Bài đăng Tạp chí Luật học số 8/2013

CHÍNH SÁCH,  PHÁP LUẬT MÔI TRƯỜNG BẢO ĐẢM PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG Ở VIỆT NAM TRONG VĂN KIỆN ĐẠI HỘI ĐẢNG XI

                                                                   ThS. Bùi Đức Hiển

                                                          Viện Nhà nước và Pháp luật

1. Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ XI bàn về phát triển bàn vững ở Việt Nam

Tư tưởng về phát triển bền vững đã có từ rất sớm trong lịch sử nhân loại. Mặc dù vậy thuật ngữ “phát triển bền vững” mới chính thức xuất hiện lần đầu tiên vào năm 1980 trong ấn phẩm Chiến lược bảo tồn Thế giới, của Hiệp hội Bảo tồn Thiên nhiên và Tài nguyên Thiên nhiên Quốc tế (IUCN), đó là: “Sự phát triển của nhân loại không thể chỉ chú trọng tới phát triển kinh tế mà còn phải tôn trọng những nhu cầu tất yếu của xã hội và sự tác động đến môi trường sinh thái học”. Năm 1987 trong Báo cáo Brundtland[1] của Ủy ban Môi trường và Phát triển Thế giới (WCED) tiếp tục chỉ rõ: “Phát triển bền vững là sự phát triển có thể đáp ứng được những nhu cầu hiện tại mà không ảnh hưởng, tổn hại đến những khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai…” [2]. Đây là quá trình phải bảo đảm có sự kết hợp chặt chẽ, hợp lý, hài hòa giữa ba mặt của sự phát triển: phát triển kinh tế, phát triển xã hội và bảo vệ môi trường.

 Ở Việt Nam, trước khi tiến hành sự nghiệp đổi mới đất nước năm 1986, quan niệm về bảo vệ môi trường, phát triển bền vững nói chung còn mơ hồ, thậm chí có quan điểm nhìn nhận khí thải, khói thải từ ống khói các nhà máy, xí nghiệp là biểu hiện sinh động cho sự đi lên chủ nghĩa xã hội[3]. Từ khi tiến hành sự nghiệp đổi mới đến nay nhiều nhà máy, xí nghiệp được thành lập với quy mô và số lượng lớn đã góp phần quan trọng vào quá trình phát triển kinh tế, tăng trường GDP của đất nước. Tuy nhiên, do hàng thập kỷ chú trọng phát triển kinh tế theo chiều rộng, phát triển chủ yếu dựa vào khai thác tài nguyên thiên nhiên lại thiếu quy hoạch nên tài nguyên ngày càng cạn kiệt[4], môi trường bị ô nhiễm, suy thoái ở nhiều nơi[5],… ảnh hưởng xấu đến đời sống của con người và sự phát triển lâu bền đất nước. Thực tiễn này cùng với yêu cầu của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế đã đặt ra nhu cầu về phát triển bền vững.

Ở nước ta trước Đại hội XI của Đảng Cộng sản Việt Nam (Đại hội XI), quan điểm về phát triển bền vững cũng đã được nghiên cứu[6] và ghi nhận, cụ thể: Đại hội VII thông qua Chiến lược Phát triển kinh tế – xã hội 1991 – 2000, nhấn mạnh “Tăng trưởng kinh tế phải gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội, phát triển văn hoá, bảo vệ môi trường”. Đại hội VIII nêu bài học “Tăng trưởng kinh tế gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội, giữ gìn và phát huy bản sắc dân tộc, bảo vệ môi trường sinh thái”. Chiến lược Phát triển kinh tế – xã hội 2001 – 2010 thông qua tại Đại hội IX khẳng định “Phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững, tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường”. Đại hội X nêu bài học về phát triển nhanh và bền vững, trong đó ngoài các nội dung phát triển kinh tế, xã hội, môi trường còn bổ sung yêu cầu phát triển toàn diện con người, thực hiện dân chủ và xác định mục tiêu tổng quát của Kế hoạch 5 năm 2006 – 2010 là “Phấn đấu tăng trưởng kinh tế với nhịp độ nhanh, chất lượng cao và bền vững hơn, gắn với phát triển con người”.

 Như vậy quan điểm phát triển nhanh và bền vững đã sớm được Đảng và Nhà nước ta đặt ra với nội dung ngày càng hoàn thiện và đã trở thành một chủ trương nhất quán trong lãnh đạo, xây dựng pháp luật, quản lý, điều hành tiến trình phát triển của đất nước trong những năm qua.[7] Tuy nhiên, có thể thấy trước Đại hội  XI, đa phần các quan điểm của Đảng về phát triển bền vững mới chỉ được ghi nhận chung chung chủ yếu tập trung nhấn mạnh các yếu tố cấu thành của phát triển bền vững mà chưa đưa ra được phương thức, biện pháp để phát triển bền vững đất nước.

Do vậy để tiếp tục thực hiện mục tiêu phát triển bền vững, bên cạnh việc tiếp tục ghi nhận các yếu tố cấu thành phát triển bền vững; đưa nội dung bảo vệ môi trường vào chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển ngành, lĩnh vực, vùng và các chương trình, dự án. Thực hiện nghiêm ngặt lộ trình xử lý các cơ sở gây ô nhiễm môi trường. Khắc phục suy thoái, bảo vệ môi trường và cân bằng sinh thái, nâng cao chất lượng môi trường; xã hội hóa công tác bảo vệ môi trường; hợp tác quốc tế trong bảo vệ môi trường,… các Văn kiện Đại hội XI của Đảng Cộng sản Việt Nam cũng ghi nhận bổ sung nhiều vấn đề mới, như:

Một là, về mặt lý thuyết đã bổ sung thêm cấu thành của phát triển bền vững không chỉ có bền vững về kinh tế, bền vững về xã hội, bền vững về môi trường mà còn cần phải có cả bền vững về văn hóa đồng thời nhấn mạnh việc chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu. Cụ thể: “Tăng trưởng kinh tế phải kết hợp hài hoà với phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, không ngừng nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân…luôn coi trọng bảo vệ và cải thiện môi trường, chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu[8]”.

Hai là, không như các Văn kiện Đại hội trước, Đại hội XI đã xác định rõ trách nhiệm, nghĩa vụ của các chủ thể trong bảo vệ môi trường cũng như cách thức để bảo vệ môi trường: “Bảo vệ môi trường là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, của toàn xã hội và nghĩa vụ của mọi công dân. Kết hợp chặt chẽ giữa kiểm soát, ngăn ngừa, khắc phục ô nhiễm với khôi phục và bảo vệ môi trường sinh thái[9];

Ba là, không chỉ  ghi nhận việc bảo vệ môi trường, Văn kiện Đại hội XI còn nhấn mạnh tới vấn đề phát triển môi trường: “Chú trọng phát triển kinh tế xanh, thân thiện với môi trường. Thực hiện sản xuất và tiêu dùng bền vững; từng bước phát triển năng lượng sạch, sản xuất sạch, tiêu dùng sạch.[10]

Bốn là, khẳng định và đánh giá cao tầm quan trọng của công tác nghiên cứu, dự báo khí tượng thủy văn, đặc biệt là dự báo, ứng phó có hiệu quả với biến đổi khí hậu, nhất là nước biển dâng[11]: Coi trọng nghiên cứu, dự báo và thực hiện các giải pháp ứng phó với quá trình biến đổi khí hậu và thảm họa thiên nhiên. Quản lý, bảo vệ, tái tạo và sử dụng hợp lý, có hiệu quả tài nguyên quốc gia”[12].

Năm là, để hướng tới phát triển bền vững, quản lý nhà nước đóng vai trò quan trọng, tuy nhiên thực tiễn phát triển thiếu bền vững ở nước ta những năm qua, có nguyên nhân từ quản lý nhà nước chưa hiệu quả. Do vậy đổi mới cơ chế quản lý nhà nước về quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường đóng vai trò quan trọng và vấn đề này cũng đã được khẳng định trong Văn kiện Đại hội Đảng XI làm cơ sở cho những đổi mới về pháp luật. Đó là: “Đổi mới cơ chế quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường[13]”.

Sáu là, để thực hiện có hiệu quả hơn nữa công tác xã hội hóa các hoạt động bảo vệ môi trường, Văn kiện Đại hội Đảng XI cũng nhấn mạnh: “phát triển các dịch vụ môi trường, xử lý chất thải[14].

Qua những phân tích trên có thể thấy những điểm mới về quan điểm, đường lối của Đảng đối với phát triển bền vững. Để thực hiện có hiệu quả những đường lối này, cần thể chế hóa trong các quy định pháp luật hiện hành.

2. Pháp luật và thực trạng chính sách, pháp luật môi trường về phát triển bền vững ở Việt Nam

Qua nghiên cứu các văn bản pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật BVMT năm 2005 chúng tôi thấy các văn bản này về cơ bản đã thể chế hoá được một số quan điểm về phát triển bền vững trong Văn kiện Đại hội IX và các Văn kiện trước đó của Đảng:

Thứ nhất, đã thể chế hóa “phát triển bền vững” là một nguyên tắc quan trọng[15] trong Luật Bảo vệ Môi trường[16].

Thứ hai, đã đưa yêu cầu bảo vệ môi trường vào trong toàn bộ quá trình phát triển từ khâu lập chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển thông qua các quy định về lập báo cáo đánh giá môi trường chiến lược (ĐMC)[17]; lập, phê duyệt và thực hiện dự án đầu tư thông qua quy định về lập báo cáo đánh giá tác động môi trường (ĐTM) và cam kết bảo vệ môi trường[18].

Thứ ba, xã hội hóa hoạt động bảo vệ môi trường. LBVMT 2005 đã mở ra khả năng cho các chủ thể thuộc các thành phần kinh tế tham gia vào quá trình ĐTM (Điều 21); khuyến khích và tạo điều kiện cho các tổ chức có năng lực tham gia vào quản lý, xử lý chất thải (Điều 70), vào hoạt động quan trắc môi trường (Điều 95); bảo đảm quyền được biết thông tin về môi trường của mọi tổ chức, cá nhân (Điều 104, Điều 105); đề cao vai trò của các đoàn thể nhân nhân, tổ chức xã hội và mọi người dân trong hoạt động bảo vệ môi trường (Điều 124)…

Thứ tư, Luật đã quy định tương đối cụ thể về trách nhiệm của các cơ quan nhà nước trong bảo vệ môi trường[19].

Thứ năm, khẳng định tính toàn cầu của vấn đề môi trường và bảo vệ môi trường nên hợp tác quốc tế trong bảo vệ môi trường đóng vai trò quan trọng. Vấn đề này đã được thể chế hóa trong Điều 120 Luật Bảo vệ Môi trường năm 2005.

Có thể thấy mặc dù quan điểm về phát triển bền vững đã được tiếp thu ghi nhận trong Luật Bảo vệ Môi trường năm 2005 và các văn bản liên quan, tuy nhiên tổng kết thực tiễn những năm qua cho thấy “kinh tế phát triển chưa bền vững… Môi trường ở nhiều nơi đang bị ô nhiễm nặng; tài nguyên, đất đai chưa được quản lý tốt, khai thác và sử dụng kém hiệu quả…”.[20] Sở dĩ có vấn đề này là do nhiều nguyên nhân trong đó có khung pháp lý về phát triển bền vững nói chung, pháp luật bảo vệ môi trường còn thiếu sót, bất cập:

Một là, mặc dù Luật Bảo vệ môi trường năm 2005 đã coi xã hội hóa hoạt động bảo vệ môi trường là một nguyên tắc của Luật. Tuy nhiên, quá trình cụ thể hóa nguyên tắc này trong pháp luật bảo vệ môi trường còn khái quát, chưa cụ thể, nhất là quy định về xã hội hóa các dịch vụ môi trường và xử lý chất thải dẫn tới thực tiễn sự tham gia của các tổ chức, cá nhân vào thực hiện các dịch vụ này là rất khó khăn.

Hai là, mặc dù đã có những quy định về trách nhiệm của Nhà nước trong bảo vệ môi trường, tuy nhiên Luật Bảo vệ môi trường 2005 chưa quy định rõ ràng trách nhiệm bảo vệ môi trường là của chủ thể nào, nghĩa vụ bảo vệ môi trường là của ai. Điều đó dẫn tới sự chồng chéo, ỷ lại trong quá trình thực hiện pháp luật bảo vệ môi trường trên thực tiễn. Trong khi đó hiện nay, Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 đã xác định: “bảo vệ môi trường là trách nhiệm của Nhà nước và là nghĩa vụ của mọi tổ chức, cá nhân” (khoản 1 Điều 68) thì Dự thảo sửa đổi, bổ sung Luật Bảo vệ Môi trường năm 2005 lại chỉ xác định: “Bảo vệ môi trường là trách nhiệm và nghĩa vụ của mọi tổ chức và cá nhân…”. (khoản 1 Điều 4), không nêu trách nhiệm của Nhà nước. Dự thảo Luật quy định như vậy chưa phù hợp với tinh thần Đại hội XI và Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992.

Ba là, mặc dù có quy định về khuyến khích phát triển năng lượng sạch, năng lượng tái tạo, nhưng có thể khẳng định Luật Bảo vệ Môi trường năm 2005 chưa quan tâm đúng mức đến vấn đề phát triển môi trường, mà cụ thể là phát triển kinh tế xanh là vấn đề đã được nhắc đến trong Văn kiện Đại hội XI,… Đây là một thiếu sót lớn, nhất là trong bối cảnh đất nước ta đang hướng tới mục tiêu phát triển bền vững.

Bốn là, Luật Bảo vệ Môi trường năm 2005 đã có các quy định về dự báo, phòng ngừa, ứng phó, khắc phục và xử lý sự cố môi trường. Tuy nhiên, một vấn đề có tầm quan trọng lâu dài là biến đổi khí hậu thì Luật lại chưa có một quy định nào đề cập tới. Điều này ảnh hưởng đến quá trình thực hiện mục tiêu phát triển bền vững ở nước ta. Do vậy cần nghiên cứu hoàn thiện khung pháp lý về vấn đề này.

Năm là, như đã trình bày ở trên Luật Bảo vệ Môi trường năm 2005 đã có những quy định tương đối cụ thể về trách nhiệm của các cơ quan nhà nước trong bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường, nhưng lại chưa xác định rõ mô hình để quản lý có hiệu quả vấn đề này. Do vậy cần có nghiên cứu để xây dựng mô hình quản lý nhà nước về môi trường có hiệu quả.

Để khắc phục những hạn chế, bất cập nêu trên và thực hiện có hiệu quả chính sách về phát triển bền vững được nêu ra cần phải thể chế hóa các quan điểm mới trong Văn kiện Đại hội Đảng XI vào pháp luật, trong đó có pháp luật về môi trường.

3. Hoàn thiện pháp luật môi trường về phát triển bền vững theo quan điểm Đại hội XI

Thứ nhất, cần có nghiên cứu tổng thể khung chính sách, pháp luật về phát triển bền vững, tiến hành hệ thống hóa các văn bản pháp luật về vấn đề này nhằm xây dựng thống nhất, đồng bộ các quy định trong Luật BVMT với Luật Đa dạng sinh học, Luật Đầu tư, Luật Dầu khí, Luật Bảo vệ và Phát triển rừng, Luật Đất đai… về vấn đề này.

Thứ hai, để thực hiện có hiệu quả quan điểm về phát triển bền vững được ghi nhận trong Văn kiện Đại hội XI, chúng tôi cho rằng cần nghiên cứu bổ sung những vấn đề sau trong pháp luật bảo vệ môi trường:

Một là, cần quy định cụ thể hơn nữa nguyên tắc xã hội hóa hoạt động bảo vệ môi trường trong các chế định của Luật theo hướng tạo điều kiện thuận lợi, bình đẳng giữa các tổ chức, cá nhân tham gia thực hiện phát triển các dịch vụ môi trường, đặc biệt là dịch vụ thu gom xử lý chất thải.

Hai là, về trách nhiệm bảo vệ môi trường. Chúng tôi cho rằng, Dự thảo sửa đổi, bổ sung Luật Bảo vệ Môi trường năm 2005 cần quy định theo hướng xác định rõ trách nhiệm của cơ quan nhà nước trong bảo vệ môi trường như tinh thần của Văn kiện Đại hội XI, Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992. Cụ thể khoản 1 Điều 4 Dự thảo sửa đổi, bổ sung Luật Bảo vệ môi trường nên sửa như sau: “Bảo vệ môi trường là trách nhiệm của Nhà nước và là nghĩa vụ của mọi tổ chức và cá nhân, đảm bảo quyền được sống và quyền yêu cầu được sống trong môi trường trong lành ”.

Bên cạnh đó, cần nghiên cứu đổi mới mô hình quản lý nhà nước về tài nguyên và bảo vệ môi trường theo hướng đề cao trách nhiệm của cơ quan chuyên trách về quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường là Bộ Tài nguyên và Môi trường. Làm rõ trách nhiệm giúp Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường của Bộ Tài nguyên và Môi trường với trách nhiệm tham gia quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường theo phân công, phân cấp của các Bộ, ngành, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, tránh tình trạng bỏ trống hoặc chồng chéo về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn giữa cơ quan này, dẫn tới khi có ô nhiễm môi trường xảy ra thì đùn đẩy trách lẫn nhau.

Ba là, để phát triển bền vững, kinh tế xanh đóng vai trò đặc biệt quan trọng. Bởi nhìn lại thực tiễn một thời gian dài từ khi đổi mới đến nay chúng ta chủ yếu đẩy mạnh phát triển kinh tế theo chiều rộng, phát triển dựa trên nhân công giá rẻ, khai thác tài nguyên để tăng trưởng GDP mà chưa quan tâm đúng mức đến vấn đề môi trường nên hiện nay nước ta đang đối mặt với nhiều thách thức lớn về cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên, ô nhiễm môi trường. Chương trình môi trường Liên Hợp quốc (UNEP) đã đưa ra ý tưởng phát triển “kinh tế xanh” để thực hiện mục tiêu phát triển bền vững: “Đó là nền kinh tế nâng cao đời sống của con người và cải thiện công bằng xã hội, đồng thời giảm đáng kể những rủi ro môi trường và những thiếu hụt sinh thái”. Còn nôm na, kinh tế xanh được phát triển dựa trên các cỗ máy xanh, phát triển kinh tế không những không ảnh hưởng đến môi trường mà còn góp phần phát triển môi trường, nâng cao đời sống người dân, đảm bảo công bằng xã hội,… trong nội hàm phát triển kinh tế xanh cũng đã bao hàm vấn đề phát triển năng lượng mới, năng lượng tái tạo, năng lượng sạch, sản xuất sạch, tiêu dùng sạch,… Phát triển kinh tế xanh cũng đã được nhiều quốc gia trên thế giới ứng dụng như: Brazin, Nhật Bản, Ecuador, Nepal,…và mang lại nhiều lợi ích về kinh tế, xã hội cũng như môi trường bền vững[21]. Ở Việt Nam, Văn kiện Đại hội Đảng XI, cũng đã khẳng định đẩy mạnh phát triển kinh tế theo chiều sâu, “chú trọng phát triển kinh tế xanh, thân thiện với môi trường”[22]. Do vậy chúng tôi cho rằng cần ghi nhận phát triển kinh tế xanh vào Hiến pháp để đảm bảo tính bao quát và tính chiến lược của vấn đề này, đồng thời sự quan tâm của Nhà nước đối với phát triển kinh tế xanh không nên/chỉ dừng lại việc khuyến khích mà Nhà nước cần phải tạo điều kiện để mọi tổ chức, cá nhân được phát triển kinh tế xanh. Cụ thể nên quy định tại khoản 2 Điều 68 như sau: “2… Mọi hoạt động bảo vệ môi trường, phát triển kinh tế xanh của tổ chức, cá nhân được Nhà nước khuyến khích và tạo điều kiện.” Sau đó cần cụ thể hóa vấn đề này trong Luật Bảo vệ Môi trường.

Bốn là, về ứng phó với biến đổi khí hậu đã được khẳng định trong Văn kiện Đại hội XI của Đảng. Do vậy cần thể chế hóa vấn đề này trong các quy định của pháp luật. Hiện nay, vấn đề chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu đã được ghi nhận tại khoản 2 Điều 68 Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 và cũng đã được cụ thể hóa tại Mục 7 Chương II Luật Bảo vệ môi trường năm 2005. Chúng tôi cho rằng chống biến đổi khí hậu là một vấn đề rộng, lớn có tác động và ảnh hưởng lâu dài đến phát triển bền vững của thế giới cũng như Việt Nam. Do vậy về lâu dài cần nghiên cứu ban hành Luật về Chống Biến đổi khí hậu…nhằm tạo cơ sở pháp lý đầy đủ và đồng bộ cho phòng ngừa, ứng phó với biến đổi khí hậu và nước biển dâng.


[1] Hay còn gọi là Báo cáo Our Common Future.

[3] Có nhiều tác phẩm thơ, văn ca ngợi về sự  phát triển của các nhà máy xí nghiệp với các ống khói trọc trời  trong thời kỳ bao cấp là biểu hiện sinh động cho sự phát triển đi lên chủ nghĩa xã hội.

[4] Xem thêm bài: Hiểm họa cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên và ô nhiễm môi sinh của đất nước, của Phạm Phan Long. Nguồn: http://www.vietecology.org/Article.aspx/Article/6.

[6] Xem các nghiên cứu “Tiến tới môi trường bền vững” (1995) của Trung tâm tài nguyên và môi trường, Đại học Tổng hợp Hà Nội; Đề tài “Nghiên cứu xây dựng tiêu chí phát triển bền vững cấp quốc gia ở Việt Nam – giai đoạn I” (2003) do Viện Môi trường và phát triển bền vững, Hội Liên hiệp các Hội Khoa học kỹ thuật Việt Nam; Công trình “Đổi mới chính sách xã hội – Luận cứ và giải giải pháp” (1997) của Phạm Xuân Nam.

[7] Xem thêm: Phát triển nhanh và bền vững là quan điểm xuyên suốt trong chiến lược phát triển KT-XH của đất nước ta, của Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng. Nguồn: http://baodientu.chinhphu.vn/Home/Phat-trien-nhanh-va-ben-vung-la-quan-diem-xuyen-suot-trong-chien-luoc-phat-trien-KTXH-cua-dat-nuoc-ta/20107/33615.vgp.

[8] Xem thêm: Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội năm 2011 – 2020 của Đảng Cộng sản Việt Nam.

[9] Xem thêm: Cương lĩnh xây dựng đất nước thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011).

[10] Xem thêm: Phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội 5 năm 2011 – 2015 và Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội năm 2011 – 2020 của Đảng Cộng sản Việt Nam.

[11] Đây cũng là một trong sáu vấn đề lớn được đưa vào Chương trình nghị sự của Hội nghị Ban chấp hành trung ương lần thứ 7 (TW 7) của Đảng cộng sản Việt Nam.

[12] Xem thêm: Cương lĩnh xây dựng đất nước thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011).

[13] Xem thêm: Cương lĩnh xây dựng đất nước thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) và Phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội 5 năm 2011 – 2015 và Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội năm 2011 – 2020 của Đảng Cộng sản Việt Nam.

[14] Xem thêm: Phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội 5 năm 2011 – 2015 và Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội năm 2011 – 2020 của Đảng Cộng sản Việt Nam.

[15] Xem thêm bài: Nguyên tắc bảo đảm sự phát triển bền vững, của PGS.TS. Phạm Hữu Nghị. Nguồn: Đề tài cấp cơ sở Viện Nhà nước và Pháp luật năm 2008.  

[16] Xem: Điều 4 Luật Bảo vệ Môi trường năm 2005.

[17] Xem: mục 1 Chương III Luật Bảo vệ Môi trường năm 2005.

[18] Xem: tại mục 2, 3 Chương III Luật Bảo vệ Môi trường 2005.

[19] LBVMT 2005 dành chương XIII quy định trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường. Tại chương này đã có các quy định xác định trách nhiệm quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường của Chính phủ, của Bộ Tài nguyên và Môi trường, các Bộ, cơ quan ngang Bộ liên quan, cũng như Ủy ban nhân dân các cấp (Điều 122).

[20] Xem thêm: Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội năm 2011 – 2020 của Đảng Cộng sản Việt Nam.

[21] Xem thêm ấn phẩm: Kinh tế xanh: Có vai trò của Bạn? do Chương trình môi trường Liên Hợp quốc (UNEP) và Bộ Tài nguyên và Môi trường ấn hành. Hà Nội, 2012.

[22] Xem: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb CTQG, HN, 2011, trang 222.
Post a comment or leave a trackback: Trackback URL.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: