nếu quan niệm thông tin về việc làm và nghề nghiệp nằm trong thông tin về thị trường lao động thì nền bỏ từ “việc làm, nghề nghiệp” quy định tại Điều 18. Còn nếu các thuật ngữ này khác nhau thì cần phải quy định cụ thể trách nhiệm thu thấp, lưu trữ, phổ biến thông tin về việc làm, nghề nghiệp. Đồng thời Dự thảo Luật cũng cần quy định rõ hơn về trách nhiệm phổ biến thông tin đến người lao động của các cơ quan, tổ chức liên quan đến thị trường lao động trong nước và Việt Nam.

Thứ năm, về quản lý lao động trong đó có việc đăng ký thông tin lao động. Để quản lý người lao động có hiệu quả, Dự thảo nên quy định Ủy ban nhân dân cấp xã là cơ quan quản lý ban đầu về thông tin người lao động. Để làm được điều này cần quy định rõ trách nhiệm thu thập thông tin về người lao động thuộc về Ủy ban nhân dân cấp xã. Tuy nhiên, dự thảo cũng quy định khuyến khích người lao động đăng ký trực tiếp hoặc qua trang thông tin điện tử sẽ thuận tiện hơn. Đồng thời có cơ chế khuyến khích người lao động đăng ký, và sẽ được hỗ trợ các thông tin liên quan đến lao động, việc làm, các khóa đào tạo về việc làm,… Còn để quản lý được nên quy định cụ thể cán bộ về thương binh xã hội phối hợp với công an xã về quản lý nhân khẩu để thu thập thông tin là hợp lý và được hưởng chế độ về vấn đề này.

Thứ sáu, về phát triển kỹ năng nghề, Dự luật cần quy định cụ thể phát triển kỹ năng nghề cho lao động ở nông thôn, đặc biệt là kỹ năng sản xuất lớn kết hợp các lĩnh vực sản xuất trong nông nghiệp…nhằm đảm bảo việc làm và thu nhập ổn định cho lao đông nông thôn. Đồng thời quy định cụ thể về việc hỗ trợ đào tạo kỹ năng nghề cho những lao động bị mất việc làm, muôn tìm kiếm một việc làm khác,… Điều này là rất cần thiết.

Thứ bảy, về dịch vụ việc làm, Dự thảo Luật cần quy định cụ thể về trách nhiệm pháp lý đối với tổ chức, doanh nghiệp vi phạm pháp luật lao động (ở đây không chỉ là trách nhiệm hành chính mà cả trách nhiệm dân sự và hình sự cũng phải đặt ra.

Thứ tám, về tuyển dụng, sử dụng lao động. Đối với việc tuyển dụng lao động làm việc trong nước, Dự luật Luật cần quy định cụ thể cơ chế, kiểm tra, giám sát các hoạt động này, cũng như quy định rõ trách nhiệm của doanh nghiệp khi vi phạm sẽ bị xử lý ra sao để việc tuyển dụng, sử dụng lao động có hiệu quả.  Đối với việc tuyển dụng lao động Việt Nam đi làm việc tại nước ngoài nên dẫn chiếu đến Luật Người Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài hiện hành. Còn đối với người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam, Dự luật cần quy định cụ thể về thẩm quyền, trình tự, thủ tục cấp chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia cho các đối tượng này.

Thứ chín, về Quỹ hỗ trợ việc làm và Quỹ bảo hiểm thất nghiệp. Chúng tôi cho rằng Quỹ quốc gia về việc làm tập trung vào sử dụng cho vay với lãi suất ưu đãi đối với Doanh nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh và người lao động để giải quyết và mở rộng việc làm; Người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng. Còn Quỹ bảo hiểm thất nghiệp tập trung vào hỗ trợ duy trì việc làm và các chế độ đối với người thất nghiệp. Về bảo hiểm thất nghiệp chúng tôi đồng ý với quan điểm của Dự thảo coi chế độ bảo hiểm thất nghiệp là một bộ phạn nằm trong bảo hiểm việc làm. Còn đối với Quỹ quốc gia về việc làm cần quy định rõ ngay trong Luật cơ quan nào được quản lý và sử dụng Quỹ này. Nguồn hình thành Quỹ không nên quy định nguồn lấy từ ngân sách là bao nhiêu % như Dự thảo mà nên quy định theo hướng mở, theo đó từ ngân sách là bao nhiêu sẽ do Quốc hội quyết định dựa trên đề xuất của cơ quan quản lý và sử dụng Quỹ cũng như hiệu quả của việc sử dụng Quỹ này trên thực tiễn để quyết định để tránh trường hợp lạm dụng và sử dụng Quỹ không có hiệu quả.

           


[1] Thực tế cho thấy hàng hóa thời kỳ này cực kỳ thiếu thốn, khan hiếm. Đó không phải do sự phát triển nóng của kinh tế, xã hội mà thực chất là nền kinh tế nước ta thời đó quá nghèo nàn, lạc hậu, sản xuất chưa đáp ứng được nhu cầu tối thiểu của nhân dân là hậu quả của mô hình kinh tế quan liêu, bao cấp.

[2] Sự phát triển kinh tế xuyên suốt thế kỷ XX thể hiện sự đấu tranh giữa hai mô hình kinh tế, đó là: mô hình kinh tế chỉ huy quan liêu, bao cấp và mô hình kinh tế thị trường và cuối cùng chúng ta cũng nhận ra mô hình kinh tế thị trường là tối ưu hơn. Sở dĩ vậy bởi mô hình kinh tế này góp phần phát huy được năng lực sản xuất của tất cả các thành phần kinh tế, của mọi cá  nhân…

[3] Điều này chúng ta có thể thấy rõ qua cuộc khủng hoảng kinh tế vừa qua nhiều doanh nghiệp sản xuất ô tô, ngân hàng của Mỹ bị phá sản, hoặc bị thu hẹp sản xuất… Xem thêm bài: Điểm mặt 10 vụ phá sản doanh nghiệp lớn nhất nước Mỹ. http://vietchinabusiness.vn/component/content/article/4576.html .Bài “Phá sản đã diễn ra với các doanh nghiệp dệt may của Phạm Hùng http://vietnamnet.vn/kinhte/2008/11/814313/. Cập nhật lúc 10:54, Thứ Tư, 19/11/2008 (GMT+7).  Theo thông tin Ông Diệp Thành Kiệt, Phó chủ tịch Hiệp hội dệt may Tp. Hồ chí Minh thông tin: Trung Quốc đã thống kê tới 67.000 doanh nghiệp phá sản, tôi đoán, sắp tới Việt Nam sẽ bị tác động, trong đó chắc chắn lĩnh vực dệt may sẽ bị thiệt hại nặng.

[4] Nhiều phân tích gia cho rằng cuộc đảo chính tại Kyrgyzstan vừa qua là do Chính quyền không giải quyết được các vấn đề xã hội như việc làm dẫn tới thất nghiệp tràn nan, đời sống của nhân dân khó khăn. Xem thêm: Tại sao có đảo chính ở Kyrgyzstan? Cập nhật lúc 18:29, Thứ Năm, 08/04/2010 (GMT+7). http://vietnamnet.vn/thegioi/201004/Tai-sao-co-dao-chinh-o-Kyrgyzstan-903237/.

[5] Xem thêm Nghị quyết Nghị quyết Hội nghị lần 3, khóa IX của Ban chấp hành TW Đảng về tiếp tục sắp xếp đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước từ ngày 13 đến ngày 22/8/2001.

[6] ILO còn có nhiều công ước và khuyến nghị liên quan đến vấn đề việc làm, trong đó có 1 số công ước quan trọng như: Công ước số 100 về Trả công bình đẳng  giữa lao động nam và nữ cho một công việc ngang nhau, 1951; Công ước số 111 về Phân biệt đối xử trong việc làm và nghề nghiệp, 1958; Công ước 159 về Tái thích ứng nghề nghiệp và việc làm của người lao động có khuyết tật, 1959; Công ước 122 về Chính sách việc làm, 1964; Công ước 88 về Dịch vụ việc làm, 1948; Công ước 181 về tổ chức việc làm tư nhân, 1997; Công ước 102 về Quy phạm tố thiểu về an sinh xã hội, 1952; Công ước 168 về Xúc tiến việc làm và bảo vệ chống thất nghiệp, 1988.

[7] Thuật ngữ “phát triển bền vững” mới chính thức xuất hiện lần đầu tiên vào năm 1980 trong ấn phẩm Chiến lược bảo tồn Thế giới của Hiệp hội Bảo tồn Thiên nhiên và Tài nguyên Thiên nhiên Quốc tế (IUCN), đó là: “Sự phát triển của nhân loại không thể chỉ chú trọng tới phát triển kinh tế mà còn phải tôn trọng những nhu cầu tất yếu của xã hội và sự tác động đến môi trường sinh thái học”.

[9] Tính đến thời điểm 01/01/2009, số doanh nghiệp ngoài Nhà nước thực tế đang hoạt động là 196.779 doanh nghiệp, chiếm 95,7% tổng số doanh nghiệp, gấp 5,6 lần năm 2000, tốc độ tăng số lượng doanh nghiệp bình quân hàng năm là 24,1%. Khu vực này hiện giải quyết cho 4,72 triệu lao động có việc làm thường xuyên, chiếm 57,1% tổng số việc làm của khu vực doanh nghiệp, bình quân mỗi năm tăng thêm 8,7% lao động. Khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) tuy số lượng doanh nghiệp ít, nhưng phát triển nhanh về quy mô đầu tư và đặc biệt đạt hiệu quả kinh doan cao nhất trong các loại hình doanh nghiệp: Tính đến thời điểm 01/01/2009, số doanh nghiệp FDI thực tế đang hoạt động là 5.625 doanh nghiệp, chỉ chiếm 2,7% tổng số doanh nghiệp, gấp 5,3 lần số doanh nghiệp năm 2000, bình quân mỗi năm tăng 23,5% số doanh nghiệp. Khu vực này tuy số lượng doanh nghiệp ít nhưng cũng đã thu hút tới 1,83 triệu lao động, chiếm 22,2% tổng số lao động toàn doanh nghiệp, gấp 4,5 lần năm 2000, bình quân mối năm thu hút thêm 20,7% lao động. Năm 2008, mặc dù vốn đầu tư chỉ chiếm 16,9%, doanh thu chỉ chiếm 19,5% so với toàn bộ doanh nghiệp, nhưng khu vực FDI lại thể hiện là khu vực đạt hiệu quả kinh doanh cao với lợi nhuận trước thuế chiếm tới 48,1% và đóng góp cho ngân sách Nhà nước chiếm tới 40,4% so với toàn bộ doanh nghiệp. So với năm 2000, lợi nhuận của khu vực này gấp 4,9 lần và đóng góp cho ngân sách Nhà nước gấp 5 lần. Khu vực doanh nghiệp Nhà nước ngày càng được thu hẹp về quy mô theo chủ trương cổ phần hóa và sắp xếp lại của Nhà nước để đảm bảo kinh doanh ngày càng hiệu quả hơn: Tại thời điểm 01/01/2009, số doanh nghiệp Nhà nước thực tế đang hoạt động chỉ còn 3.328 doanh nghiệp, chiếm tỷ trọng thấp nhất trong 3 khu vực doanh nghiệp với 1,6%, bằng 45% số doanh nghiệp năm 2000. Khu vực này hiện thu hút khoảng 1,71 triệu lao động, chiếm 20,7% toàn bộ khu vực doanh nghiệp (trong khi tỷ lệ lao động trong toàn bộ doanh nghiệp năm 2000 là xấp xỉ 60%). Bên cạnh đó lực lượng lao động làm gia làm các ngành nghề nông, lâm, ngư nghiệp cũng ngày càng đi vào ổn định hơn nhờ áp dụng các cải tiến kỹ thuật và công nghệ.

[10] Xem bài: Thị trường lao động ở Việt Nam: Định hướng đúng để phát triển bền vững. Nguồn: http://www.nhansu.com.vn/goc-nhan-su/1638-dinh-huong-thi-truong-viec-lam.html.

 [11] Xem thêm nguồn: Thực trạng người lao động đi làm việc ở nước ngoài trở về. Nguồn: http://www.baotintuc.vn/129N20110317093053643T0/thuc-trang-nguoi-lao-dong-di-lam-viec-o-nuoc-ngoai-tro-ve.htm; bài: Đưa người VN đi làm việc ở nước ngoài còn bất cập, http://www.baomoi.com/Dua-nguoi-VN-di-lam-viec-o-nuoc-ngoai-con-bat-cap/47/4856729.epi; bài: Bất cập bảo hiểm cho lao động Việt Nam ở nước ngoài, nguồn: http://vietbao.vn/Xa-hoi/Bat-cap-bao-hiem-cho-lao-dong-Viet-Nam-o-nuoc-ngoai/10724290/157/.

[12] Xem thêm: ‘Bão’ thất nghiệp đang đe dọa nền kinh tế, của tác giả Văn Khoa, nguồn: http://vnexpress.net/gl/ban-doc-viet/2012/04/bao-that-nghiep-dang-de-doa-nen-kinh-te/. Bsài: Người trẻ thất nghiệp nhiều là thất bại của xã hội, của tác giả MAI LAN, nguồn: http://doanhnhansaigon.vn/online/dien-dan-doanh-nhan/thoi-su/2011/08/1057165/nguoi-tre-that-nghiep-nhieu-la-that-bai-cua-xa-hoi/.

[13] Xem thêm: Báo cáo tổng kết thi hành pháp luật và thực trạng quan hệ xã hội về việc làm, của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội năm 2011.

[14] Xem thêm: Công ước quốc tế số 122 về việc làm của Tổ chức lao động quốc tế ILO.

 

 

 

 

 

Post a comment or leave a trackback: Trackback URL.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: