Bài đăng Tạp chí nhân quyền tháng 4 năm 2014

BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG MỤC TIÊU PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG

ĐỨC HIỂN – HỒNG THỦY

1. Bảo vệ môi trường và quyền con người

Môi trường cho ta không khí để thở, đất để xây dựng nhà cửa, trồng cây, chăn nuôi; cung cấp các loại tài nguyên khoáng sản phục vụ cho sản xuất và cuộc sống hiện đại của con người. Bên cạnh đó môi trường còn là nơi chứa đựng, đồng hoá các chất thải… của con người và sinh vật. Con người sống hòa hợp với tự nhiên có mối quan hệ biện chứng thống nhất và không thể tách rời, con người không thể tồn tại nếu thiếu các điều kiện cần và đủ của giới tự nhiên và ngược lại giới tự nhiên sẽ khó được cải tạo nếu không có con người. Với chức năng và tính hữu ích như vậy, ngay từ ban đầu môi trường tự nhiên là điều kiện và cơ sở bảo đảm sự sinh tồn, phát triển của con người và các sinh vật trên trái đất.

Nhu cầu đòi hỏi ngày càng cao của con người là phải nâng cao chất lượng cuộc sống, bảo đảm quyền được sống trong môi trường trong lành, bảo đảm sức khỏe môi trường. Trong khi đó, những tác động của ô nhiễm môi trường, của biến đổi khí hậu ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của con người đã và đang là vấn đề đặt ra cho các nhà hoạch định và thực thi chính sách của từng quốc gia về quyền con người (QCN) đối với môi trường cũng như trên quy mô toàn cầu. Do vậy, cộng đồng thế giới thừa nhận môi trường chính là vấn đề của QCN, hay nói cách khác, sống trong môi trường trong lành là một quyền cơ bản của con người.

Cùng với quyền được hưởng hòa bình, quyền phát triển, quyền được sống trong môi trường trong lành đã được LHQ nghi nhận từ những năm 70 của thế kỷ XX và được hưởng ứng tại nhiều nước trên thế giới. Tuy nhiên, tình trạng ô nhiễm, suy thoái và khủng hoảng môi trường toàn cầu đang ở mức đáng báo động. Đó là những thay đổi về khí hậu, suy giảm tầng ôzôn, phá rừng, suy giảm đa dạng sinh học, suy giảm và suy thoái nguồn nước, cạn kiệt tài nguyên do khai thác liên tục, a xít hóa, ô nhiễm và sa mạc hóa… Điều đó đã tác động trực tiếp đến đời sống con người về văn hóa, xã hội, kinh tế và chính trị; đồng thời chính các hoạt động của con người cũng làm cho môi trường bị biến đổi nghiêm trọng trên phạm vi toàn cầu và sự biến đổi này lại gây hại đến đời sống kinh tế, sức khỏe, hưởng thụ quyền cơ bản của con người.

Bảo vệ môi trường (BVMT) là một điều kiện quan trọng để được hưởng các QCN và thực hiện QCN là yếu tố cần thiết để BVMT. Tuyên bố của Hội nghị LHQ tại Stockholm, Thụy Điển năm 1972 đã xác định rằng: Sống trong môi trường trong lành là quyền cơ bản của con người và BVMT là đảm bảo QCN, trong đó có trách nhiệm của mỗi người đối với việc bảo vệ và cải thiện môi trường cho các thế hệ hiện tại và trong tương lai. Hội nghị LHQ về Môi trường và phát triển bền vững năm 1992 tại Rio de Janeiro, Brasil cũng tuyên bố rằng con người “có quyền được sống một cuộc sống lành mạnh và sản xuất trong sự hòa hợp với thiên nhiên”.

Ở Việt Nam, một phần do hậu quả chiến tranh do Mỹ tiến hành; sau khi giải phóng đất nước, nền kinh tế bị kiệt quệ, việc phát triển kinh tế được đặt lên ưu tiên hàng đầu, nên việc bảo vệ môi trường đã có lúc bị xem nhẹ, là mục tiêu thứ yếu của các nhà lập pháp cũng như hành pháp. Nhiều địa phương vì áp lực tăng trưởng đã chấp nhận chào mời những dự án gây ô nhiễm rất lớn hoặc tiêu tốn rất nhiều năng lượng như các ngành luyện kim, xi măng, sửa chữa tàu thủy, khai khoáng… nên tình trạng hủy hoại, gây ô nhiễm môi trường đang là vấn đề nhức nhối của xã hội và không dễ để có thể giải quyết trong ngày một, ngày hai. Mới đây, Ngân hàng Thế giới vừa đưa ra những đánh giá về các hoạt động môi trường, theo đó Việt Nam chúng ta chỉ đạt 59 điểm và xếp thứ 85/163 các nước được xếp hạng. Còn theo kết quả nghiên cứu khác được công bố tại Diễn đàn Kinh tế thế giới Davos, Việt Nam nằm trong số 10 quốc gia có chất lượng không khí thấp nhất. Diện tích rừng thì đang ngày một suy giảm nhanh chóng từ 9,5 triệu ha năm 1975 (chiếm 29% diện tích tự nhiên) đến nay chỉ còn 6,5 triệu ha (tương đương 19,7%); đa dạng sinh học đang bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Chất thải từ các khu công nghiệp, từ hoạt động sản xuất chăn nuôi, từ các làng nghề, từ các hoạt động khai thác khoáng sản làm cho sông ngòi bị ô nhiễm nghiêm trọng. Đặc biệt, nước ta đang dần trở thành bãi rác công nghệ của thế giới với các loại rác điện tử chứa nhiều hóa chất độc hại có thể hủy hoại môi trường. Vì vậy, môi trường sống trong lành cho tất cả mọi người đang là một vấn đề cấp thiết, đó là quyền nhưng cũng chính là nghĩa vụ của chính chúng ta.

2. Bảo vệ môi trường, đảm bảo quyền con người là mục tiêu phát triển bền vững

Đảng và nhà nước ta sớm nhận thức của tầm quan trọng của vấn đề BVMT và phát triển bền vững. Trong những năm qua, Đảng và nhà nước ta đã ban hành nhiều chỉ thị, nghị quyết và không ngừng hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật nhằm kịp thời điều chỉnh các quan hệ xã hội. Đó là “Kế hoạch quốc gia về Môi trường và phát triển bền vững giai đoạn 1991-2000”, đặt tiền đề cho quá trình phát triển bền vững ở Việt Nam. Chỉ thị số 36/CT-TW ngày 25-6-1998 của Bộ Chính trị về tăng cường công tác BVMT trong thời kỳ CNH-HĐH đất nước, trong đó nhấn mạnh: “BVMT là một nội dung cơ bản không thể tách rời trong đường lối, chủ trương và kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội của tất cả các cấp, các ngành, là cơ sở quan trọng đảm bảo phát triển bền vững, thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa”. Văn kiện Đại hội Đảng từ lần thứ IX (2001) và Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội 2001-2010 cũng đã xác định “Phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững, tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội và BVMT. Phát triển kinh tế – xã hội gắn chặt với bảo vệ và cải thiện môi trường, bảo đảm sự hài hòa giữa môi trường nhân tạo với môi trường thiên nhiên, giữ gìn đa dạng sinh học”. Trong Nghị quyết số 41/NQ-TW ngày 15-11-2004, Bộ Chính trị đặc biệt nhấn mạnh quan điểm, mục tiêu và nhiệm vụ bảo vệ môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Đại hội Đảng lần thứ X (2006) đã rút ra 5 bài học kinh nghiệm lớn từ thực tiễn 20 năm Đổi mới, trong đó có “bài học phát triển nhanh và bền vững”.

Cam kết về BVMT và phát triển bền vững trên cấp độ quốc tế, Việt Nam đã phê chuẩn “Công ước khung của LHQ về biến đổi khí hậu” (UNFCC) năm 1994 và phê chuẩn Nghị định Kyoto ngày 17-8-2004. Trên cấp độ quốc gia, Việt Nam đã ban hành luật BVMT năm 1993 (sửa đổi năm 2005) và nhiều quy định pháp lý quan trọng khác về bảo vệ môi trường. Chính phủ tổ chức thực hiện Chiến lược quốc gia về BVMT, đánh dấu một bước đột phá trong công tác quản lý và nhận thức của Chính phủ về vấn đề môi trường. Đặc biệt là Nghị quyết số 24/NQ-TW được Ban Chấp hành Trung ương thông qua tại Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương khóa XI ngày 03-6-2013 về chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường, đòi hỏi pháp luật bảo vệ môi trường phải sớm được cập nhật, sửa đổi, bổ sung.

Mặc dù Việt Nam đã ban hành Luật bảo vệ môi trường năm 1993 và 2005. Nhưng thực sự chưa phát huy được tác dụng như mong muốn. Qua tổng kết 8 năm thi hành Luật Bảo vệ môi trường năm 2005, Chính phủ đánh giá chúng ta đã đạt được những kết quả quan trọng. Tuy nhiên, còn nổi lên một số tồn tại, bất cập như: Một số quy định chưa phù hợp, chưa sát thực tế, thiếu cụ thể dẫn đến chậm đi vào cuộc sống, không theo kịp yêu cầu phát triển của thực tiễn và hội nhập quốc tế; còn những chồng chéo và khoảng trống trong các quy định của pháp luật. Cơ chế, chính sách bảo vệ môi trường chậm đổi mới, chưa đồng bộ với thể chế kinh tế thị trường. Các loại thuế, phí về môi trường chưa phát huy được vai trò công cụ kinh tế điều tiết vĩ mô, hạn chế các hoạt động gây ô nhiễm, suy thoái môi trường, thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội theo hướng tăng trưởng xanh. Chưa tạo ra hành lang pháp lý và môi trường thuận lợi để khuyến khích phát triển ngành công nghiệp, dịch vụ môi trường và sản phẩm thân thiện với môi trường. Quản lý nhà nước về quản lý môi trường chưa phù hợp, giao cho nhiều Bộ, ngành cùng tham gia thực hiện trong khi chưa xác định được nguyên tắc tổ chức bộ máy thống nhất để giải quyết các vấn đề có tính liên vùng, liên ngành.Các quy định của pháp luật mới chỉ chú trọng trách nhiệm từ phía Nhà nước, thiếu cơ chế phù hợp để phát huy hiệu quả sự tham gia của toàn xã hội, từng doanh nghiệp và người dân đối với công tác bảo vệ môi trường. Bộ máy quản lý nhà nước về môi trường chưa tương xứng với chức năng, nhiệm vụ được giao, chưa giải quyết hiệu quả các vấn đề liên ngành, liên vùng, xuyên quốc gia. Đội ngũ cán bộ làm công tác quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường chưa theo kịp được các yêu cầu mới đặt ra, nhất là ở địa phương, cơ sở.

3. Mọi người có quyền được sống trong môi trường trong lành

BVMT, phát triển bền vững lấy con người làm trung tâm đã trở thành một trong những mục tiêu quan trọng trong định hướng chiến lược phát triển kinh tế xã hội Việt Nam giai đoạn 2011-2020; Hiến pháp 2013 đã quy định: “Mọi người có quyền được sống trong môi trường trong lành và có nghĩa vụ bảo vệ môi trường” (Điều 43). Tại kỳ họp thứ 6 Quốc hội khóa XIII, cùng với việc thông qua Hiến pháp năm 2013 thì Quốc hội cũng cho ý kiến về việc sửa đổi Luật BVMT, chủ trương này nhận được sự tán thành của đa số các đại biểu Quốc hội. Quốc hội giao cho Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) tiếp tục chỉ đạo hoàn chỉnh bản Dự thảo để trình Quốc hội xem xét ban hành.

Mới đây, cho ý kiến về Dự thảo Luật BVMT sửa đổi, tại phiên họp thứ 25 của UBTVQH, các thành viên UBTVQH đánh giá các quy định trong dự thảo luật về cơ bản đảm bảo tính hợp hiến, hợp pháp, tính thống nhất và đồng bộ với hệ thống pháp luật liên quan. Tuy nhiên các thành viên UBTVQH cũng đã thảo luận cho ý kiến về các vấn đề còn có ý kiến khác nhau trong dự án Luật BVMT (sử đổi). Trong đó, nhiều ý kiến yêu cầu chỉnh lý quy định về phạm vi điều chỉnh của luật để phù hợp với Hiến pháp 2013. Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật Phan Trung Lý nhận xét: “Hiến pháp đã bổ sung một quyền rất mới là công dân được sống trong môi trường trong lành, nhưng phần về quyền, trách nhiệm của người dân trong bảo vệ môi trường của Dự thảo luật chưa đáp ứng được yêu cầu”. Nhiều ý kiến trong UBTVQH cho rằng, dự thảo luật này có khá nhiều nội dung không thống nhất, “chồng lấn” sang các lĩnh vực ngân sách, tài chính, cần được rà soát, điều chỉnh.

Vấn đề nhập khẩu phế liệu, nhiều ý kiến cho rằng nước ta đang dần trở thành bãi rác công nghệ của thế giới. “Phế là cái bỏ đi, các nước có trình độ khoa học hơn nước ta mà họ bỏ đi thì mình nhập làm gì. Trong Dự thảo có danh mục nguyên liệu nhiều, rộng, kể cả loại không thể tiêu hủy như sắt, thép, nhựa giấy… Tôi cho rằng điều này cần cân nhắc, nếu không chúng ta thành bãi rác của thế giới.”- Chủ nhiệm Ủy ban Ngân sách của Quốc hội Phùng Quốc Hiển nói.

Trong giữ gìn và BVMT thì tài nguyên rừng giữ một vai trò đặc biệt quan trọng, nhưng chưa được đề cập trong Dự thảo. Góp ý về vấn đề này Ông Ksor Phước – Chủ tịch Hội đồng Dân tộc Quốc hội nhấn mạnh: “Rừng có vai trò rất quan trọng, mặc dù đã có quy định trong Luật Bảo vệ và phát triển rừng, nhưng luật gốc phải có quy định để mang tính chỉ dẫn. Mất rừng sẽ mất nhiều thứ, ảnh hưởng khí hậu, cuộc sống, không gian văn hóa… Quy định bảo vệ môi trường rừng cũng là bảo vệ cho tài nguyên khí, đất và khí hậu”.

Về quy định đánh giá tác động môi trường, nhiều ý kiến đồng tình với việc quy định đánh giá tác động môi trường qua 2 bước. Tuy nhiên, có đại biểu cho cho rằng đánh giá tác động môi trường 2 bước có thể dẫn đến sự phức tạp, thủ tục hành chính rườm rà, tốn kém cho doanh nghiệp và đề nghị chỉ cần đánh giá một bước nhưng đảm bảo hiệu quả. Ngoài ra, những nội dung như quy hoạch BVMT, BVMT biển và hải đảo, trách nhiệm quản lý Nhà nước về BVMT cũng được các đại biểu tập trung góp ý. Theo các đại biểu, quy hoạch môi trường cần xem xét tới các nội dung liên quan của các quy hoạch khác như quy hoạch vùng, quy hoạch xây dựng, quy hoạch đô thị.

Trước đó, tại kỳ họp thứ 6 quốc hội khóa XIII, góp ý với việc xác định phạm vi điều chỉnh của Dự thảo Luật BVMT, đại biểu Trương Văn Vở (Đồng Nai), Đỗ Thị Huyền Tâm (Bắc Ninh) đề nghị ban soạn thảo làm rõ trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước và trách nhiệm của người đứng đầu trong công tác BVMT, vì thực tiễn qua tổng kết thực hiện Luật BVMT 8 năm qua đã chỉ rõ yếu kém là việc phân công nhiệm vụ quản lý nhà nước về BVMT còn phân tán, chồng chéo, chưa hợp lý. Trách nhiệm quản lý nhà nước, bộ, ngành, địa phương chưa phân định rõ, còn xung đột.

Xác định BVMT là trách nhiệm và nghĩa vụ của mọi tổ chức, cá nhân. Đại biểu Đỗ Văn Vẻ (Thái Bình) cho rằng, quy định như vậy còn chung chung; cần bổ sung một điều khoản riêng, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân tham gia giám sát hoạt động BVMT của các tổ chức và doanh nghiệp. Vấn đề ứng phó biến đổi khí hậu cần quy định thành chương, mục riêng trong Dự thảo luật và nêu rõ trách nhiệm của từng cá nhân, đơn vị. Hiện nay vấn đề biến đổi khí hậu là chủ đề nóng tại các diễn đàn trong nước và thế giới, cần phải đưa vào Luật BVMT và tách thành một chương riêng, không nên đưa rải rác trong các chương, điều trong Dự thảo luật, việc này phải được lồng ghép trong các chiến lược phát triển kinh tế – xã hội của từng địa phương.

Về vấn đề ô nhiễm môi trường, đại biểu Dương Hoàng Hương (Phú Thọ) cho rằng: Thực trạng ô nhiễm môi trường ở nước ta đang ở mức báo động, vi phạm pháp luật về BVMT diễn biến phức tạp, gây hậu quả nghiêm trọng. Nguyên nhân của tình trạng này do chế tài xử phạt còn chung chung, mức xử phạt vi phạm hành chính còn thấp, chưa đủ sức răn đe. Do vậy, cần bổ sung chế tài xử phạt vi phạm pháp luật về BVMT cụ thể hơn. Việc bảo vệ các thành phần môi trường cần được quy định rõ và đầy đủ từ các nguồn nước, môi trường đất, môi trường không khí cũng như vấn đề BVMT biển và hải đảo… BVMT trong sinh hoạt ở khu dân cư tập trung, khu đô thị và trong từng hộ gia đình.

Kết luận phần thảo luận Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng chủ trì phiên họp yêu cầu cơ quan trình và cơ quan thẩm tra dự án Luật BVMT (sửa đổi) cần bàn bạc, nghiên cứu thêm; tham khảo thêm ý kiến của Ủy ban Pháp luật để trình lại vào dịp khác nhằm hoàn thiện thêm Dự thảo để trình Quốc hội xem xét ban hành, đảm bảo Hiến pháp năm 2013 được cụ thể hóa và đi vào đời sống xã hội; đảm bảo cho mọi người ở Việt Nam thực sự được sống trong môi trường trong lành.■

 

Post a comment or leave a trackback: Trackback URL.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: