Góp ý sửa đổi Hiến pháp

MẤY GÓP Ý VỀ QUYỀN ĐƯỢC SỐNG TRONG MÔI TRƯỜNG TRONG LÀNH TRONG DỰ THẢO HIẾN PHÁP NĂM 1992 SỬA ĐỔI, BỔ SUNG NĂM 2013

ThS. Bùi Đức Hiển

Viện Nhà nước và Pháp luật

1. Khái quát về quyền được sống trong môi trường trong lành

Quyền được sống trong môi trường trong lành là những nhu cầu, lợi ích tự nhiên, vốn có và khách quan của con người được sống trong môi trường sạch đẹp, thuần khiết, chất lượng với hệ sinh thái cân bằng, không có ô nhiễm, suy thoái, sự cố môi trường ảnh hưởng đến tài sản, sức khỏe, tính mạng và hoạt động bình thường của con người, được pháp luật quốc gia cũng như pháp luật quốc tế ghi nhận và bảo vệ[1]. Quyền sống được sống trong môi trường trong lành được đặt ra khi sự đe dọa về quyền được sống cơ bản đã được bảo vệ bởi các thể chế dân chủ pháp quyền[2], nhưng sự tồn tại của con người lại bị đe dọa, hủy hoại do tác động tiêu cực từ môi trường tự nhiên mà nguyên nhân chủ yếu do chính con người gây ra[3]. Sự tác động thái quá của con người vào tự nhiên đã phá vỡ tính thống nhất của môi trường, của hệ sinh thái làm cạn kiệt tài nguyên, ô nhiễm môi trường, suy giảm đa dạng sinh học, gây biến đổi khí hậu, nước biển dâng, làm thiệt hại đến tính mạng, sức khỏe, tài sản, kinh tế – xã hội cũng như đời sống của con người. Từ thập niên 60 của thế kỷ XX đến nay, sự trả thù của tự nhiên đối với con người đã hiện hữu, vấn đề đặt ra là phải nhận thức đúng tính tất yếu của sự trả thù này và bắt tay hành động bảo vệ môi trường, bảo vệ quyền được sống trong môi trường trong lành. Ở giác độ chính trị, pháp lý quốc tế, năm 1972 trong Tuyên bố của Liên Hợp quốc về môi trường con người tại Stockhom lần đầu tiên đã khẳng định: “con người có quyền cơ bản được sống trong một môi trường chất lượng, cho phép cuộc sống có phẩm giá và phúc lợi mà con người có trách nhiệm long trọng bảo vệ, cải thiện cho thế hệ hôm nay và mai sau”[4], trong Tuyên bố Rio de Janeiro cũng nhấn mạnh mối quan hệ giữa quyền được sống trong môi trường trong lành và phát triển bền vững: “Con người là trung tâm của các mối quan tâm về sự phát triển lâu dài. Con người có quyền được hưởng một cuộc sống hữu ích, lành mạnh và hài hoà với thiên nhiên”[5].

Nhìn lại lịch sử phát triển của các chế định được ghi nhận trong Hiến pháp từ khi Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời đến nay, có thể thấy các quy định về bảo vệ môi trường ngày càng được khẳng định mạnh mẽ với cách tiếp cận ngày càng mới, thực chất hơn. Cụ thể trong, Hiến pháp 1946, Hiến pháp 1959 chưa có một quy định nào về bảo vệ môi trường thì đến Hiến pháp năm 1980 mặc dù vẫn trong thời kỳ bao cấp, chưa phát triển kinh tế hàng hóa, nhưng Đảng và Nhà nước ta cũng bước đầu đã quan tâm đến vấn đề môi trường và ghi nhận vào Hiến pháp, cụ thể: “Các cơ quan Nhà nước, xí nghiệp, hợp tác xã, đơn vị vũ trang nhân dân và công dân đều có nghĩa vụ thực hiện chính sách bảo vệ, cải tạo và tái sinh các nguồn tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ và cải thiện môi trường sống” (Điều 36).

Mặc dù vậy, thời kỳ này chúng ta vẫn chưa ban hành một đạo luật chuyên ngành nhằm cụ thể hóa những ghi nhận trong Hiến pháp 1980 về bảo vệ môi trường. Năm 1986, nước ta tiến hành sự nghiệp đổi mới, mở cửa phát triển kinh tế, để tạo hành lang pháp lý cho thay đổi này Hiến pháp năm 1992 đã ra đời, bên cạnh một loạt các quy định mới để đẩy mạnh hội nhập và phát triển kinh tế, Hiến pháp vẫn tiếp tục ghi nhận cụ thể hơn về sử dụng hợp lý tài nguyên và bảo vệ môi trường: “Cơ quan nhà nước, đơn vị vũ trang, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, mọi cá nhân phải thực hiện các quy định của Nhà nước về sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường. Nghiêm cấm mọi hành động làm suy kiệt tài nguyên và huỷ hoại môi trường (Điều 29) Chính phủ phải có trách nhiệm bảo vệ môi trường (khoản 5, Điều 112)”. Vấn đề này cũng đã được cụ thể hóa trong Luật Bảo vệ Môi trường năm 1993 và 2005. Có thể thấy, Hiến pháp năm 1992 đã quy định rõ trách nhiệm của các chủ thể trong sử dụng hợp lý tài nguyên và bảo vệ môi trường, khẳng định tầm quan trọng của bảo vệ môi trường sống. Tuy nhiên, cũng như các Hiến pháp trước đó, Hiến pháp 1992 chưa thể hiện được mục đích đầu tiên và sau cùng của bảo vệ môi trường chính là bảo vệ quyền được sống trong môi trường trong lành; hai là, cách trình bày trong Hiến pháp còn dài dòng, thiếu logic chưa phù hợp với văn phong Hiến pháp đòi hỏi phải ngắn gọn, xúc tích, nhưng bao quát; ba là, về chủ thể phải bảo vệ môi trường, Hiến pháp 1992 liệt kê nhiều chủ thể từ cơ quan nhà nước, đơn vị vũ trang, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội đến mọi cá nhân, xong lại không bao quát hết được chủ thể có nghĩa vụ phải bảo vệ môi trường. Ví dụ: tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội,…. Bốn là, Hiến pháp 1992 nhấn mạnh việc sử dụng hợp lý tài nguyên, bảo vệ môi trường được thực hiện theo các “quy định của nhà nước”. Việc sử dụng thuật ngữ này có thể dễ gây tùy tiện trong xây dựng, áp dụng các quy định pháp luật về bảo vệ môi trường.

Qua trình bày trên, ở mức độ nhất định Hiến pháp 1980, 1992 có ghi nhận vấn đề bảo vệ môi trường. Tuy nhiên, do những điều kiện lịch sử và thực tiễn nên cả bốn bản Hiến pháp 1946, 1959, 1980, 1992 đều chưa đề cập đến quyền được sống trong môi trường trong lành. Để khắc phục bất cập trên và hiến định hóa việc bảo vệ môi trường đã được ghi nhận trong các văn kiện của Đảng tại Đại hội VIII, IX, X, XI, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) và trong Nghị quyết 41/NQ-TW ngày 15 tháng 11 năm 2004 của Bộ Chính trị khóa IX về bảo vệ môi trường trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Dự thảo Hiến pháp 1992 sửa đổi, bổ sung năm 2013 đã tạo ra những đột phá mới khi ghi nhận về quyền được sống trong môi trường trong lành. Việc ghi nhận quyền này trong Hiến pháp có nhiều ý nghĩa to lớn.

Thứ nhất, về nhận thức, việc ghi nhận quyền được sống trong môi trường trong lành trong Hiến pháp, thể hiện quan điểm bảo vệ quyền con người nói chung, quyền được sống trong môi trường trong lành nói riêng là tư tưởng xuyên suốt của Đảng và Nhà nước ta, coi con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển.

Thứ hai, Việt Nam đã ký và tham gia hai Tuyên bố quốc tế liên quan đến quyền được sống trong môi trường trong lành là: Tuyên bố Stockhom về môi trường con người năm 1972 và Tuyên bố Rio de Janeiro về môi trường và phát triển năm 1992[6]. Do vậy việc ghi nhận quyền được sống trong môi trường trong lành vào Hiến pháp khẳng định cam kết quốc tế mạnh mẽ của Đảng và Nhà nước ta đối với bảo vệ môi trường, bảo đảm thực hiện quyền được sống trong môi trường trong lành.

          Thứ ba, về pháp lý với tư cách là đạo luật có giá trị pháp lý cao nhất. Ghi nhận quyền được sống trong môi trường trong lành vào Hiến pháp là cơ sở để cụ thể hóa quyền này trong Luật Bảo vệ môi trường cũng như các văn bản pháp luật liên quan.

Thứ tư, về thực tiễn, khi đã quy định rõ quyền được sống trong môi trường trong lành và cơ chế bảo vệ quyền này trong Hiến pháp và pháp luật sẽ góp phần thực hiện ngày càng có hiệu quả quyền được sống trong môi trường trong lành trên thực tiễn. Bởi khi đã ghi nhận vào Hiến pháp, bên cạnh cơ chế pháp lý thông thường, quyền được sống trong môi trường trong lành có thể được bảo vệ thông qua cơ chế bảo vệ Hiến pháp. Tuy nhiên, để bảo vệ quyền được sống trong môi trương trong lành theo cơ chế này Hiến pháp cần phải có giá trị áp dụng trực tiếp, chứ không phải chờ có Luật cụ thể hóa mới được áp dụng. Hơn nữa, Hiến pháp cũng phải quy định rõ thẩm quyền của Hội đồng bảo hiến trong bảo vệ các quyền được ghi nhận trong Hiến pháp.

2. Nội dung quyền được sống trong môi trường trong lành trong Dự thảo Hiến pháp năm 1992 sửa đổi, bổ sung năm 2013.

          Một bản Hiến pháp thường đề cập đến hai vấn đề lớn, xuyên suốt là phân quyền (tổ chức, thực hiện quyền lực nhà nước) và nhân quyền (quyền con người, quyền công dân). Trong Dự thảo Hiến pháp sửa đổi, bổ sung năm 2013 của nước ta cũng thể hiện khá rõ vấn đề này. Sau Chương 1 về Chế độ chính trị, tại Chương 2 của Dự thảo đã ghi nhận một loạt các quyền con người, trong đó quyền được sống trong môi trường trong lành: “1. Mọi người có quyền được sống trong môi trường trong lành; 2. Mọi người có nghĩa vụ bảo vệ môi trường.”(Điều 46). Tiếp đó Điều 68 Hiến pháp 1992 sửa đổi, bổ sung năm 2013 quy đinh: “1. Bảo vệ môi trường là trách nhiệm của Nhà nước, xã hội và là nghĩa vụ của mọi tổ chức, cá nhân. 

 2. Nhà nước có cơ chế, chính sách bảo vệ môi trường; quản lý, sử dụng hiệu quả các nguồn tài nguyên thiên nhiên; bảo tồn đa dạng sinh học; phòng tránh và giảm nhẹ thiên tai, ứng phó với biến đổi khí hậu.

 Mọi hoạt động bảo vệ môi trường, phát triển năng lượng mới, năng lượng tái tạo, năng lượng sạch, sản xuất sạch và tiêu dùng sạch của tổ chức, cá nhân được Nhà nước khuyến khích.  

 3. Tổ chức, cá nhân gây ô nhiễm môi trường, làm suy kiệt tài nguyên thiên nhiên và suy giảm đa dạng sinh học phải bị xử lý nghiêm và có trách nhiệm khắc phục, bồi thường thiệt hại”. Qua các quy định trên có thể thấy Dự thảo Hiến pháp sửa đổi đã ghi nhận và khẳng định rõ những vấn đề sau:

Một là, không chỉ ghi nhận quyền được sống, Hiến pháp còn khẳng định tất cả mọi người có quyền được sống trong môi trường trong lành. Đó là môi trường có chất lượng cho phép/đảm bảo con người sống có phẩm giá và phúc lợi[7].  

Hai là, ghi nhận sự quan tâm của Đảng và Nhà nước với việc sử dụng tiết kiệm, có hiệu quả các nguồn tài nguyên không thể tái tạo và khuyến khích mọi tổ chức, cá nhân tham gia phát triển các nguồn năng lượng sạch, năng lượng tái tạo,… Trường hợp tổ chức, cá nhân gây ô nhiễm môi trường, làm suy kiệt tài nguyên thiên nhiên và suy giảm đa dạng sinh học phải có trách nhiệm khắc phục và bồi thường thiệt hại.

Ba là, Hiến pháp nhấn mạnh nhu cầu phát triển bền vững, trên cơ sở phát triển kinh tế kết hợp chặt chẽ, hài hòa với phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo vệ môi trường. (Điều 53) đồng thời khẳng định trong bảo vệ môi trường, khoa học công nghệ giữ vai trò then chốt (Điều 67);

Bốn là, để bảo vệ môi trường, bảo đảm thực hiện quyền được sống trong môi trường trong lành, Hiến pháp đã nhấn mạnh trách nhiệm hàng đầu của Nhà nước trong bảo vệ môi trường, bảo đảm thực hiện quyền được sống trong môi trường trong lành. Chúng tôi cho rằng quy định này của Dự thảo khá logic và hợp lý, bởi Nhà nước là do nhân dân lập ra, đóng thuế để thay mặt nhân dân quản lý xã hội, Nhà nước phải có trách nhiệm vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân, trong đó có quyền được sống trong môi trường trong lành. Hơn nữa, Nhà nước đã tham gia những cam kết quốc tế về bảo đảm quyền được sống trong môi trường trong lành, do vậy để thực hiện được trách nhiệm này Nhà nước phải long trọng ghi nhận vào Hiến pháp và xây dựng ra các quy định pháp luật, tổ chức bảo đảm thực hiện. Ở đây cũng phải lưu ý thêm rằng khẳng định trách nhiệm của Nhà nước trong bảo vệ môi trường không có nghĩa phủ nhận nghĩa vụ bảo vệ môi trường của các tổ chức, cá nhân, vì môi trường là vấn đề mang tính toàn cầu, toàn xã hội. Khi quyền được sống trong môi trường trong lành bị xâm phạm do chính hành vi của tổ chức, cá nhân thì Nhà nước phải có trách nhiệm ngăn chặn bằng cách ban hành các quy định buộc các tổ chức, cá nhân phải có nghĩa vụ thực hiện, khi có hành vi vi phạm nghĩa vụ thì Nhà nước sẽ xử lý theo quy định của pháp luật.

Bên cạnh đó, qua nghiên cứu Dự thảo Hiến pháp sửa đổi, bổ sung năm 1992 và Dự thảo Luật Bảo vệ Môi trường liên quan đến quy định về quyền được sống trong môi trường trong lành, chúng tôi thấy một số vấn đề cần phải làm sáng tỏ:

Một là, về nhận thức, quyền được sống trong môi trường trong lành được ghi nhận trong Dự thảo Hiến pháp nên hiểu theo nghĩa tự nhiên của nó (tức trong lành về mặt tự nhiên) hay theo nghĩa rộng hơn còn bao hàm cả trong lành về mặt xã hội.

Hai là, tại Điều 46 của Dự thảo bên cạnh khoản 1 quy định về quyền được sống trong môi trường trong lành, khoản 2 lại quy định mọi người có nghĩa vụ bảo vệ môi trường. Mục đích của nhà lập hiến ở đây có thể hiểu là muốn gắn quyền được sống trong môi trường trong lành với nghĩa vụ bảo vệ môi trường của mọi người, quyền đi liền với nghĩa vụ. Việc quy định nghĩa vụ phải bảo vệ môi trường của mọi người tại khoản 2 Điều 46, trong khi đã được quy định tại khoản 1 Điều 68 của Hiến pháp như vậy đã hợp lý chưa, cũng cần được nghiên cứu làm rõ.

Ba là, về chủ thể phải thực hiện nghĩa vụ bảo vệ môi trường, trong Dự thảo Hiến pháp sửa đổi có quy định không giống nhau. Khoản 2 Điều 46 quy định là “mọi người”…, trong khi đó tại khoản 1 Điều 68 lại sử dụng từ: “mọi tổ chức, cá nhân”… Rõ ràng trong một bản Hiến pháp việc ghi nhận các chủ thể không hoàn toàn trùng khớp nhau trong bảo vệ môi trường là thiếu logic và không phù hợp với văn phong Hiến pháp đòi hỏi khúc triết và khái quát hóa cao. Ở đây chúng tôi cho rằng quy định chủ thể có nghĩa vụ bảo vệ môi trường gồm mọi tổ chức, cá nhân như tại Điều 68 là hợp lý và bao quát.

Bốn là, tại Dự thảo Luật Bảo vệ môi trường 2005 sửa đổi, bổ sung. Một mặt tiếp thu quan điểm ghi nhận cụ thể hóa quyền được sống trong môi trường trong lành: “Mọi người có quyền được sống và quyền yêu cầu được sống trong môi trường trong lành” cũng như cụ thể hơn nghĩa vụ bảo vệ môi trường của mọi người. Tuy nhiên, Dự thảo Hiến pháp chỉ quy định nghĩa vụ phải bảo vệ môi trường của mọi người thì Dự thảo Luật Bảo vệ Môi trường 2005 sửa đổi, bổ sung lại quy định “Bảo vệ môi trường là quyền, trách nhiệm và nghĩa vụ của mọi tổ chức và cá nhân”. Chúng tôi cho rằng quy định như vậy trong Dự thảo Luật là không đúng với tinh thần của Dự thảo Hiến pháp mới và thiếu logic.

Năm là, một thời gian dài từ khi đổi mới đến nay chúng ta chủ yếu đẩy mạnh phát triển kinh tế theo chiều rộng, phát triển dựa trên nhân công giá rẻ, khai thác tài nguyên để tăng trưởng GDP mà chưa quan tâm đúng mức đến vấn đề môi trường nên hiện nay nước ta đang đối mặt với nhiều thách thức lớn về cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên, ô nhiễm môi trường. Do vậy để bảo vệ môi trường, bảo vệ quyền được sống trong môi trường trong lành, kinh tế xanh đóng vai trò đặc biệt quan trọng. Tuy nhiên, trong Dự thảo Hiến pháp sửa đổi không có quy định về vấn đề này.

3. Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về quyền được sống trong môi trường trong lành                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                             

Thứ nhất, về nhận thức cần mình định rõ thế nào là môi trường, môi trường hiểu dưới giác độ rộng hay hẹp,… Nếu chúng ta quan niệm môi trường theo nghĩa rộng thì môi trường không hẳn chỉ là môi trường tự nhiên mà bao hàm môi trường xã hội. Bởi bản chất của môi trường là thống nhất… Chúng có mối quan hệ mật thiết với nhau, những biến đổi về môi trường có thể dẫn tới biến đổi lớn về xã hội và ngược lại sự phát triển của xã hội cũng tác động rõ rệt đến môi trường tự nhiên…. Hiến pháp là đạo luật cơ bản của Nhà nước, có giá trị pháp lý cao nhất trong hệ thống pháp luật. Hiến pháp thường mang tính cưỡng lĩnh lâu dài. Do vậy việc ghi nhận các vấn đề trong Hiến pháp cũng phải có tầm nhìn mang tính quy luật. Từ bản chất của vấn đề môi trường và vị trí của Hiến pháp, chúng tôi cho rằng quyền được sống trong môi trường trong lành được ghi nhận trong Dự thảo Hiến pháp cần được nhận thức bao hàm cả trong lành về mặt tự nhiên và xã hội.

Thứ hai, nên bỏ khoản 2 Điều 46, Dự thảo Hiến pháp sửa đổi vì giữa nội dung quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này là chưa logic. Một là, về mặt lý luận, khi Nhà nước thừa nhận quyền được sống trong môi trường trong lành của mọi người đồng nghĩa với Nhà nước phải có trách nhiệm bảo vệ quyền đó; hai là, quyền được sống trong môi trường trong lành tại khoản 1 không phải lúc nào cũng đồng nhất với nghĩa vụ bảo vệ môi trường tại khoản 2. Bởi môi trường không trong lành, không chỉ do mọi người vi phạm nghĩa vụ gây ra mà có thể do tự nhiên gây ra. Ví dụ: sự cố hạt nhân ở Fukushima, cháy rừng do nắng nóng ở Indonesia,… không phải do con người gây ra nhưng những sự cố này ảnh hưởng đến quyền được sống trong môi trường trong lành của người dân, Nhà nước vẫn có trách nhiệm phải bảo vệ. Hơn nữa, nghĩa vụ bảo vệ môi trường của mọi người đã được quy định rất rõ tại khoản 1, Điều 68 của Dự thảo Hiến pháp, thậm chí về chủ thể có nghĩa vụ bảo vệ môi trường Điều 68 còn xác định rõ ràng hơn khoản 2 Điều 46, đó là mọi tổ chức, cá nhân.

       Thứ ba, thay vì quy định về nghĩa vụ bảo vệ môi trường như tại khoản 2 Điều 46. Theo chúng tôi tại khoản này nên quy định rõ trách nhiệm của Nhà nước trong việc bảo đảm quyền được sống trong môi trường trong lành. Cụ thể: “Cơ quan quản lý Nhà nước phải chịu trách nhiệm bảo đảm quyền được sống trong môi trường trong lành”. Quy định này đảm bảo logic vì Nhà nước đã thừa nhận quyền được sống trong môi trường trong lành thì Nhà nước phải có trách nhiệm bảo vệ. Hơn nữa, quy định này sẽ là cơ sở Hiến định để cụ thể hóa trách nhiệm của Nhà nước, quyền của mọi người liên quan đến quyền được sống trong môi trường trong lành trong Luật Bảo vệ Môi trường. Hiện nay, trong Dự thảo 2 sửa đổi, bổ sung Luật Bảo vệ môi trường 2005 cũng đã cụ thể hóa quy định tại Điều 46 Dự thảo Hiến pháp sửa đổi. Đó là “Mọi người có quyền được sống và quyền yêu cầu được sống trong môi trường trong lành” (khoản 1, Điều 4, Dự thảo Luật Bảo vệ Môi trường 2005 sửa đổi, bổ sung). Rõ ràng Nhà nước phải có trách nhiệm thì mọi người mới có quyền yêu cầu Nhà nước phải bảo đảm thực hiện quyền được sống trong môi trường trong lành.

       Thứ tư, theo chúng tôi cần quy định rõ Hiến pháp được áp dụng trực tiếp và hoàn thiện các quy định về Hội đồng bảo hiến tại Điều 120 Dự thảo Hiến pháp sửa đổi, bổ sung. Theo đó nên xây dựng cơ quan bảo vệ Hiến pháp theo mô hình cơ quan tài phán Hiến pháp, trong đó cần quy định rõ nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan này, không chỉ là kiểm tra tính hợp hiến của các đạo luật, các văn bản dưới luật như quy định tại Điều 120 của Dự thảo mà còn được hủy các văn bản trái Hiến pháp, tham gia giải quyết, bảo vệ các quyền được Hiến pháp ghi nhận. Thực hiện được điều này sẽ tạo ra một cơ chế mới bên cạnh cơ chế pháp luật nói chung để bảo vệ quyền được sống trong môi trường trong lành.

          Thứ năm, chúng tôi đồng ý với quan điểm cho rằng nên ghi nhận vào Hiến pháp vấn đề phát triển kinh tế xanh, đồng thời các hoạt động liên quan đến phát triển năng lượng mới, năng lượng tái tạo, năng lượng sạch, sản xuất sạch và tiêu dùng sạch, Nhà nước không chỉ khuyến khích và còn tạo điều kiện cho các tổ chức, cá nhân thực hiện có hiệu quả. Bởi phát triển kinh tế xanh và tái tạo các nguồn năng lượng mới,… sẽ thúc đẩy phát triển bền vững. Vấn đề này cũng đã được khẳng định trong Văn kiện Đại hội Đảng XI, trong đó đặt ra vấn đề là đẩy mạnh phát triển kinh tế theo chiều sâu, “chú trọng phát triển kinh tế xanh, thân thiện với môi trường”[8]. Do vậy nên bổ sung cụ thể tại Điều 68 như sau:  2. Nhà nước có cơ chế, chính sách bảo vệ môi trường; quản lý, sử dụng hiệu quả các nguồn tài nguyên thiên nhiên; bảo tồn đa dạng sinh học; phòng tránh và giảm nhẹ thiên tai, ứng phó với biến đổi khí hậu.

 Mọi hoạt động bảo vệ môi trường, phát triển kinh tế xanh, phát triển năng lượng mới, năng lượng tái tạo, năng lượng sạch, sản xuất sạch và tiêu dùng sạch của tổ chức, cá nhân được Nhà nước khuyến khích và tạo điều kiện”

         


[1] Xem bài: Về quyền được sống trong môi trường trong lành ở Việt Nam hiện nay/ Bùi Đức Hiển, Tạp chí Luật học. Trường Đại học Luật Hà Nội, Số 11/2011, tr. 22 –28.

[2] Xem thêm: Lời nói đầu của Tuyên bố của Hội nghị Liên hợp quốc về môi trường con người, Sách Các Công ước quốc tế về bảo vệ môi trường. NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội 1995.

[3] Xem thêm bài: 2010 – năm thiên nhiên trả thù con người? của tác giả Kiệt Linh tổng hợp. Nguồn: http://www.tinmoi.vn/2010-nam-thien-nhien-tra-thu-con-nguoi-01225463.html.

[4] Xem: Tuyên bố của Hội nghị Liên hợp quốc về môi trường con người, Nguyên tắc 1, tr11, Sách Các Công ước quốc tế về bảo vệ môi trường. NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội 1995.

[5] Xem thêm: Nguyên tắc 1, Tuyên bố Rio de Janeiro về môi trường và phát triển, Sách Các Công ước quốc tế về bảo vệ môi trường. NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội 1995.

[6] Xem thêm: Giáo trình Luật Môi trường, Trường Đại học Luật Hà Nội, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội 2011, tr 44.

[7] Xem thêm bài: Nhấn mạnh vai trò của Nhà nước Việt Nam cùng cộng đồng quốc tế bảo vệ môi trường, của ThS. Nguyễn Xuân Sinh. Nguồn: http://www.qdnd.vn/qdndsite/vi-vn/61/231530/print/Default.aspx, Thứ Hai, 04/03/2013, 22:52 (GMT+7) [8] Xem: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb CTQG, HN, 2011, trang 222.

Post a comment or leave a trackback: Trackback URL.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: